Đặt vấn đề

Thuật ngữ giới xuất hiện vào khoảng những năm 1980 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, lịch sử hình thành hay nền tảng lý luận cơ bản để ra đời lý thuyết giới cần được xem xét từ nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt từ sau những năm 1960. Vào những năm 1980, xuất hiện những ấn phẩm, sách báo, tạp chí nghiên cứu thực trạng bất bình đẳng giới và vấn đề giới từ góc độ nhiều chuyên ngành khoa học xã hội (xã hội học, dân tộc học, tâm lý học xã hội…). Kết quả của những nghiên cứu đó là nền tảng cơ bản xây dựng lý thuyết giới ngày nay (Đỗ Hoàng, 2005). Như vậy, chúng ta có cơ sở để phát triển lý thuyết giới như một vấn đề nghiên cứu của xã hội học. Bài viết dưới đây sẽ đưa ra ba cách tiếp cận đương đại trong xã hội học: cơ cấu chức năng, lý thuyết xung đột và tương tác biểu trưng.

Cơ cấu chức năng

Cho đến nay, thuyết cơ cấu chức năng (The Structural Functionalist Perspective) vẫn có thể được coi là một trong những học thuyết lớn nhất trong xã hội học. Bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX và thịnh hành trong suốt thế kỷ XX, ảnh hưởng sâu sắc tới toàn bộ xã hội học hiện đại. Những người xây dựng nền móng cho xã hội học như Auguste Comte (1798-1857) - nhà triết học và xã hội học Pháp, Emile Durkheim (1857-1917) - nhà xã hội học Pháp, Talcott Parsons (1902-1979) - nhà xã hội học Mỹ, H. Spencer (1820-1903) - nhà sinh vật học người Anh… là những người khơi nguồn cho tư tưởng học thuyết cơ cấu chức năng sau này. Thuyết cơ cấu chức năng đề cập tới toàn bộ những vấn đề xã hội, cơ cấu xã hội, sự tương tác xã hội, sự kiện xã hội… Học thuyết bắt đầu với giả thuyết cho rằng xã hội được tạo nên bởi những bộ phận phụ thuộc lẫn nhau, mỗi bộ phận đóng góp vào chức năng chung của xã hội. Vấn đề cơ bản của phân tích chức năng là “những yếu tố, thành tố cụ thể của cơ cấu xã hội đóng góp như thế nào cho sự ổn định của toàn xã hội và chức năng xã hội của thành phần cấu trúc đó là gì?”.

Trong thuật ngữ các vai trò giới, các nhà chức năng tranh luận rằng trong các xã hội tiền công nghiệp, ví dụ xã hội phụ thuộc vào săn bắn và hái lượm, nam giới và phụ nữ hoàn toàn khác nhau trong các vai trò và thực hiện những nhiệm vụ khác nhau bởi điều đó hữu ích cho xã hội. Với vai trò người đi săn, nam giới thường xuyên đi khỏi ngôi nhà của mình, do vậy trọng tâm cuộc sống của họ là trách nhiệm đem lương thực, thực phẩm về gia đình. Vì sự di động của phụ nữ bị hạn chế nhiều hơn do chức năng sinh sản nên phụ nữ dành nhiều thời gian ở gần nhà và thực hiện các chức năng chăm sóc con cái và nội trợ. Một khi điều này được thiết lập, sự phân công lao động này được thực hiện dù đó là xã hội phát triển và đang phát triển. Ngay cả khi phụ nữ có thể tham gia sản xuất nông nghiệp thì họ cũng còn phụ thuộc nhiều vào nam giới về lương thực, thực phẩm và sự bảo vệ. Vai trò chủ đạo của nam giới được thừa nhận tạo nên một hình mẫu mà ở đó các hoạt động của nam giới trở nên có giá trị hơn các hoạt động của nữ giới. Chính vì vậy, những hình mẫu đó trở thành thiết chế hóa và khó biến đổi, nó dựa trên một niềm tin rằng sự phân tầng theo giới là không thể tránh khỏi liên quan đến những khác biệt giới tính sinh học (Hoàng Bá Thịnh, 2008).

Auguste Comte (1798-1857), nhà xã hội học Pháp là một trong những nhà sáng lập bộ môn xã hội học, người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “xã hội học” vào khoa học xã hội. Ông cho rằng, xã hội được định tính bằng sự ổn định và do đó, phải đảm bảo được quyền chủ động, giám sát và quản lý chặt chẽ dưới quyền giám sát của các nhà công nghiệp, linh mục và dưới góc độ giới, phải là nam giới. Nó tồn tại phổ thông và bất biến trong mọi xã hội. Trong trường hợp này, phụ nữ không có vai trò giới (Lê Thị Quý, 2010). Trong khi đặt mục tiêu cho sự phát triển xã hội là phấn đấu cho một sự dung hòa giữa trật tự và phát triển cả hai trong gia đình và xã hội. Comte lấy gia đình như một đơn vị xã hội để nghiên cứu thay vì trước đó ông lấy cá nhân làm đơn vị để nghiên cứu cấu trúc xã hội. Phân tích gia đình với tư cách là một trong những thiết chế xã hội cơ bản, ông tập trung nghiên cứu các thành tố và cấu trúc gia đình, nghiên cứu về mối quan hệ giữa các thành tố như: sự phân công lao động theo giới trong gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, đặc biệt là cha mẹ, con cái, vợ chồng. Comte cũng nhìn thấy trước những mâu thuẫn phát sinh từ quan hệ sở hữu cá nhân và tiến bộ kỹ thuật, hiện trạng bất bình đẳng giữa con người thuộc các nhóm xã hội khác nhau, trong đó có bất bình đẳng giữa nhóm nam và nhóm nữ.

Emile Durkheim (1858-1917) được coi là một trong các lão làng của khoa học xã hội. Tư tưởng của ông được chuyển trực tiếp vào nguồn mạch cơ bản của học thuyết cơ cấu chức năng. Ông đi sâu phân tích tình trạng bất bình đẳng xã hội là một hậu quả của sự rạn nứt giữa các cá thể và xã hội. Đó là sự rạn nứt giữa những cấu tạo tự nhiên của con người và chức năng xã hội của họ. Giống như A. Comte, ông ủng hộ một xã hội ổn định và lành mạnh, tức là ủng hộ mọi trật tự xã hội. Trên cơ sở đó ông coi sự phân công lao động giữa nam giới và nữ giới trong xã hội của mình như là một hiện tượng tự nhiên, một trật tự cần thiết. Làm ngược lại sự phân công này, xã hội sẽ loạn chức năng và trở nên bệnh hoạn (Lê Thị Quý, 2010). Trong cuốn “Nhập môn xã hội học gia đình”, ông giới thiệu những khía cạnh của mối quan hệ vợ chồng, con cái, dòng họ trên các phương diện cá nhân và của cải, trình bày những yếu tố tác động đến ly hôn. Phụ nữ phải chịu sự thống trị và kiểm soát của nam giới trong gia đình và xã hội phụ quyền. Đồng thời, khi phân tích về nạn tự tử, ông cho rằng có sự khác biệt giữa nam và nữ trong vấn đề tự tử, tồn tại mối quan hệ giữa tự tử và tình trạng hôn nhân theo các nhóm tuổi khác nhau. Phụ nữ ít tự tử hơn nam giới do họ ít tham gia vào các lĩnh vực xã hội. Tỷ lệ tự tử nam giới giảm đáng kể sau kết hôn, và ông cũng nhận định, gia đình chính là yếu tố làm hạn chế tỷ lệ tự tử ở cả hai giới. Chính gia đình là sợi dây liên kết gắn con người với xã hội như một loại “xi măng xã hội” và giúp cá nhân giảm bớt các hành vi sai lệch xã hội thông qua mối liên hệ tình cảm và trách nhiệm.             

Talcott Parsons (1902-1979), nhà xã hội học người Mỹ, đại biểu lớn nhất của học thuyết cơ cấu chức năng và cũng là người trình bày rõ ràng nhất về quan điểm cơ cấu chức năng trong vấn đề giới. Ông coi xã hội học là một quá trình con người tiếp cận với những chuẩn mực và giá trị xã hội. Trong việc phân tích “cơ cấu của hành động xã hội”, Parsons đưa ra một sơ đồ nổi tiếng về bốn chức năng cơ bản của hệ thống hành động xã hội, viết tắt là AGIL, bao gồm những hành động mang tính thích nghi (Adaptation - A), hướng đích (Goal Attainment - G), liên kết (Integration - I) và duy trì khuôn mẫu (Latent pattern maintenance - L). Khi phân tích mô hình lý thuyết trên vào phân tích giới, Parsons cho rằng, xã hội hóa giới cần phải tuân thủ các nguyên tắc để hướng phụ nữ và nam giới thực hiện các chức năng đã được quy định sẵn của họ trong cơ cấu ổn định xã hội (Lê Thị Quý, 2010). Tương tự, khi phân tích về vị thế và vai trò giới, Parsons đã trình bày quan điểm giới như là một hiện thực về cơ cấu chức năng, trong đó ông đòi hỏi các vai trò phải tuân thủ tính quy luật và bền vững của hành động xã hội. Vai trò là khuôn mẫu định hướng chung được tạo ra giữa xã hội và các cá thể. Nếu như mỗi vai trò đều chứa đựng một khuôn mẫu chuẩn mực chủ chốt với một vị trí cụ thể trong xã hội cụ thể thì trong vai trò giới cũng như vậy, nam giữ vai trò là công cụ, nữ là biểu cảm.

Trên quan điểm giới và gia đình, Parsons cũng phân tích vai trò giới theo ba đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, là tính phụ thuộc lẫn nhau của các bộ phận thành viên. Ví dụ, trong gia đình truyền thống người chồng cần người vợ để chăm sóc con cái, còn người vợ cần người chồng để làm trụ cột kinh tế. Con cái phải phụ thuộc vào cha mẹ để tồn tại và phát triển. Tất cả các thành viên trong gia đình đều phụ thuộc lẫn nhau để sinh sống. Thứ hai, do các nhóm xã hội có đặc trưng là gắn kết với nhau bởi các giá trị xã hội, nên gia đình với tư cách là một nhóm xã hội cũng như vậy. Sự gắn kết này thể hiện qua những mong đợi, những điều được cho là đáng làm hay những tiêu chuẩn mà xã hội ủng hộ. Thứ ba, là nhu cầu ổn định và cân bằng của các nhóm xã hội, trong đó có gia đình. Theo Parsons, duy trì các khuôn mẫu xã hội và gia đình, hay vai trò xã hội và gia đình là rất cần thiết trong việc bảo đảm sự ổn định của nhóm. Đây là các vai trò được khuyến khích để thực hiện giữ gìn tính ổn định và cân bằng trong gia đình và xã hội (Lê Thị Quý, 2010).              

Về hệ tư tưởng, học thuyết chức năng đã được sử dụng để minh chứng cho sự vĩnh hằng về sự thống trị nam giới và sự phân tầng về giới nói chung. Sự phân tích chức năng về gia đình đã được phát triển và phổ biến rộng trong những năm 1950. Thuyết chức năng đã đem đến một sự giải thích tương đối có lý về nguồn gốc của sự khác biệt vai trò giới và thể hiện sự hữu dụng của chức năng về những nhiệm vụ được quy cho và phân công dựa trên cơ sở của giới (Hoàng Bá Thịnh, 2008). Trong các xã hội công nghiệp hiện nay, phần lớn các gia đình thực sự phản ánh chức năng và gia đình tự bản thân nó không còn là một đơn vị sản xuất kinh tế. Các gia đình có thể được duy trì mà không có sự phân công lao động cứng nhắc như trước đây, điều đó có nghĩa rằng sự chuyên môn hóa trong các chức năng trong gia đình, đặc biệt là sự phân công lao động theo giới, giờ đây là phản chức năng hơn là chức năng.

Lý thuyết xung đột (Conflict theory)

Xung đột là một trong những lý thuyết quan trọng trong tư duy xã hội, được hình thành từ thế kỷ XIX. Hai nhà tư tưởng kinh điển của lý thuyết xung đột là Karl Marx (1818-1883) và Max Weber (1864-1920). Thuyết xung đột nhấn mạnh đến những nguyên nhân của xung đột - đó là sự mâu thuẫn và đối lập nhau về mục đích, quan điểm, nhận thức của các chủ thể hành động. Mâu thuẫn là hiện tượng tồn tại trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, tôn giáo. Cùng một lúc các mâu thuẫn trở nên sâu sắc sẽ tạo ra khu vực khủng hoảng. Biểu hiện của cuộc khủng hoảng xã hội là cường độ căng thẳng xã hội đột ngột mạnh lên và thường trở thành xung đột. Marx và Weber đều cho rằng, khi sự mâu thuẫn về lợi ích đã đến mức không thể dung hòa được sẽ làm nổ ra một cuộc xung đột mới hoặc kết thúc cuộc xung đột cũ.

Max Weber lý giải sự bất bình đẳng từ góc độ xung đột văn hóa. Theo ông, ở những nền văn hóa khác nhau thì các hành vi của con người bị chi phối bởi những hệ giá trị khác nhau. Các ví dụ về phụ nữ đạo Hồi che mặt, bị đối xử như nô lệ với phụ nữ tự do ở các nước phương Tây và các nước khác là do sự khác biệt về văn hóa. Phân tích xung đột xã hội dưới tác động của quá trình phân hóa xã hội, Janet Chafetz lại tiếp cận vấn đề giới theo hướng coi đó như là hệ quả của sự phân tầng về văn hóa mà Janet Chafetz gọi là “văn hóa chéo và diễn dịch lịch sử”. Đưa quan điểm giới vào phân tích những khuôn mẫu xã hội đặc thù cụ thể là bất bình đẳng giới, Janet Chafetz cho rằng, các cấu trúc và điều kiện xã hội đã ảnh hưởng tới các cấp độ của phân tầng giới. Đó chính là sự phân biệt về vai trò giới, ý thức hệ gia trưởng, gia đình, tổ chức lao động, khuôn mẫu sinh sản… người phụ nữ chịu đựng sự bất lợi ở mức thấp nhất khi họ có thể cân bằng các trách nhiệm nội trợ với vai trò sản xuất.

Randall Collins (1941) biện lý rằng, bất bình đẳng giới khác nhau trong các loại xã hội nhưng xác định ba thực tế xã hội bất biến ấn định phụ nữ là tài sản tình dục của nam. Mọi người đều có ham muốn mạnh mẽ thỏa mãn tình dục và sức kháng cự mạnh mẽ với sức ép. Điều thứ ba đàn ông thường to khỏe hơn đàn bà, “… do vậy đàn ông trở thành kẻ xâm chiếm tình dục và nữ nói chung ở vào vị thế phòng thủ” (Collins, 1975). R. Collins còn biện luận rằng, càng tập trung lực lượng và quyền lực chính trị trong phạm vi hộ gia đình lớn bao nhiêu thì nam giới càng có quyền lực lớn bấy nhiêu đối với phụ nữ “về mặt lao động thấp kém (không cần kỹ năng gì), khác biệt nghi lễ và chuẩn mực đạo đức về tình dục” (Collins, 1975). R. Collins nhận thấy phụ nữ bị thống trị có nguồn gốc từ sinh học, nhưng là một sinh học gắn với tiếp cận tình dục đối lập với sinh sản và tài sản tư nhân. Cấu trúc kinh tế và chính trị làm trung gian hòa giải cho sự phục tùng này với tình trạng bất bình đẳng cao nhất tồn tại trong các hộ gia đình của các xã hội tiền công nghiệp và có sự phân tầng. Tỷ lệ bất bình đẳng thấp nhất là trong các xã hội có thị trường lao động phong phú, tùy thuộc mức độ bình đẳng của phụ nữ về địa vị kinh tế. Trong cách diễn đạt đơn giản, nam giới có một sự thuận lợi kinh tế hơn nữ giới và sự phân chia này là cơ sở cho bất bình đẳng giới. Nam giới chiếm một lĩnh một vị trí kinh tế tuyệt đối từ xã hội đến gia đình. Sự thống trị của nam giới với phụ nữ sẽ còn mãi mãi, trừ khi lao động gia đình có được một số dạng giá trị tiền mặt.

Với cách tiếp cận của các quan điểm trên, các nhà “nữ quyền Macxit” lại cho rằng, phụ nữ không bình đẳng với nam giới không phải vì bất kỳ xung đột cơ bản và trực tiếp nào về mối quan tâm giữa hai giới mà vì sự bất bình đẳng về tài sản, sự bóc lột lao động, sự tha hóa trong môi trường bị áp bức giai cấp. Dù ở bất cứ giai cấp nào họ cũng bị thiệt thòi hơn nam giới. Do vậy việc xóa bỏ áp bức phụ nữ chỉ có thể thực hiện song hành với việc xóa bỏ áp bức về giai cấp. Quan điểm của Hacker với nghiên cứu kinh điển của bà xem phụ nữ như là nhóm thiểu số. Bằng sự so sánh với các nhóm chủng tộc thiểu số, Hacker chứng minh rằng phụ nữ chia sẻ những đặc điểm tương tự. Bên cạnh sự phân biệt đối xử, phụ nữ bị “giam” trong những công việc tĩnh lặng và đơn điệu khi họ tham gia trong lĩnh vực kinh tế, họ chiếm một tỷ lệ lớn trong xã hội và họ được xác định trên cơ sở của những phẩm chất có sẵn. Nhiều nam giới muốn giữ hệ thống bất bình đẳng giới, vì họ tin rằng họ sẽ mất nhiều quyền lợi và quyền lực trong xã hội bình đẳng. Như vậy, chúng ta có thể thấy phân tích này đã đem lại một khung hữu ích mà ở đó quan điểm xung đột có thể dễ dàng áp dụng với cái mà hiện nay liên quan đến như là phi truyền thống hoặc những nhóm thiểu số khác bao gồm người già, người tàn tật, tình dục đồng tính và những người khác.

Hiện nay, việc quy chiếu những quan điểm về xung đột xã hội của các nhà xã hội học vào việc tiếp cận giới đã khiến cho việc giải quyết những bất bình đẳng giới có được những nội dung và hình thức hoạt động quyết liệt hơn. Việc so sánh xung đột giai cấp với những xung đột về giới, mặc dù là kiên cưỡng, nhưng trên thực tế lại tạo ra động lực đấu tranh mạnh mẽ hơn cho phong trào phụ nữ và bình đẳng giới.

Tương tác biểu trưng (Symbolic Interactionism)

Đại diện tiêu biểu của thuyết tương tác biểu trưng là nhà xã hội học người Mỹ George Herbert Mead (1863-1931). Công trình của G. Mead có nguồn gốc từ trường phái Chicago đã ảnh hưởng mạnh đến xã hội học ở Mỹ trong nửa đầu thế kỷ XX. Những gì mà G. Mead nêu lên từ cách đây gần một thế kỷ về vai trò của tri thức, học vấn, về khả năng tiếp nhận và sáng tạo của các chủ thể thông qua sự tương tác giữa các khái niệm rất đáng quan tâm trong nền kinh tế tri thức. Là người đặt nền móng cho thuyết tương tác biểu trưng trong xã hội học, G. Mead và học trò của ông sau này đều đề cao vai trò sáng tạo của tư duy và nhận thức của con người thông qua sự tiếp cận và trao đổi tri thức với những người khác. Thuyết tương tác biểu trưng là quan điểm tập trung vào nội tâm cá nhân và mối quan hệ giữa cá nhân và cấu trúc, thường được nói đến là xã hội học vi mô. Điều quan trọng của thuyết tương tác biểu trưng là sự công nhận ý nghĩa ảnh hưởng qua lại giữa cấu trúc xã hội được xác định là quá trình và thói quen hoặc hình thức tác động qua lại và cá nhân (Mead, 1934). Cách giải thích này tập trung vào ý nghĩa tượng trưng gắn với đời sống xã hội và có ý nghĩa sâu sắc để hiểu được phụ nữ trong xã hội.

Khác với thuyết cơ cấu chức năng và thuyết xung đột, tiếp cận từ một quan điểm xã hội hoặc thiết chế rộng lớn, tiếp cận hẹp hơn, liên quan đến khung tâm lý học xã hội. Mô hình tương tác được dựa trên sự giả định rằng xã hội được tạo ra và duy trì thông qua sự tương tác của các thành viên của nó và các thành viên xác định thực hiện như thế nào. Quá trình thỏa thuận này được thể hiện trong tuyên bố kinh điển của William I. Thomas (1863-1947) mà nay trở thành định lý Thomas. Được phát triển bởi G.H. Mead, tương tác biểu tượng là những sở thích, quan tâm trong những ý nghĩa con người gán cho những hành vi riêng của họ cũng như hành vi của những người khác. Các thành viên của nhóm phản ứng với người khác trên cơ sở sự chia sẻ những ý nghĩa và sự giải thích về hành vi. Do vậy, con người không tương tác một cách “tự động” đối với người khác, mà thay vào đó họ chọn lựa cẩn thận trong một số những quan điểm phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể. Đồng quan điểm này Max Weber cho rằng: Con người sống trong sự tương tác xã hội. Bản chất của tương tác xã hội là thông qua sự tương tác của khái niệm. Không có các khái niệm, con người không thể giao tiếp và quan hệ với nhau được. M. Weber cũng cho rằng, khi nghiên cứu xã hội thì không thể bỏ qua việc nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và kể cả sự biến đổi của các khái niệm, hiểu được con người đã sử dụng các khái niệm ra sao? Các khái niệm này tương tác với nhau như thế nào?.

Xã hội càng hiện đại thì khả năng tư duy của con người càng phát triển. Bởi vậy, người ta cũng cần phải nghiên cứu bản thân sự phát triển của tư duy thế nào. Tư duy phối hợp và tương tác với nhau để phát triển tư duy lên mức cao hơn. Nhưng những công cụ cho tương tác xã hội và cho chính tư duy lại được gửi gắm qua những biểu tượng. Đó là những cử chỉ của cơ thể hay ngôn ngữ được thấu hiểu bởi cả hai đối tượng giao tiếp (người truyền và người nhận). Biểu tượng không bình đẳng trong những trường hợp có sự phân biệt giai cấp, chủng tộc và giới thể hiện trong các biểu hiện không chỉ bằng lời nói mà còn từ thái độ ứng xử, cách nhìn, cách dạy và học. Liên hệ quan điểm này chúng ta thấy, trong hoàn cảnh mà vị thế không bình đẳng giữa nam và nữ còn đang tồn tại thì biểu hiện của bất bình đẳng giới vẫn là phụ thuộc, tự ti và ngược lại, nam giới là tự tin, lãnh đạo và độc lập. G. Mead đặc biệt ủng hộ quan điểm cho rằng, cá nhân được sinh ra trong xã hội như thế nào thì họ cũng tuân thủ và phát triển bất kỳ vai trò giới nào mà họ đang đóng trong xã hội đó. Từ các nghiên cứu của G. Mead khi ông quan sát những người trong bộ lạc theo mẫu hệ Mudugumor, những người được coi là làm theo cách của phụ nữ và so sánh với người Tchambuli, những người có các hành vi và quy chuẩn văn hóa khác với chúng ta, ông nhận thấy ở những xã hội này, nam giới được xem như là mỏng manh, dễ xúc động còn phụ nữ thì mạnh mẽ và quản lý tốt. Theo ông những bản chất trên là do quan niệm xã hội chứ không phải do bản thân giới tính. Như vậy, những quan điểm có tính phương pháp luận về sự tương tác giữa cá nhân với cá nhân và trong nhóm về hướng tiếp cận tương tác biểu trưng của G. Mead có thể được vận dụng tốt trong nhận thức và nghiên cứu giới. Nó nhấn mạnh tới sức mạnh của các hoạt động thông tin, giao tiếp và khả năng vận động quần chúng (đặc biệt là phụ nữ) trong nghiên cứu và hành động về giới hướng tới bình đẳng.

Một số hướng vận dụng tri thức giới trong giảng dạy và nghiên cứu ở Việt Nam

Bình đẳng giới ở Việt Nam đã được thừa nhận trên luật pháp, đã được thực hiện qua một số chính sách cụ thể. Tuy nhiên trong đời sống xã hội, phong tục, tập quán, lối sống và thói quen của người dân, vấn đề này chưa được giải quyết triệt để. Vì vậy, hướng tiếp cận nghiên cứu giới trong tương lai cần mở rộng nghiên cứu trên cả bề rộng và bề sâu. Cần tập trung nghiên cứu và giải quyết các vấn đề mũi nhọn, mang tính cấp thiết, mặt khác cần xây dựng một hệ thống nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu lý thuyết, xây dựng những quy chuẩn nghiên cứu chặt chẽ từ các vấn đề lý luận, phương pháp luận, phương pháp tiếp cận đến những kỹ thuật nghiên cứu. Trong nghiên cứu từ góc độ xã hội học, cần mở rộng hơn nữa những nghiên cứu lý luận kết hợp với nghiên cứu thực nghiệm. Trong nhiều năm qua, nghiên cứu về phụ nữ, về giới mới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu thực nghiệm, thông qua các cuộc điều tra xã hội học về một đề tài cụ thể, các tác giả cố gắng tìm hiểu thực trạng cuộc sống, nhận thức, hành vi của nam và nữ (trong đó nhấn mạnh tới phụ nữ) trong bối cảnh kinh tế thị trường để đưa ra một số kiến nghị và giải pháp thực tiễn mà chưa khái quá lên thành những vấn đề có tính lý luận, nghĩa là mới dừng ở việc mô tả cuộc sống bên ngoài của đối tượng mà chưa có những phân tích sâu vào bản chất của vấn đề nghiên cứu. Trong khi đó, thời lượng được phép giảng dạy về giới trong các trường đại học lại quá ít, không đủ chuyển tải các hệ thống lý thuyết, phạm trù, khái niệm xã hội học giới cho sinh viên. Việc đọc tài liệu bằng tiếng nước ngoài của giảng viên và sinh viên còn rất hạn chế, đặc biệt là việc khai thác nguồn tư liệu trên mạng Internet còn rất hiếm hoi (Lê Thị Quý, 2010).

Để thực hiện tốt những nghiên cứu xã hội học về giới trong thời gian tới, cần tăng cường một số biện pháp như sau:

-                      Mở rộng hợp tác khoa học giữa các tổ chức nghiên cứu trong nước trên vấn đề giới. Những năm trước đây, việc hợp tác khoa học trong nước còn rời rạc hoặc chưa đạt hiệu quả cao. Nhiều cơ quan cùng nghiên cứu một đề tài nhưng không có sự trao đổi, hợp tác nên trùng lặp, gây lãng phí.

-                      Phối hợp những nghiên cứu trong nước với trao đổi, hợp tác khoa học với nước ngoài trên vấn đề giới.

-                      Tăng cường tổ chức các hội nghị, hội thảo, trao đổi khoa học giữa các cơ quan trong nước hoặc quốc tế. Đây là biện pháp quan trọng trong việc tạo điều kiện cho nhiều nhà khoa học trong nước có cơ hội được tiếp xúc với nhiều nhà khoa học nước ngoài và các công trình nghiên cứu của họ được hội nhập với mạng lưới nghiên cứu quốc tế.

-                      Tăng cường công tác đào tạo, đặc biệt chú ý đến những sinh viên, cán bộ trẻ có năng lực và có sự say mê nghiên cứu. Các trường đại học, viện nghiên cứu cần tạo điều kiện cho sinh viên được tham gia nghiên cứu khoa học bằng các đề tài, dự án cụ thể.

-                      Xuất bản các ấn phẩm dưới nhiều hình thức như sách, báo, tạp chí, thông tin khoa học trong và nước ngoài có liên quan về vấn đề giới. Xây dựng hệ thống dữ liệu, trang thông tin về giới, nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy, tham khảo tư liệu cho các vấn đề mà người đọc quan tâm.

Tài liệu tham khảo

-                      Mai Huy Bích (2003), Xã hội học gia đình, Nxb Khoa học Xã hội.

-                      Đỗ Hoàng (2005), thuyết gi i phâ n tích t c đ Tâ m lý hc xã hi, Đại học Quốc gia Hà Nội.

-                      Mead, George Herbert (1934). Mind, Self and Society, Chicago: University of Chicago Press.

-                      Goode, W (1982). The Family, Second Edition, Englewood Cliffs: Prentice Hall.

-                      Lê Thị Quý (2010), Giáo trình xã hội học giới, Nxb Giáo dục Việt Nam.

-                      Lê Ngọc Văn (2012), Gia đình và biến đổi gia đình ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội.

-                      Hoàng Bá Thịnh (2008), Giáo trình xã hội học giới, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

 

-                      Collins, R. (1975), Conflict sociology, New York: Academic Press.

Đoàn Văn Trường*



* Giảng viên Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa.

 

Liên kết