Việc công khai giới tính thật hiện đang có xu hướng gia tăng, bởi quyền tự do cá nhân của con người ngày càng được mở rộng. Nhu cầu được sống như chính mình là một tất yếu. Nhiều quốc gia công nhận hôn nhân đồng tính (HNĐT) và chấp nhận việc sống chung giữa hai người đồng tính.

Tại Việt Nam trong mấy năm gần đây đã có nhiều cặp đôi đồng tính tổ chức công khai đám cưới đồng tính, mặc dù luật pháp chưa công nhận. Do vậy, người đồng tính vẫn bị kì thị và gặp nhiều rào cản khi hòa nhập với cộng đồng. Bài viết trình bày thái độ của sinh viên, dựa trên nghiên cứu năm 2013 với 216 sinh viên năm thứ 4 thuộc Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn và 12 cuộc phỏng vấn. 

Quan điểm của sinh viên đối với hôn nhân đồng tính

Gần một nửa sinh viên (46%) ủng hộ HNĐT và 37% trả lời ‘khó nói’. Số còn lại (17%) không ủng hộ. Có thể thấy sinh viên tỏ ra cởi mở đối với HNĐT. Tỷ lệ ‘khó nói’ khá cao bởi phần lớn sinh viên xuất thân từ khu vực nông thôn (37,4 %) và  thị trấn (40%). HNĐT là một vấn đề khá nhạy cảm nên việc đưa ra quan niệm “ủng hộ” hay “không ủng hộ” HNĐT cũng không thể đưa ra một cách nhanh chóng trong khi có nhiều dư luận trái chiều. Phỏng vấn sâu cũng thể hiện quan điểm ủng hộ:

“HNĐT là một chuyện hợp lý, nếu nói trên góc độ con người, chúng ta ai cũng bình thường về yêu thương và khát khao hạnh phúc, vì vậy dù bạn yêu ai, nam hay nữ, miễn đó là điều thật tâm bạn mong muốn thì bạn cần được tôn trọng. Vì khát khao hạnh phúc cho nên người đồng tính có quyền kết hôn, bởi đó cũng là một phần tạo nên hạnh phúc. Người dị tính cũng mong muốn được kết hôn thì người đồng tính cũng vậy. Đứng trên góc độ quyền con người thì con người có quyền mưu cầu hạnh phúc, tìm kiếm hạnh phúc cho bản thân mình, một trong những hạnh phúc chân chính chính là được kết hôn, sống cùng nhau, nếu ngăn cản quyền kết hôn của người đồng tính thì chính là ngăn cản quyền được hạnh phúc - quyền con người, không những là vô nhân tính mà còn là vô đạo đức. Ủng hộ hôn nhân đồng tính chính là văn minh và tiến bộ, truyền thống có thể là tốt đẹp trong một thời điểm nào đó, nhưng những truyền thống không phù hợp sẽ thay đổi theo thời gian. Sự thay đổi đó sẽ thúc tiến xã hội thay đổi thêm tích cực hơn, Việt Nam vốn là một đất nước khoan dung và nhân ái, chắc chắn sẽ chấp nhận cho người đồng tính kết hôn trong thời gian sắp tới”. (Nam, 22 tuổi, khoa Báo chí)

Nhiều ý kiến khác cũng bày tỏ quan điểm ủng hộ hôn nhân đồng tính và cũng khẳng định HNĐT là quyền bình đẳng của con người và là nhu cầu tất yếu của con người:       

“Theo em, người đồng tính cũng là người, cũng có quyền được hưởng hạnh phúc như mọi người, người đồng tính vẫn có thể đóng góp cho xã hội, họ chỉ yêu những người cùng giới tính, không ảnh hưởng gì tới những người xung quanh, đồng tính không phải là bệnh, khi sinh ra họ đã là như thế rồi, cho nên cũng không thể lây lan được”. (Nữ đồng tính, 20 tuổi, khoa Văn học)

Có nhiều người ủng hộ hôn nhân đồng tính với một số lý do như sau:


 

Bảng 1. Lý do ủng hộ hôn nhân đồng tính (%)

 

Lý do

Tỷ lệ

Đồng tính do bẩm sinh

35,4

Là quyền bình đẳng hạnh phúc của con người

87,5

Là kết quả của tình yêu

45,8

Không ảnh hưởng tới thế hệ tương lai

5,2

Không ảnh hưởng tới văn hóa đạo đức

9,4

Không ảnh hưởng tới phân chia tài sản, nhận con nuôi

3,1

Tư tưởng phóng khoáng rộng mở

44,8

Xóa bỏ định kiến xã hội

46,9

Ý kiến khác

3,1

           


Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền khẳng định: “Tất cả mọi người sinh ra đều tự do và bình đẳng về nhân phẩm và nhân quyền”. Số sinh viên ủng hộ HNĐT với lý do “Là quyền bình đẳng hạnh phúc của con người” chiếm tỷ lệ cao nhất (87,5%). Ngoài ra cũng còn có một số lý do khác mà sinh viên ủng hộ hôn nhân đồng tính như: Xóa bỏ định kiến xã hội, là kết quả của tình yêu, tư tưởng phóng khoáng rộng mở, v.v...

Có hai lý do chính em ủng hộ HNĐT, thứ nhất là con người sinh ra không có quyền quyết định giới tính của bản thân mình, người đồng tính cũng vậy, họ cũng không muốn mình là người đồng tính, cho nên hôn nhân đồng tính cũng là quyền tự do cá nhân của họ. Thứ hai là tất cả con người đã yêu nhau thì lấy nhau. Đó là điều bình thường thôi chị ạ”. (Nữ, 21 tuổi, khoa Đông Phương học)

Bên cạnh những lý do ủng hộ HNĐT, kết quả nghiên cứu định lượng cũng chỉ ra một số lý do mà các bạn sinh viên không ủng hộ HNĐT.

 

 


 

Bảng 2. Lý do không ủng hộ hôn nhân đồng tính (%)

 

Lý do

Tỷ lệ (%)

Giảm sự trang nghiêm của một dân tộc ngàn năm văn hiến

23,1

Trái pháp luật

12,8

Ảnh hưởng tới nòi giống

66,7

Phá bỏ thuần phong mỹ tục

53,8

Ảnh hưởng tới phân chia tài sản, thừa kế, nhận con nuôi

12,8

Nền tảng tôn giáo

23,1

Vi phạm đạo đức lối sống

33,3

Cá nhân tuân theo các định kiến xã hội có sẵn

28,2

Ý kiến khác

10,3

           


HNĐT được coi là vấn đề xã hội mặc dù được quan tâm song việc chấp nhận vấn đề này vẫn đang còn nhiều luồng dư luận trái chiều và gặp nhiều rào cản xã hội. Số liệu trên cho biết lý do “Ảnh hưởng tới nòi giống” chiếm tỷ lệ cao nhất với 66,7%. Điều này cho thấy việc nhận thức về hôn nhân đồng tính của sinh viên cao khi hai người đồng tính kết hôn thì sẽ để lại hệ lụy giống nòi. Một số lý do khác như: Phá bỏ thuần phong mỹ tục; vi phạm đạo đức lối sống; giảm nét trang nghiêm của một dân tộc ngàn năm văn hiến v.v… Hầu hết các lý do đều liên quan tới văn hóa ở nước ta. Việt Nam là một quốc gia mang nét văn hóa Phương Đông, chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho Giáo phong kiến, để chấp nhận một hiện tượng xã hội khác với thuần phong mỹ tục là rất khó khăn.

“Vấn đề này thật khó nói, vì cứ nói nước ngoài chấp nhận rồi mà nước ta thì vẫn chưa, cái này còn phụ thuộc vào văn hóa của mỗi nước khác nhau nữa. Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều của Nho giáo và các phong tục tập quán cho nên vấn đề đồng tính vẫn chưa được tìm hiểu nhiều. Đây được coi là một hiện tượng đang còn mới lạ ở Việt Nam.” (Nam, 27 tuổi, khoa Xã hội học)

Mặc dù, có nhiều lý do mà sinh viên không ủng hộ HNĐT, song mong muốn được pháp luật Việt Nam chấp nhận HNĐT hợp pháp chiếm tỷ lệ cao trong nghiên cứu định lượng, kết quả định tính cũng chỉ rõ ra mong muốn HNĐT được pháp luật công nhận.

 

“Em nghĩ người ta ngày càng công khai giới tính thật của họ bởi nếu sống giả dối thì họ cảm thấy khó chịu với bản thân mình, dù có bị soi mói nhưng họ vẫn chấp nhận, do pháp luật Việt Nam vẫn chưa công nhận hôn nhân đồng tính song nhiều người đồng tính đã tổ chức đám cưới đồng tính theo kiểu tự do, đa số là những người trong giới mới biết.” (Nữ đồng tính, 20 tuổi, khoa Văn học)

Với tỷ lệ 72,2% sinh viên có mong muốn pháp luật công nhận HNĐT trong thời gian tới và mong muốn của sinh viên cũng góp tiếng nói tích cực trong việc dự thảo Luật Hôn nhân và Gia đình có nên hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Nghiên cứu sử dụng kiểm định Chi bình phương để kiểm định mối liên hệ giữa mong muốn được pháp luật công nhận HNĐT và được tìm hiểu về HNĐT, những sinh viên mong muốn công nhận HNĐT thì muốn tìm hiểu HNĐT với tỷ lệ là 81,4%. Kết quả cho thấy mối liên hệ giữa ý kiến sinh viên chấp nhận HNĐT có mối liên hệ với mong muốn tìm hiểu về HNĐT ở mức trung bình. Tỷ lệ cao sinh viên “ủng hộ” hôn nhân đồng tính cho thấy việc chấp nhận HNĐT của thanh niên hiện nay đã rộng mở hơn và đa số có mong muốn được pháp luật công nhận HNĐT.  

Phản ứng của sinh viên trước hôn nhân đồng tính

Thái độ sinh viên còn được thể hiện qua xúc cảm, tình cảm và hành vi của sinh viên đối với HNĐT. Dưới đây là một số phản ứng của sinh viên:


 

Bảng 3. Phản ứng trước hôn nhân đồng tính (%)

 

Phản ứng

Tỷ lệ

Vui vẻ, thân thiện nói chuyện

41,7

Khinh bỉ, coi thường

2,8

Coi là bình thường

60,2

Chỉ trỏ, chế nhạo, trêu chọc

1,9

Không nói chuyện, lảng đi chỗ khác

14,2

Sợ, sởn da gà

12,8

Ý kiến khác

6,2

 

Với một số phản ứng tích cực và tiêu cực khi gặp một cuộc hôn nhân đồng tính, thì với phản ứng “coi là bình thường” chiếm tỷ lệ cao nhất với 60,2%. Ngoài ra còn có các phản ứng khác mang tính tích cực như “vui vẻ thân thiện nói chuyện” với 41,7%. Một số phản ứng mang tính tiêu cực như: “khinh bỉ, coi thường” 2,8%; sợ, sởn da gà” với 12,8%...

Phỏng vấn bán cấu trúc cho thấy:

“Thực sự em rất sợ, em có xem một video ở trên mạng mà có đám cưới hai người đồng tính là em sởn hết cả da gà nên em không thích những hành động như thế đâu, trông rất là phản cảm, và không được thuận theo tự nhiên cho lắm chị ạ. Rất sợ chị ạ”. (Nữ, 19 tuổi, khoa Quốc tế học)

Thực tế nếu giả định gặp một cuộc HNĐT thì các ý kiến của sinh viên khi được hỏi đều có phản ứng thấy “sợ”. Mặc dù, không thể hiện kì thị hoặc định kiến đối với HNĐT song cảm giác thấy sợ, bởi đây không phải là hiện tượng thuận theo tự nhiên:

“Em có cảm giác rất sợ, không muốn xem nữa, nếu chứng kiến thực tế em sẽ chọn giải pháp lẳng lặng bỏ đi, em không thể đứng nhìn rồi chúc phúc cho họ được. Còn nếu có các video về hai người đồng tính kết hôn với nhau thì chắc chắn em sẽ không xem, không phải em có thái độ kì thị họ mà đơn giản em chỉ cảm thấy không thoải mái, sởn da gà thôi ạ”. (Nữ, 18 tuổi, ngành Nhân học)

Tiếp tục với một câu hỏi giả định khác về: “Phản ứng của bạn khi có bạn kết hôn đồng tính?” Số liệu định lượng sau cho thấy ý kiến của các sinh viên về giả định này: 

Với phản ứng “an ủi, động viên bạn” chiếm tỷ lệ cao nhất với 49,5%. Cho thấy sinh viên có phản ứng tích cực, thể hiện sự đồng cảm với bạn khi kết hôn đồng tính. Tuy nhiên, cũng có một số phản ứng khác như: “Khuyên nhủ bạn không nên kết hôn” hoặc “cảm thấy lo lắng” cũng được nhiều sinh viên lựa chọn trả lời.

Phản ứng tích cực khi gặp một cuộc HNĐT và khi có bạn kết hôn đồng tính, nhận biết, hiểu biết, xúc cảm và hành vi của sinh viên cũng cho thấy HNĐT đã và đang là một vấn đề mà tầng lớp sinh viên nói riêng, xã hội nói chung có cái nhìn mới mẻ. Có mối liên hệ giữa quan điểm ủng hộ hay không ủng hộ HNĐT với những phản ứng của sinh viên khi có bạn kết hôn với người đồng tính. Đa số những bạn ủng hộ hôn nhân đồng tính có phản ứng tích cực, cho thấy giữa thái độ và hành vi của sinh viên không có sự mâu thuẫn mà đồng nhất, trên cơ sở nhận thức đúng thì thái độ và hành vi của sinh viên cũng đúng. Tuy nhiên, cũng có một số sinh viên còn nhận thức chưa đúng về HNĐT cho nên vẫn có hành vi ứng xử còn sai lệch, chẳng hạn hành vi chỉ trỏ, chế nhạo, trêu đùa và quan điểm không ủng hộ nhân đồng tính. Từ các kết quả nghiên cứu định lượng và định tính, sinh viên có xu hướng tích cực ủng hộ HNĐT, với những nhận thức và thái độ không kì thị và định kiến. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc hợp pháp hóa HNĐT ở nước ta và giúp sinh viên có nhận thức đúng và có kiến thức đúng về đồng tính nhằm hạn chế kì thị với cộng đồng LGBT.

Kết luận và khuyến nghị

HNĐT đã và đang trở thành một xu hướng hôn nhân mới, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội và có nhiều dư luận trái chiều. Nghiên cứu này cho thấy nhiều sinh viên có quan điểm ủng hộ HNĐT, tuy nhiên vẫn có ý kiến không ủng hộ và có thái độ kì thị, phản ứng tiêu cực với HNĐT. Hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ giúp giảm thiểu sự kì thị, định kiến với người đồng tính và HNĐT và mở ra những hướng nghiên cứu mới cho vấn đề nhạy cảm như: pháp luật với hôn nhân đồng tính, hệ quả xã hội của HNĐT…

Khuyến nghị:

Đối với sinh viên: Sinh viên cần có cái nhìn rộng mở và khách quan hơn với vấn đề này. Cần nâng cao hơn nữa công tác tuyên truyền, truyền thông trong sinh viên. Bên cạnh đó sinh viên cũng cần được cung cấp những hiểu biết về hôn nhân đồng tính, tránh sự kì thị với cộng đồng LGBT.

Đối với gia đình: Gia đình có vai trò quan trọng trong định hướng và điều chỉnh cho con cái về giới, giới tính. Cha mẹ cần thường xuyên trao đổi và quan tâm nhiều hơn nữa với con cái các kiến thức có liên quan tới giới, giới tính và sức khỏe sinh sản.

Đối với nhà trường: Cần thường xuyên tổ chức các buổi giao lưu tìm hiểu kiến thức về giới, giới tính, không những trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản mà còn giúp sinh viên có những nhận thức và thái độ tích cực đối với các vấn đề xã hội, trong đó có hôn nhân đồng tính. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tổ chức thường xuyên giao lưu giữa các khoa, các khóa và các trường.

Tài liệu tham khảo

1.             Nguyễn Quang Uẩn (2011), Tâm lí học đại cương. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

2.             Khoa Tâm lý học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Bài giảng Tâm lý học đại cương 2 (2011), Hà Nội.

3.             Phạm Văn Quyết, Nguyễn Quý Thanh (2011), Phương pháp nghiên cứu Xã hội học, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội.

 

4.             Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (2003), Cẩm nang sơ lược về cộng đồng người đồng tính ở Việt Nam.

Nguyễn Thị Yến*

 



* Học viên Cao học Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN

 

Liên kết