Nghiên cứu về mối liên hệ giữa di cư và điều hòa sinh sản vẫn còn ít. Một vài nghiên cứu nghiên cứu sự di cư dài hạn và việc tránh thai đã tìm thấy một liên kết tích cực giữa hai vấn đề kể trên. Tuy nhiên, sự ly tách vợ chồng do di cư tạm thời của một đối tác, đã được tìm thấy có liên quan tiêu cực với việc sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT). Theo một nghiên cứu trong những phụ nữ ở Malaysia, người di cư ít có khả năng sử dụng các BPTT hơn những người không di cư; các nhà nghiên cứu suy đoán rằng phát hiện của họ có thể phản ánh khả năng lớn hơn những phụ nữ di cư bị phân tán khỏi chồng của họ trước và sau khi di cư. Trong số những phụ nữ Guatemala bị tách khỏi chồng mình vì di cư hoặc các lý do khác ít có khả năng sử dụng bất kỳ biện BPTT nào hơn so với những người không bị phân tán với chồng. Bằng chứng từ Nam Phi cũng hỗ trợ các mối liên hệ tiêu cực giữa di cư tạm thời của nam giới và việc sử dụng BPTT của phụ nữ, không chỉ vì các tần số thấp hơn của việc quan hệ tình dục và, do đó, làm giảm nguy cơ mang thai, mà còn bởi vì sự vắng mặt của người đàn ông có thể làm tăng nhu cầu đối với trẻ em ở những phụ nữ có những mối quan hệ không ổn định, để đảm bảo sự hỗ trợ cho tương lai của họ. Trong một nghiên cứu khác tại Nam Phi, việc sử dụng BPTT thấp hơn giữa các đối tác tình dục của những người di cư đã được quy cho việc phụ nữ ít có khả năng giao tiếp với đối tác tình dục của họ về BPTT bởi họ không thường xuyên gặp gỡ. Giao tiếp vợ chồng có thể là một yếu tố quan trọng quyết định việc sử dụng BPTT ở những nơi mà phụ nữ phụ thuộc vào chồng về mặt xã hội và kinh tế.

Mối quan hệ giữa di cư mùa vụ và phá thai chưa được nghiên cứu nhiều. Mối quan hệ này là mối quan tâm đặc biệt ở những nơi mà cả hai vấn đề là di cư và phá thai đang lan tràn. Liên Xô cũ đã chứng kiến di cư lâu dài và theo mùa lớn, chủ yếu chảy từ các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ở vùng Caucasus và Trung Á về Liên bang Nga. Ngoài ra, phá thai là một biện pháp chính để kiểm soát sinh sản ở khu vực này trong nhiều thập kỷ. Liên Xô được cho là quốc gia duy nhất đạt được chuyển đổi mức sinh thông qua phá thai rộng rãi. Từ những năm 1950, hơn 80% dân số trong độ tuổi sinh sản của khu vực này đã sử dụng biện pháp phá thai như một phương pháp kiểm soát sinh sản. ​​Mặc dù tỷ lệ phá thai dường như đã giảm trong thời kỳ hậu Xô viết, việc phá thai vẫn còn phổ biến trong toàn bộ khu vực này.

Mặc dù có sự di cư lớn ở các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ, chưa có nghiên cứu nào xem xét mối quan hệ giữa di cư, phòng thai và phá thai ở đó. Nghiên cứu này xem xét mối liên hệ của di cư theo mùa của nam giới với việc sử dụng các biện pháp tránh thai trung và dài hạn và việc phá thai ở những phụ nữ là đối tác tình dục của họ ở vùng nông thôn Armenia, một quốc gia giành được độc lập sau khi Liên bang Xô viết tan rã. các biện pháp tránh thai trung và dài hạn được đề cập như dụng cụ tử cung và thuốc uống tránh thai. 

Mức sinh thấp ở Armenia không liên quan đến việc sử dụng các biện pháp tránh thai phổ biến. Dữ liệu đáng tin cậy về việc phòng tránh thai tại Armenia còn hạn chế; Tuy nhiên, theo cuộc Khảo sát Y tế và Nhân khẩu học Armenia 2005 (ADHS), 47% phụ nữ đã kết hôn (hầu như không ai trong số họ muốn có thêm con) đã không sử dụng các BPTT, và một nửa trong số họ không có ý định sử dụng bất kỳ biện pháp nào trong tương lai. Một phần ba số phụ nữ đã lập gia đình ở Armenia hiện đang sử dụng các biện pháp truyền thống, trong đó xuất tinh ngoài âm đạo là phổ biến nhất. Chỉ có 39% phụ nữ kết hôn đã từng sử dụng một biện pháp hiện đại, và 20% hiện đang sử dụng một biện pháp. Biện pháp hiện đại được sử dụng rộng rãi nhất trong số các phụ nữ đã kết hôn là dụng cụ tử cung (9%), tiếp theo là bao cao su (8%) chỉ có 1% sử dụng thuốc tránh thai. Armenia có mức độ phá thai cao và mức sử dụng BPTT hiện đại thấp.

Bối cảnh di cư ở Armenia. Di cư lao động phổ biến ở Armenia, quốc gia với khoảng 3 triệu người có mức thu nhập bình quân đầu người 3.720 USD. Hai mô hình chính của di cư quốc tế ở nước này là: di cư lâu dài, chủ yếu từ Yerevan - thủ đô của Armenia - đến châu Âu và Hoa Kỳ, và di cư lao động theo mùa vụ từ các khu vực nông thôn sang Nga, và các nước khác của Liên Xô cũ với mức độ thấp hơn. Hiện không có số liệu chính thức về lượng lao động di cư theo mùa vụ từ Armenia. Theo ước tính, tỷ lệ hộ gia đình Armenia có liên quan đến di cư lao động là 8-9% trong các năm 2002 và 2007. Đại đa số những người di cư theo mùa vụ (94%) là đàn ông 21-55 tuổi, ba phần tư trong số họ đã kết hôn.

Theo một nghiên cứu về di cư lao động, hơn 75% người di cư rời khỏi nhà vào cuối mùa xuân và trở về vào tháng 10 - tháng 12, thời gian trung bình của lao động di cư là khoảng 8 tháng. Một nghiên cứu khác cho kết quả tương tự: một mô hình di cư mùa vụ chủ yếu là sang Nga, mọi người rời rời khỏi nhà từ tháng 1 đến tháng 8 để làm việc trong ngành xây dựng và nông nghiệp, và trở về vào tháng 9 - tháng 12.

Di cư mùa vụ tại Armenia có thể dẫn đến di cư lâu dài, đặc biệt là khi nền kinh tế nông thôn đình trệ. Phụ nữ có chồng di cư có nhiều mong muốn chuyển ra nước ngoài sinh sống hơn những phụ nữ có chồng không di cư, bất chấp sự gắn bó về kinh tế, ràng buộc xã hội hay bất kì một lý do cá nhân, hộ gia đình, hay cộng đồng khác.

Bảng 1. Một số đặc điểm của phụ nữ Armenia tuổi 18-45

Đặc điểm

Tỷ lệ %

Tình trạng di cư của chồng

Không di cư

Di cư

 

59,3

40,7

Tuổi trung bình

32,7

Tuổi chênh lệch trung bình so với chồng

5,0

Tuổi kết hôn

19,4

Học vấn

<= Trung học cơ sở

>= Đào tạo nghề

 

64,3

35,7

Có việc làm

Không

 

86,7

13,3

Giới tính của con

1 con: Trai

1 con: Gái

>= 2 con: Chỉ có con trai

>= 2 con: Chỉ có con gái

>= 2 con: có cả trai và gái

 

6,4

4,4

16,4

8,4

64,4

Muốn có thêm con

Không

 

75,3

24,7

Địa điểm khảo sát/năm

Segharkunik/2007

Ararat/2005

Tavush/2005

 

54,4

22,8

22,8

Hiện đang sử dụng dụng cụ tử cung

8,2

Hiện đang sử dụng thuốc tránh thai

1,5

Đã từng nạo phá thai

Không

 

48,9

51,1

Số lần nạo phá thai trung bình

2,7

 

Nhìn chung, 41% phụ nữ được khảo sát có chồng di cư (Bảng 1). Tuổi trung bình của mẫu là 33; trung bình, phụ nữ trẻ hơn chồng của họ 5 tuổi. Chỉ có 13% phụ nữ cho biết họ có việc làm bên ngoài nhà. Hầu hết phụ nữ có hai con hoặc nhiều hơn - 64% phần trăm cả con trai và con gái, 16% chỉ có con trai và 8% chỉ có con gái; còn lại chỉ có một đứa con (6% con trai và 4% con gái). Ba phần tư cho biết không muốn có thêm con nữa. Tám phần trăm phụ nữ hiện đang sử dụng dụng cụ tử cung, và 2% hiện đang sử dụng thuốc tránh thai. Một nửa đã từng có một lần phá thai; trong số đó, số lượng trung bình các ca phá thai là 2,7.

Di cư và sử dụng tránh thai

Trong một phân tích ban đầu về tình trạng di cư theo mùa vụ của chồng và việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện tại không có biện pháp kiểm soát, phụ nữ có chồng di cư có tỷ lệ sử dụng thuốc tránh thai hoặc dụng cụ tử cung thấp hơn 47% so với những người có chồng không di cư.

Phân tích mối quan hệ giữa di cư, phúc lợi kinh tế hộ gia đình và sử dụng biện pháp tránh thai cho thấy: Với mức tài sản gia đình thấp nhất, phụ nữ có chồng di cư sử dụng biện BPTT nhiều hơn so với ở những người có chồng không di cư (xác suất tương ứng là 0,10 và 0,06). Khi sự giàu có tăng lên, khả năng sử dụng BPTT tăng dần lên ở những phụ nữ có chồng không di cư, nhưng giảm nhẹ ở những phụ nữ có chồng di cư. Vì vậy, với độ lệch chuẩn dưới trung bình của tài sản gia đình, sử dụng biện pháp tránh thai là như nhau đối với phụ nữ có chồng di cư và chồng không di cư (0,09). Với mức tài sản gia đình cao nhất, phụ nữ có chồng không di cư sử dụng BPTT nhiều hơn phụ nữ có chồng di cư (xác xuất tương ứng là 0,27 và 0,06).

Di cư và phá thai

Trong mô hình đa biến khảo sát ban đầu, liên kết giữa di cư và phá thai không lớn. Tuy nhiên, khi kiểm soát kinh tế xã hội được đưa vào mô hình thứ hai, phát hiện không có ý nghĩa. Để kiểm tra xem liệu phúc lợi kinh tế có làm giảm nhẹ các mối liên hệ giữa di cư mùa vụ và xác suất của chấm dứt thai kỳ, các điều kiện tương tác về tình trạng di cư và tài sản gia đình được đưa vào mô hình thứ ba. Việc thiếu sự mối liên kết giữa di cư và phá thai vẫn tồn tại. Tuy nhiên, tài sản gia đình có liên quan một cách tích cực đến kết quả. Mỗi đơn vị gia tăng trong thành phần tài sản gia đình gắn liền với tăng tương ứng 30% hoặc 45% khả năng kết thúc thai kỳ bằng phá thai. Các điều kiện tương tác không liên quan tới việc phá thai.

Để hiểu mối quan hệ qua lại giữa tài sản hộ gia đình, di cư theo mùa vụ và phá thai, tác động kết hợp của các biện pháp phúc lợi kinh tế hộ gia đình, bao gồm các giới hạn tương tác được xem xét (Hình 2). Có thể thấy khả năng phá thai là như nhau đối với phụ nữ có chồng di cư không phân biệt mức độ giàu có (xác suất dự đoán từ 0,95-0,97). Tuy nhiên, trong số những phụ nữ có chồng không di cư, xác suất dự đoán của phá thai tăng khi sự giàu có tăng, từ 0,87 ở mức tài sản thấp nhất đến 0.99 ở mức cao nhất. Tại mức thấp nhất của phúc lợi kinh tế hộ gia đình, khả năng phá thai cao hơn ở những phụ nữ đã kết hôn với một người chồng di cư hơn những người kết hôn với một người chồng không di cư. Tuy nhiên, Tại mức cao nhất, sự khác biệt giữa các nhóm là không đáng kể.

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ tiêu cực giữa di cư tạm thời và sử dụng BPTT trong bối cảnh mức sinh thấp ở các vùng nông thôn Armenia. Việc sử dụng các BPTT hiện đại trung và dài hạn ở những phụ nữ có chồng di cư thấp hơn so với những phụ nữ có chồng không di cư. Việc giảm nhu cầu tránh thai liên tục trong thời gian vắng chồng rất có thể là lời giải thích. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa di cư mùa vụ và sử dụng tránh thai đã chậm lại theo mức độ phúc lợi kinh tế hộ gia đình. Trong các hộ gia đình không di cư, sự sung túc hơn liên quan đến mức độ sử dụng tránh thai cao hơn. Điều này có thể được giải thích bằng cải thiện tiếp cận các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và sự sẵn có của các BPTT hiện đại bởi sự giàu có. Trong khi đó, sử dụng tránh thai liên quan đến giàu có không tăng ở nhưng hộ gia đình di cư. Trên thực tế, sử dụng tránh thai giảm nhẹ khi giàu tăng lên.

Có thể giải thích sự khác biệt này. Động lực sử dụng tránh thai có thể rất thấp ở những phụ nữ kết hôn với người di cư, do đó tăng tiếp cận với các biện pháp hiện đại không ảnh hưởng đến việc sử dụng tránh thai của họ. Hơn nữa, sự giàu có của hộ gia đình di cư có thể là sự ủy quyền cho sự vắng mặt lâu dài của người chồng, dẫn đến nguy cơ mang thai thấp ở phụ nữ và do đó nhu cầu tránh thai thấp hơn. Di cư lâu hơn cũng được cho là làm giảm giao tiếp vợ chồng về phòng tránh thai và sức khỏe tình dục. Mặc dù dữ liệu quốc gia cho thấy thời gian của mùa di cư mùa vụ nhiều hay ít không thay đổi ở thôn Armenia. Khả năng của tác động tích lũy của thời gian vắng mặt của người chồng đối với sử dụng tránh thai là hợp lý. Tuy nhiên, dữ liệu không cho phép đo lường trực tiếp thời gian vắng mặt của người chồng.

Phát hiện về phá thai cho thấy mặc dù xác suất chung của việc chấm dứt thai nghén không khác nhau theo tình trạng di cư của người chồng, trong khi sự liên quan giữa phúc lợi kinh tế hộ gia đình và phá thai lại khác nhau. Ở những phụ nữ có chồng di cư, mức độ sung túc không tác động đến khả năng phá thai của họ; tuy nhiên, ở những phụ nữ có chồng không di cư, khả năng phá thai tăng lên cùng với sự tăng lên của mức độ giàu có. Bởi với sự giàu có, dịch vụ phá thai trở nên dễ chi trả hơn cho cả những phụ nữ kết hôn với người di cư và những phụ nữ kết hôn với người không di cư. Tuy nhiên, sự sung túc có thể hứa hẹn một tương lai tốt hơn cho các gia đình di cư, những người nhiều khả năng di chuyển đến một quốc gia thịnh vượng hơn so với các gia đình không di cư. Các cặp vợ chồng lạc quan về tương lai của họ có thể ít chấm dứt thai nghén. Như vậy, đối với các hộ gia đình di cư giàu có hơn, sự lạc quan về tương lai có thể bù đắp khả năng chi trả cho phá thai.

Những phát hiện của nghiên cứu củng cố mối quan hệ tiêu cực giữa di cư và sử dụng biện thai tại nơi có mức sinh cao. Các tài liệu này chỉ ra rằng cả những phụ nữ có chồng di cư và những phụ nữ không có chồng di cư đều có khả năng bỏ thai, nghĩa là trong bối cảnh sử dụng tránh thai rất thấp, tỷ lệ phá thai ở cả hai nhóm sẽ cao bằng nhau. Do vậy, phụ nữ có chồng di cư – mặc dù nguy cơ mang thai thấp khi chồng di cư – có thể có tỷ lệ mang thai không chủ định như phụ nữ có chồng không di cư. Trong khi việc tiếp cận với các biện pháp tránh thai hiện đại được cải thiện có thể tăng sử dụng tránh thai ở những người vợ của những người không di cư, nó dường như không có tác động so sánh tới sử dụng tránh thai ở những người vợ của những người di cư, bởi vì động lực phòng tránh thai của họ thấp hơn.

Nhu cầu về các chương trình đẩy mạnh lợi ích của biện pháp tránh thai hiện đại qua việc phá thai để kiểm soát khả năng sinh sản, đặc biệt là trong các gia đình của những người di cư theo mùa vụ là rất lớn tại Armenia. Nếu không có những nỗ lực đó, sự sẵn có của các biện pháp tránh thai hiện đại có thể không dẫn đến sự gia tăng trong sử dụng.

Arusyak Sevoyan và Victor Agadjanian 

LƯƠNG QUỲNH HOA

 

Nguồn: International Perspective on Sexual and Reproductive Health, 3/2013

 

Liên kết