Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của phụ nữ trong gia đình: thực trạng và giải pháp (nghiên cứu trường hợp An Giang)

Giới thiệu

Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng, bất bình đẳng giới trong gia đình thường thể hiện qua các hoạt động phân công lao động theo giới trong gia đình, quyền quyết định của vợ chồng trong gia đình (Lê Thi, 2008; Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh, 2008). Khá nhiều nghiên cứu đã tìm kiếm và nhận diện các yếu tố tác động đến sự phân công lao động theo giới trong gia đình (Trần Thị Vân Anh và Nguyễn Hữu Minh, 2008; Nguyễn Hữu Minh, 2008; Lê Ngọc Văn, 2008; Vũ Mạnh Lợi, 2004). Một trong những nguyên nhân khiến cho phụ nữ ít có quyền quyết định trong gia đình là do cơ hội và tiếp cận các nguồn lực. Điều đã được các nhà nghiên cứu nữ quyền chỉ rõ rằng, trong chế độ gia trưởng, người đàn ông luôn được xem là siêu việt. Phụ nữ bị kiểm soát bởi đàn ông và là một phần tài sản của người đàn ông. Dù ở hoàn cảnh nào, người phụ nữ vẫn bị kiểm soát bởi đàn ông. Sự kiểm soát đó thông qua các lĩnh vực pháp luật, kinh tế, chính trị…(Lê Ngọc Văn, 2006).

Như vậy, cơ hội và tiếp cận nguồn lực của phụ nữ trong gia đình là một trong những vấn đề cần được quan tâm bởi lẽ việc nhận diện thực trạng cũng như yếu tố tác động đến cơ hội tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của phụ nữ sẽ giúp có được những giải pháp hiệu quả nâng cao cơ hội cho phụ nữ, góp phần mang lại bình đẳng giới và hướng đến xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững. Bài viết sử dụng kết quả khảo sát 280 hộ gia đình ở An Giang, trong đó 162 hộ gia đình ở thành phố Châu Đốc (57,9%) và 118 hộ gia đình ở huyện Thoại Sơn (42,1%); 156 nam giới (55,7%) và 124 nữ (44,3%) tham gia khảo sát.

Thực trạng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực của phụ nữ trong gia đình ở An Giang

Nguồn lực là một trong những yếu tố cơ bản đối với sự phát triển của con người nói chung và người lao động nói riêng. Trong nghiên cứu về giới hiện nay, các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến cơ hội tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực của phụ nữ và nam giới. Các nghiên cứu trước đây cho rằng, đây chính là nguyên nhân đã khiến địa vị của người phụ nữ bị giới hạn trong gia đình. Điều này có nghĩa rằng, giữa địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới với cơ hội tiếp cận, kiểm soát các nguồn lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực ảnh hưởng đến uy quyền của con người một cách rõ rệt.

Nguồn lực có thể được hiểu bao gồm các yếu tố kinh tế hoặc những tài nguyên cho sản xuất như đất đai, trong thiết bị, công cụ, lực lượng lao động, tiền mặt hoặc tín dụng, khả năng nghề nghiệp, kỹ năng tìm kiếm thu nhập, hoặc các nhân tố chính trị như đại diện các tổ chức, sự lãnh đạo, giáo dục, thông tin, thời gian… Như vậy, kiểm soát nguồn lực là năng lực xác định nguồn lực và áp dụng cách sử dụng nguồn lực ấy. Ví dụ trong đất đai, kiểm soát là khả năng quyết định sử dụng đất như thế nào, sử dụng sản phẩm của nó như thế nào, có thể cho thuê, thế chấp, cho thừa kế, bán...

Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của phụ nữ trong sản xuất

Bảng 1 cho thấy, cả hai vợ chồng đều có khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực. Tuy nhiên, hầu hết nam giới chiếm tỷ lệ áp đảo so với phụ nữ ở tất cả các nguồn lực. Điều này cho thấy, mặc dù cơ hội luôn trải đều cho cả hai giới; song nam giới có cơ hội để tiếp cận các nguồn lực trên nhiều hơn so với phụ nữ. Chẳng hạn như đối với nguồn lực là đất sản xuất, nam giới có cơ hội tiếp cận và kiểm soát là 24,8% so với 4,8% của nữ giới. Hiện tượng này được lý giải theo truyền thống, người đứng tên chủ sở hữu nhà cửa đất đai được đăng ký theo tên chủ hộ. Ở Việt Nam, khoảng gần 80% chủ hộ là nam giới so với 20% chủ hộ là nữ giới, do đó trên thực tế phần lớn nam giới là người đứng tên trên giấy tờ nhà và đất. Đặc biệt ở nông thôn đa số trường hợp nhà ở và đất ở là tài sản thừa kế do bố mẹ chia cho con trai khi họ lập gia đình và tách ra ở riêng, do vậy tỷ trọng nam giới đứng tên chủ sở hữu nhà ở là rất cao.

Bảng 1. Tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong sản xuất (%)

Nguồn lực

Vợ

Chồng

Cả hai

Tổng

Đất sản xuất

4,8

24,8

70,4

100

Nhà ở

4,0

13,7

82,3

100

Vốn

6,8

20,7

72,5

100

Kỹ thuật thông tin

2,3

19,1

78,6

100

  


Có thể nói, kết quả của nghiên cứu này cũng tượng tự với các nghiên cứu trước đó rằng, cả người vợ và người chồng đều có xu hướng tiếp cận phần lớn các nguồn lực, nhưng người chồng có vai trò quyết định trong kiểm soát các nguồn lực quan trọng của gia đình. Người vợ có ít quyền hơn đối với các tài sản lớn của gia đình như đất đai, nhà ở, phương tiện sản xuất... Cụ thể, số liệu Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam (1998-2000), 79,7% hộ gia đình ở đồng bằng và 82,1% hộ gia đình ở trung du - miền núi có nam giới là người đứng tên sở hữu nhà ở và đất ở, còn ở thành phố, tỷ lệ này chiếm 49,8%. Cũng tương tự như vậy, 78,9% người đứng tên giấy chứng nhận quyền sở hữu đất canh tác của các hộ gia đình nông thôn là người chồng và không có sự khác biệt đáng kể giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số (Lê Ngọc Văn, 2011).

Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của phụ nữ trong đời sống hàng ngày của gia đình

Nghiên cứu không chỉ phân tích cơ hội tiếp cận và kiểm soát nguồn lực trong sản xuất mà còn xem xét việc tiếp cận và kiểm soát lợi ích trong đời sống hàng ngày của gia đình. Mục đích của việc xem xét này là để trả lời cho câu hỏi “liệu có sự khác biệt trong cơ hội tiếp cận và kiểm soát lợi ích của vợ và chồng trong gia đình”. Kết quả khảo sát cho thấy, cơ hội tiếp cận và kiểm soát nguồn lực dường như vẫn theo khuôn mẫu giới.

Bảng 2. Cơ hội tiếp cận và kiểm soát các lợi ích trong gia đình

Lợi ích trong gia đình

Vợ

Chồng

Cả hai

Tổng

Tiền mặt

33,5

22,9

43,6

100

Trang sức, quần áo

58,0

8,8

33,2

100

Đồ dùng gia đình có giá trị (xe máy…)

9,9

26,3

63,8

100

Giáo dục

11,3

19,0

69,7

100

 

Trong Bảng 2, người trả lời đều thống nhất khá cao về tỷ lệ nam giới và phụ nữ có khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực cơ bản trong đời sống hàng ngày của gia đình. Theo kết quả này, dường như có sự bình đẳng trong việc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực trong đời sống hàng ngày. Phụ nữ thường kiểm soát tiền mặt, trang sức, quần áo nhiều hơn, trong khi nam giới thường tiếp cận và kiểm soát những đồ dùng gia đình có giá trị (xe máy...), giáo dục cao hơn so với phụ nữ (tỷ lệ này lần lượt là 26,3% và 9,9%; 19,0% và 11,3%). Điều này khá phù hợp với khuôn mẫu truyền thống, phụ nữ thường là người "tay hòm chìa khoá"- là người giữ tiền trong gia đình. Nguyên nhân sâu xa của nó bắt nguồn từ sự phân công lao động trong gia đình. Nam giới luôn có cơ hội sử dụng và kiểm soát các lợi ích cơ bản những lĩnh vực mang tính chất quyết định, còn phụ nữ chỉ tham gia mang tính chất hỗ trợ hoặc chủ yếu đảm nhận ở các khâu giản đơn hay công việc chăm sóc con cái, gia đình….Như vậy, bằng chứng nghiên cứu này đã góp phần khẳng định quan niệm của Robert Blood và Donald Wolfe rằng, nam giới có cơ hội tiếp cận nguồn lực học vấn nhiều hơn phụ nữ, cho nên cán cân quyền lực trong gia đình thường nghiêng về nam giới. 

Như vậy, so với nam giới, phụ nữ chỉ có kiểm soát các lợi ích theo khuôn mẫu giới truyền thống. Có lẽ, những giá trị, chuẩn mực xã hội đã được “mặc định” và “lập trình” cho mỗi giới trong gia đình. Chính vì thế, nó đã ảnh hưởng đến tiếng nói của mỗi giới trong gia đình. Nam giới thường có uy quyền hơn phụ nữ trong gia đình.

Một số kiến giải về tiếp cập và kiểm soát các nguồn lực của phụ nữ trong gia đình

Từ quan điểm nữ quyền, các nhà nữ quyền phân tích việc tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của phụ nữ thông qua mối quan hệ quyền lực bất bình đẳng trong gia đình. Tác giả Lê Ngọc Văn (2006) trong nghiên cứu quan niệm của Gerda Lerner cho thấy, gia đình đóng vai trò tạo ra hệ thống tôn ti trật tự và giữ trật tự trong xã hội, bởi vì gia đình không chỉ phản chiếu trật tự nhà nước và giáo dục con cái của họ tuân thủ trật tự đó mà còn tạo ra và củng cố vững chắc trật tự đó. Hay nói cách khác, quyền lực trong gia đình được củng cố thông qua quá trình tương tác giữa các thành viên của gia đình. Cơ sở của quyền lực bất bình đẳng trong gia đình là do sự kiểm soát của đàn ông đối với cuộc sống của phụ nữ. Theo Kamala Bhasin (1993), đàn ông kiểm soát cuộc sống của phụ nữ thông qua các lĩnh vực (1) kiểm soát quyền sản xuất và lao động của phụ nữ; (2) kiểm soát quyền tái sản xuất của phụ nữ và (3) kiểm soát toàn bộ tình dục của phụ nữ. Chính sự kiểm soát đó đã tạo ra mối quan hệ không bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong gia đình. Hệ quả của nó là bạo lực gia đình. Bởi theo quan niệm của Jan Pahl (1980), bạo lực thể chất của đàn ông chống lại phụ nữ trong gia đình thường gắn với quyền kiểm soát của đàn ông về kinh tế (Lê Ngọc Văn, 2006). Như vậy, mô hình quyền lực trong gia đình thường gắn với sự kiểm soát và tiếng nói của phụ nữ và nam giới, ai có quyền kiểm soát càng nhiều thì quyền lực sẽ thuộc về phía người đó. Thông thường, trong gia đình truyền thống, người đàn ông có quyền lực hơn phụ nữ và điều này vẫn hiện hữu ở gia đình Việt Nam hiện nay. Vì thế, việc vận dụng những hạt nhân của lý thuyết nữ quyền về quan hệ giới vào nhận diện thực trạng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của phụ nữ trong gia đình ở An Giang hiện nay là hoàn toàn thỏa đáng.

Từ quan điểm của Mác và Ăngghen. Chế độ sở hữu tư nhân ra đời cùng với việc xác lập gia đình cá thể và chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Phân công lao động theo giới đã có sự thay đổi, đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của sở hữu tư nhân và tác động của nó đối với sự thay đổi của địa vị phụ nữ và nam giới: "Giống như sự sản xuất, sự gia tăng giàu có, quyền sở hữu tư nhân hiện lên và đàn ông trở thành quan trọng hơn trong gia đình. Họ đã sử dụng địa vị đã được tăng cường để đánh bại hoàn toàn mẫu quyền theo chế độ mẫu hệ trong sự có lợi cho chế độ phụ quyền" (C. Mác và Ph. Ăngghen, tập 6, 1984).

Nền đại công nghiệp có thể mở đường cho phụ nữ vô sản tham gia trực tiếp vào nền sản xuất xã hội với tư cách là một nguồn lao động thực thụ. Tuy nhiên, ngay từ thời đó, sự căng thẳng nếu người phụ nữ vô sản vừa đảm đương công việc gia đình, vừa đảm đương công việc xã hội được đề cập. Bộ "Tư bản" cũng nêu lên những khó khăn khi người nữ công nhân tham gia lao động ngoài gia đình để kiếm thêm thu nhập. Mác viết: "Nhưng nếu cho rằng cả người mẹ cũng có tiền công, thì như vậy là làm cho công việc nội trợ mất bà chủ lãnh đạo; vậy thì ai trông nom nhà cửa, chăm sóc con nhỏ? Ai nấu nướng, giặt giũ, khâu vá? Đó là một vấn đề khó giải quyết" (C. Mác và Ph. Ăngghen, tập 6: Trang 209). Đây là một trong những thử thách lớn của phụ nữ trước cơ hội thay đổi sự phân công lao động theo giới do xã hội công nghiệp mang lại. Điều này không chỉ đúng với thời đại của Mác và Ănghen mà còn đúng với thực trạng của phụ nữ trong xã hội công nghiệp hiện nay.

Như vậy, sự tham gia của phụ nữ trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực rất hạn chế và chỉ tập trung vào một số yếu tố gắn liền với địa vị do khuôn mẫu giới truyền thống ấn định. Điều này cho thấy nam giới là người có lợi thế trong việc phát huy quyền lực và sức mạnh của mình từ vị thế chủ hộ và địa vị của đàn ông trong hệ tư tưởng gia trưởng. Phụ nữ một lần nữa lại chịu thiệt thòi do có những đóng góp trong gia đình và xã hội nhưng không có quyền tương xứng với nam giới trong kiểm soát các nguồn lực và lợi ích. Do đó, cần có những giải pháp để nâng cao việc tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của phụ nữ trong gia đình, góp phần thực hiện bình đẳng giới và tiến tới xây dựng gia đình “ấm no, bình đẳng và hạnh phúc”.

Gợi ý một số giải pháp nâng cao việc tiếp cận và kiểm soát nguồn lực của phụ nữ trong gia đình

Thay đổi chương trình truyền thông và giáo dục về giới theo cách trước đây. Hầu hết các chương trình quảng cáo, truyền thông, thậm chí các chương trình giảng dạy cho học sinh các cấp thường gắn việc nhà, chăm sóc con cái với hình ảnh của người phụ nữ. Chính điều này đã hằn sâu trong suy nghĩ của nhiều thế hệ rằng, phụ nữ phải đảm đang và gánh vác mọi việc trong gia đình. Để thay đổi tư duy này, cần xây dựng các chương trình truyền thông, tuyên truyền mang tính nhạy cảm giới; rà soát lại toàn bộ các chương trình giáo dục cho học sinh để xem xét các chương trình này có mang định kiến giới hay không, từ đó có thể biên soạn và chỉnh sửa cho phù hợp; người làm chương trình truyền thông cũng cần được bồi dưỡng kiến thức về giới để tránh tình trạng mù giới trong việc xây dựng các chương trình truyền thông liên quan đến giới.

Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ cơ sở trong việc thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách về bình đẳng giới, đặc biệt các chính sách liên quan đến cơ hội tiếp cận các nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội của phụ nữ, nhằm đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn của phụ nữ, góp phần nâng cao địa vị của họ trong gia đình và ngoài xã hội. Cán bộ địa phương cần có thái độ khách quan đối với những chính sách đối với phụ nữ và có kiến thức về giới để có thể thực hiện hiệu quả các chương trình lồng ghép giới. Tích cực cập nhật kiến thức về bình đẳng giới để có chiến lược tuyên truyền, vận động các chính sách liên quan đến giới phù hợp. Người phụ nữ cần hợp tác tích cực đối với cán bộ thực hiện chính sách bình đẳng giới.

Tạo cơ hội cho phụ nữ tiếp cận các dịch vụ lao động, việc làm và các nguồn vốn sản xuất. Chính quyền địa phương cần thực hiện nghiêm túc chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho phụ nữ sau khi được đào tạo; xã hội hóa các chính sách, chương trình an sinh xã hội liên quan đến phát triển cơ hội của phụ nữ; lồng ghép giới vào các chương trình phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là chính sách giảm nghèo, ứng phó với biến đổi khí hậu... Có như vậy, sẽ mang lại cơ hội có thu nhập cho phụ nữ và giảm tính dễ bị tôn thương, nâng cao khả năng ứng phó của phụ nữ đối với rủi ro, và vị thế của phụ nữ trong gia đình.

Tài liệu tham khảo

1.             Nguyễn Hữu Minh (2008), “Khía cạnh giới trong phân công lao động gia đình”, Tạp chí Xã hội học, số 4/2008.

2.             Nguyễn Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh (2008), Bình đẳng giới ở Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội.

3.             Vũ Mạnh Lợi (2004), Phân công lao động trong gia đình, Trong sách “Xu hướng gia đình ngày nay (một vài đặc điểm từ nghiên cứu thực nghiệm tại Hải Dương”. Nxb KHXH. Hà Nội.

4.             Lê Thi (2008), ”Vai trò của người chủ hộ trong xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng và hạnh phúc”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 1/2008.

5.             Lê Ngọc Văn (2006), Nghiên cứu gia đình và lý thuyết nữ quyền, Nxb KHXH. Hà Nội.

6.             Lê Ngọc Văn (2011), Biến đổi gia đình Việt Nam, Nxb KHXH. Hà Nội.

ThS. Phan Thuận*



* Học viện Chính trị khu vực IV, TP. Cần Thơ.

 

 

Liên kết