Điều tra về tình hình thực hiện Nghị quyết Hội nghị
lần thứ tư khoá VII của Ban chấp hành Trung ương Đảng 
về chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình 
thời gian 1993 - 2003 tại Bình Định

 
ThS. HUỲNH VĂN THUẬN *
 

Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (NQTW 4) về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình là văn kiện hết sức quan trọng đối với công tác dân số Việt Nam. Cho đến nay cả nước ta trong đó có tỉnh Bình Định đã qua 10 năm thực hiện Nghị quyết.

Vào cuối năm 2003 Uỷ ban DS,GĐ & TE tỉnh Bình Định đã tiến hành một cuộc điều tra chọn mẫu với 514 đối tượng là những cán bộ chủ chốt tham gia công tác DS-KHHGĐ ở ba cấp: tỉnh, huyện, xã.

Nội dung khảo sát bao gồm 4 vấn đề:

1. Đánh giá nhận thức của các đối tượng về chính sách DS-KHHGĐ.

2. Đánh giá tình hình thực hiện các chính sách và chương trình DS-KHHGĐ.

3. Đánh giá kết quả và hiệu quả của chương trình DS-KHHGĐ qua 10 năm thực hiện Nghị quyết.

4. Tìm hiểu ban đầu sự hiểu biết về Pháp lệnh dân số ban hành ngày 9/1/2003.

Đặc trưng của mẫu điều tra

Mẫu điều tra bao gồm đủ 3 cấp tỉnh, huyện và xã, bao gồm đủ các ngành: Đảng, đoàn thể, chính quyền và chuyên trách là cán bộ công chức ngành dân số, gia đình và trẻ em và ngành y tế phụ trách mảng KHHGĐ. Một nửa là cán bộ lãnh đạo và một nửa là cán bộ chuyên môn.


 














CẤP
 







 

 
 
 
 
 
 
 
 
 


Đánh giá tình hình thực hiện

Nhận thức của đa số cán bộ đều phù hợp với mục tiêu NQTW 4 đề ra: thực hiện gia đình ít con khoẻ mạnh, mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con.

Đa số cán bộ đều cho rằng cần thiết tiếp tục duy trì chính sách 1 đến 2 con/ cặp vợ chồng. Chỉ có khoảng 3% cho rằng nên có 3 con hoặc mấy con tuỳ ý hoặc cặp vợ chồng tự chọn số lần sinh theo điều kiện kinh tế của gia đình của họ.

Về lựa chọn giới tính, 90% cho rằng con nào cũng tốt, không phân biệt trai gái. 10% còn lại quan tâm về giới tính khi sinh con, chủ yếu là có cả trai lẫn gái, chỉ một số rất nhỏ thiên về giới nam.

NQTW 4 yêu cầu "Sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước đối với công tác DS-KHHGĐ "là giải pháp tiên quyết để thực hiện thành công chính sách DS-KHHGĐ.

Điều đáng lưu ý là chỉ có 1/2 số cán bộ lãnh đạo các cấp đồng ý với yêu cầu của NQTW 4 "các đồng chí lãnh đạo chủ chốt ở các cấp trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ.

Về công tác thông tin giáo dục tuyên truyền là 1 trong 6 giải pháp mà NQTW 4 đề ra với các yêu cầu từ 1 đến 7 sau đây được cán bộ quán triệt theo các mức độ khác nhau như sau (%).

 

Nhìn chung, sự nhận thức của cán bộ về công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền chưa đầy đủ và chưa sâu sắc.

Theo kết quả điều tra xã hội từ Trung ương; trở ngại lớn nhất đối với chương trình DS-KHHGĐ thời gian qua là "các tư tưởng phong kiến, nho giáo lỗi thời".


Thông tin giáo dục tuyên truyền

 



 

 
 
 
 
 
 
 
 


Có 80% cán bộ đồng ý với nhận thức này, 20% còn lại cho rằng trở ngại lớn nhất là yếu tố khác.

Theo kết quả điều tra xã hội học từ Trung ương: "Chính sách thưởng phạt đối với việc chấp hành chính sách DS-KHHGĐ chưa hợp lý" là trở ngại đứng hàng thứ hai đối với chương trình DS- KHHGĐ thời gian qua.

Đa số cán bộ (khoảng 60%) cho rằng về cơ bản KHHGĐ là tự nguyện. Mặt khác, nhiều người cho là có những điều bất hợp lý trong chính sách DS-KHHGĐ, mỗi địa phương làm một khác (41%), mỗi loại đối tượng lại áp dụng chính sách khác nhau (31%)

Một số cán bộ đề xuất ý kiến như sau:

- Các chính sách liên quan đến DS-KHHGĐ (kể cả các chính sách về giáo dục, y tế, đất đai...) hiện nay chưa đồng bộ.

- Có sự mâu thuẫn trong các chính sách.

- Chính sách DS-KHHGĐ so với sự thay đổi về nhận thức và đời sống nhân dân.

Những trở ngại đối với chương trình DS- KHHGĐ tại địa phương thời gian qua thường do các yếu tố như sau:


Những yếu tố trở ngại đối với chương trình

(Tỷ lệ % cán bộ đồng tình)



 

 
 
 
 
 
 

 
 

Một số ý kiến khác:

* Bộ máy thiếu ổn định.

* Cán bộ dân số thay đổi nhiều.

* Cung cấp dịch vụ tránh thai cho khách hàng chưa kịp thời.

Những yếu tố quan trọng quyết định đến chương trình DS - KHHGĐ được lựa chọn theo thứ tự sau đây (% đồng ý):


 
Những yếu tố quyết định đến chương trình



 

 
 
 
 
 
 
 
 


NQTW 4 đã nêu ra 6 nguyên nhân chủ yếu của tình trạng tăng dân số quá nhanh. Theo sự đánh giá của cán bộ lãnh đạo sự tồn tại của các nguyên nhân này sau 10 năm thực hiện Nghị quyết đến nay như sau:

- Công tác tuyên truyền giáo dục nhằm khắc phục ảnh hưởng tâm lý và tập quán cũ làm còn yếu 73,1%

- Đầu tư của Nhà nước cho công tác DS- KHHGĐ chưa thoả đáng 53,1%

- Các cấp uỷ Đảng và chính quyền chưa thực sự quán triệt chủ trương coi việc giảm tốc độ gia tăng dân số là một quốc sách, lơi lỏng việc lãnh đạo và chỉ đạo tổ chức thực hiện 40,8%

- Bộ máy chuyên trách DS-KHHGĐ yếu kém, thống kê dân số chưa chính xác 31,2%

- Phong trào quần chúng thực hiện KHHGĐ chưa được phát động rộng khắp 30,8%

Dụng cụ và phương tiện cho công tác DS - KHHGĐ còn thiếu 18,8%

Như vậy cho đến nay công tác tuyên truyền giáo dục DS-KHHGĐ vẫn chậm được giải quyết trong 6 nguyên nhân NQTW 4 đã nêu.

Nhận định như thế nào về bộ máy làm công tác dân số, gia đình và trẻ em ở thời điểm này.

- Cán bộ cơ sở thu nhập thấp, không được hưởng chế độ bảo hiểm nên thiếu an tâm công tác 80,4%

- Lực lượng cán bộ cơ sở yếu và thiếu 56,0%

- Trình độ cán bộ làm DS-KHHGĐ còn hạn chế 49,6%

- Tập huấn đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu của bộ máy 43,8%

Cụ thể hoá vấn đề 1 có những ý kiến bổ sung sau:

- Bộ máy DS - KHHGĐ chưa ổn định

- Cán bộ có năng lực muốn chuyển công tác

- Chế độ công tác chưa phù hợp, kinh phí đào tạo thấp

- Phụ cấp của chuyên trách và nhân viên y tế còn thấp.

NQTW 4 khẳng định "Đầu tư cho công tác DS - KHHGĐ là đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế trực tiếp rất cao". Trong thực tế, có địa phương tuy nghèo nhưng vẫn huy động được ngân sách địa phương và đóng góp của cộng đồng cho chương trình dân số, ngược lại có những địa phương không làm được điều đó tuy nguồn thu lớn hơn.

+ 92% cán bộ cho rằng kinh phí (cộng các nguồn) dành cho công tác DS-KHHGĐ tại địa phương là thiếu.

1. Thiếu nhiều                       45,4%

2. Thiếu ít                             46,6%

3. Đủ                                     8%

Cán bộ nhận xét về kinh phí đầu tư như sau:

- Chưa đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu hoạt động DS-KHHGĐ, cần tăng thêm.

- Sử dụng chưa hợp lý

- Chi từ ngân sách, chưa huy động của dân.

- Địa phương có hỗ trợ nhưng chưa đầy đủ cho hoạt động DS-KHHGĐ

- Kinh phí cho DS-KHHGĐ chưa có trong danh mục của xã

- Việc chi còn phụ thuộc vào tình hình ngân sách mỗi địa phương.

Về việc giao chỉ tiêu kế hoạch DS-KHHGĐ cho địa phương có những điều bất cập như sau:

Trên 40% cán bộ xã, huyện, chuyên trách cho rằng chỉ tiêu kế hoạch giao cao. Trên 30% cán bộ cho rằng chưa phù hợp với cơ sở. Từ 25 - 36% cho rằng chưa đồng bộ với kinh phí.

NQTW 4 nêu giải pháp "Trợ giá đối với các mặt hàng KHHGĐ bán rộng rãi với giá rẻ trên thị trường". Cho đến nay Nhà nước đã miễn phí và có thù lao bồi dưỡng cho người đình sản; miễn phí cho người đặt vòng tránh thai; phát không viên uống tránh thai; phát không bao cao su cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người.

Theo ý kiến khảo sát công tác dịch vụ KHHGĐ:

1. Duy trì chính sách hiện hành: 40,2%

2. Vừa miễn phí, vừa tiếp thị theo loại đối tượng: 35,8%

3. Miễn phí hoàn toàn các loại phương tiện tránh thai: 18,9%

4. Thu tiền phương tiện tránh thai như mọi dịch vụ y tế khác: 7,5%

Một số khuyến nghị khác:

- Miễn phí hoàn toàn cho các xã miền núi trong diện đặc biệt khó khăn

- Miễn phí căn cứ vào điều kiện kinh tế và dân trí

Như vậy có khoảng 60% cán bộ cho rằng cần sửa đổi chính sách về dịch vụ tránh thai.

Nghị quyết 6 của BCH Đảng bộ tỉnh đề ra chủ trương "Khuyến khích các tổ chức và tư nhân làm dịch vụ KHHGĐ dưới sự quản lý Nhà nước, của ngành y tế".

Theo điều tra chất lượng dịch vụ KHHGĐ năm 2002 cho thấy chỉ 2,3% số lượng dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ do các tổ chức ngoài ngành y tế và tư nhân thực hiện.

Ý kiến đánh giá thực trạng này như sau:

1. Nhà nước chưa cụ thể các chính sách khuyến khích các tổ chức và tư nhân làm dịch vụ KHHGĐ: 48,4%.

2. Dịch vụ KHHGĐ là dịch vụ không thu hút các tổ chức và tư nhân do lợi nhuận thấp: 39,8%.

3. Trên thực tế có nhiều vấn đề gây khó khăn cho các tổ chức và tư nhân muốn làm dịch vụ KHHGĐ: 33,9%.

Một số ý kiến khác

- Chỉ chú trọng đến dịch vụ công.

- Nhà nước còn bao cấp dịch vụ KHHGĐ nên tư nhân khó thực hiện.

- Nhà nước miễn phí và đặt giá các phương tiện và dịch vụ tránh thai chưa hợp lý.

- Ở địa phương do Nhà nước miễn phí nên tư nhân không làm dịch vụ được.

- Do giá dịch vụ tư nhân cao.

- Do tư nhân chưa đảm bảo an toàn về kỹ thuật, vệ sinh.

- Do tư nhân thiếu người có đủ trình độ chuyên môn.

- Do tư nhân chưa thực hiện đúng y đức.

Đánh giá về một số tồn tại trong dịch vụ KHHGĐ hiện nay cán bộ chuyên môn đồng tình theo mức độ như sau:

1. Người dân có tư tưởng bao cấp; muốn được Nhà nước cung cấp miễn phí các loại dịch vụ tránh thai: 62,2%.

2. Sức khoẻ sinh sản của người dân chưa được tốt, các loại bệnh về sinh sản còn nhiều: 59,1%.

3. Công tác tư vấn sức khoẻ sinh sản và KHHGĐ chưa được đáp ứng đầy đủ và sâu sát: 51,2%.

4. Dịch vụ KHHGĐ lâu nay còn mang nặng tính bao cấp: 41,3%.

5. Phương tiện tránh thai có tác dụng phụ thậm chí gây ra tai biến cho người dân: 38,2%.

6. Thị trường dịch vụ tránh thai chưa mở rộng, sự tham gia của tư nhân còn quá ít: 37,8%.

7. Việc cung cấp phương tiện tránh thai cho người dân nhiều khi không đủ, không kịp thời 21,7%

8. Quyền được tự do lựa chọn biện pháp tránh thai nhiều khi chưa được các cơ sở cung cấp dịch vụ tránh thai đáp ứng: 15,0%.

NQTW 4 chỉ ra giải pháp cơ bản để thực hiện công tác DS -KHHGĐ là "vận động, tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ KHHGĐ đến tận người dân". Đánh giá về công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền DS-KHHGĐ tại địa phương như sau:

 
 

 
 



ĐÁNH GIÁ KÊNH TRUYỀN THÔNG HIỆU QUẢ (%)
 
 

 
 
 


 
 
 
 
 
 
 
 

Một số ý kiến khác về việc nâng cao hiệu quả công tác TGT:

- Gắn vào tiêu chuẩn xét gia đình văn hoá, khu dân cư tiêu biểu.

- Kết hợp truyền thông đại chúng với truyền thông trực tiếp.

- Người tuyên truyền trực tiếp cần có chuyên môn và uy tín.

Những loại hình khó vận động KHHGĐ thời gian qua:

1. Hộ sinh con gái một bề                  83,1%

2. Hộ có trình độ văn hoá thấp            74,0%

3. Hộ làm nghề biển                          41,3%

4. Hộ cần lao động nam                     28,0%

5. Hộ sinh con trai một bề                  25,6%
6. Hộ nghèo                                      24,8%
7. Hộ làm nông                                 10,2%
8. Hộ buôn bán                                 4,7%

Một số loại hộ khó vận động khác:

- Hộ vùng sâu, vùng xa, dân tộc thiểu số

- Hộ đông con, lớn tuổi (40 trở lên)

Những nhận xét về một số tồn tại trong công tác quản lý chương trình DS-KHHGĐ hiện nay:

1. Có tư tưởng ỷ lại trông chờ nguồn lực từ cấp trên                                                   54,9%

2. Cán bộ quản lý cấp trên ít đi cơ sở, cán bộ cơ sở không sát dân                              43,8%

3. Việc giao kế hoạch gây ảnh hưởng đến cung cấp dịch vụ cho người dân                  34,4%

4. Cấp trên thiếu kiểm tra đôn đốc      25,3%

Đánh giá của cán bộ lãnh đạo đầu tư cho DS - KHHGĐ góp phần mang lại những hiệu quả kinh tế - xã hội cho địa phương như sau:

1. Làm tăng tốc độ phát triển kinh tế  86,5%

2. Làm giảm số người nghèo, đói       77,7%
3. Nâng cao chất lượng dân số          66,5%
4. Cải thiện môi trường sống              65,4%

5. Nâng cao chất lượng giáo dục,
văn hoá                                            65,4%

6. Nâng cao thể lực, trí lực                63,5%

7. Giải quyết nhu cầu lương thực       55,0%
8. Làm giảm các tệ nạn xã hội           51,2%
9. Giải quyết nạn thất nghiệp              45,4%

Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành Pháp lệnh Dân số bao gồm những quy định về dân số có hiệu lực thi hành từ ngày 1/5/2003. Vai trò và ảnh hưởng của pháp lệnh Dân số (PLSD) đối với công tác DS - KHHGĐ trong thời gian tới như sau:

1. Là văn bản có tính pháp lý cao nhất về công tác dân số của nước ta                                     82,5%

2. Cụ thể hoá sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác DS - KHHGĐ 67,5%

3. Chú trọng đến chất lượng dân số    67,5%

4. Pháp lệnh dân số ban hành đúng lúc và rất cần thiết                                                 67,1%

5. Chú trọng đến quyền sinh sản        54,5%

6. Có thể gây những khó khăn ban đầu cho công tác DS-KHHGĐ                                 42,8%

7. Có thể là nguyên nhân làm chậm mức giảm sinh                                                     15,0%

8. Pháp lệnh dân số hiện nay chưa cần thiết                                                          1,6%
Một số ý kiến khác:

- Do hiểu sai PLDS, do nhận thức sai pháp luật, nhất là ở Điều 10 của PLDS dẫn đến hành vi vi phạm PLDS.

- PLDS ra đời tạo điều kiện thuận lợi cho công tác DS - KHHGĐ

Nội dung PLDS một số điểm chưa phù hợp thực tiễn.


* Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Bình Định