NGUỒN NHÂN LỰC CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NƯỚC TA HIỆN TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ

TS. ĐẶNG XUÂN THAO*
 

Cho đến nay, khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực vẫn đang còn nhiều ý kiến khác nhau. Một số tổ chức của Liên hợp quốc như: Giáo dục, Khoa học và Văn hoá (UNESCO), Lao động quốc tế (ILO), Phát triển công nghiệp (UNIDO)… cũng chưa thống nhất, tuỳ theo mục tiêu cụ thể của từng tổ chức, người ta đưa ra định nghĩa riêng về vấn đề này. Tuy nhiên, trong những quan niệm khác nhau, cũng có một tiêu chí gần như thống nhất, đó là sự mạnh mẽ về trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của nguồn nhân lực.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, một cách khái quát nhất, nguồn nhân lực (NNL) có thể được hiểu là: “tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc nào đó”1 . Và như vậy, khi nói đến NNL là nói đến khả năng tiềm ẩn trong con người. Chỉ khi nào những tiềm năng ấy được phát huy, sử dụng, nó mới trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Theo đó, phát triển nguồn nhân lực (PTNNL) được hiểu là công việc đào tạo lại nguồn lao động xã hội để lực lượng này trở thành những lao động hữu ích với những phẩm chất và năng lực mới ngày một cao hơn, nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại.

Liên hợp quốc đã đưa ra mọt chương trình PTNNL gồm 5 nội dung: Giáo dục và đào tạo; Sức khoẻ và dinh dưỡng; Môi trường; Việc làm và Sự giải phóng con người. Những yếu tố này luôn có mối liên hệ tương tác, gắn bó với nhau, trong đó giáo dục và đào tạo được xem là cơ sở của những yếu tố còn lại, là điều kiện thiết yếu để cải thiện sức khoẻ và dinh dưỡng nhằm duy trì một môi trường sống có chất lượng cao, mở rộng và cải thiện lao động và duy trì sự đáp ứng về kinh tế và chính trị nhằm giải phóng con người, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững.

Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều kiện để phát huy nguồn lực con người-yếu tố cơ bản để phát triển xã hội; tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và bền vững”[1].

Với cách hiểu trên, bài viết này sẽ tập trung vào nội dung giáo dục-đào tạo được thể hiện bằng trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật của NNL, mà không đề cập toàn bộ nội dung PTNNL, đồng thời cũng chỉ đề cập NNL của các dân tộc thiểu số.

1. Học vấn là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực.

Không chỉ ngày nay chúng ta mới coi trọng học vấn, mà từ xa xưa học vấn đã được coi trọng: ”nhân bất học bất trí lý”. Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945 đã nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”[2]; Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Người đặt vấn đề “Tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”[3]. Tháng 9/1945, trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, Người viết “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần ở công học tập của các em”[4].

Khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH-HĐH), Đảng và Nhà nước ta xác định giáo dục đào tạo là”quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhân tài”[5]. Riêng đối với khu vực miền núi, Nghị quyết của Đảng ghi rõ “Tăng đầu tư cho giáo dục miền núi và vùng dân tộc thiểu số, mở rộng các trường nội trú, quy hoạch đào tạo cán bộ và trí thức người dân tộc”[6]. Như vậy, có thể nói học vấn đã trở thành điều kiện tiên quyết để PTNNL, thực hiện CNH-HĐH đất nước, mở cửa và hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới.

2. Hiện trạng học vấn và chuyên môn kỹ thuật của các dân tộc thiểu số.

2.1. Từ các số liệu Tổng điều tra dân số ở bảng 1, hiện trạng trình độ học vấn của các dân tộc thiểu số như sau:

- Năm 1989, có 1,3% trong tổng số người thuộc các dân tộc thiểu số tốt nghiệp THPT (tỷ lệ tương ứng của dân tộc kinh là 3,41%). 0,13% tốt nghiệp CĐ-ĐH (so với 1,36% ở dân tộc Kinh). 0,00001% có trình độ sau đại học (ở dân tộc Kinh, tỷ lệ này là 0,019%).

- Năm 1999, có 7,15% trong tổng số người thuộc các dân tộc thiểu số tốt nghiệp THPT (tỷ lệ tương ứng của dân tộc kinh là 20,78%). 1,07% tốt nghiệp CĐ-ĐH (so với 2,89% ở dân tộc Kinh). 0,007% có trình độ sau đại học (ở dân tộc Kinh, tỷ lệ này là 0,06%)..

Bảng 1. Trình độ học vấn các dân tộc thiểu số qua hai kỳ Tổng điều tra dân số (1989, 1999)

Đơn vị: người
Thứ tự
Dân số và học vấn
1989
1999
1
Tổng dân số các dân tộc thiểu số
8.268.480
10.527.455
2
Học vấn tính từ THPT trở lên
 
 
 
- Tốt nghiệp THPT
113.242
752.255
 
- Cao đẳng-đại học
11.471
113.070
 
- Sau đại học
126
642

Nguồn: Tính từ số liệu Tổng điều tra dân số 1989 – Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số TW, Hà Nội-1991 và Tổng điều tra dân số-nhà ở 1999 – Nxb Thống kê, Hà Nội-2001.

Như vậy, sau 10 năm (1989-1999) vừa thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước do Đại hội VI đề ra (1986), vừa tiếp tục thực hiện các Nghị quyết Đại hội VII (1991) và Đại hội VIII (1996), có thể nói cơ hội học tập dành cho nhân dân các dân tộc thiểu số ở nước ta đã ngày càng nhiều hơn; trình độ học vấn các dân tộc thiểu số đã có một bước tiến khả quan, đặc biệt ở hai trình độ CĐ-ĐH và sau đại học đều có tốc độ tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng của dân tộc Kinh, cụ thể là:

- Số người tốt nghiệp THPT đã tăng từ 1,3% năm 1989 lên 7,15% vào năm 1999, gấp 5,5 lần (số tăng tương ứng ở dân tộc Kinh là 6,1 lần).

- Số người tốt nghiệp CĐ-ĐH tăng từ 0,13% lên 1,07%, gấp 8,2 lần (số tăng tương ứng ở dân tộc Kinh là 2,12 lần).

- Số người có trình độ sau đại học tăng từ 0,0001% lên 0,007%, gấp 70 lần (số tăng tương ứng ở dân tộc Kinh là 3,16 lần).

Xét về mặt số lượng các dân tộc thiểu số, số liệu bảng 2 cho thấy những thành tựu học vấn đạt được cũng rất đáng kể. Nếu như năm 1989 còn 7 dân tộc chưa có người tốt nghiệp THPT (khi đó gọi là cấp 3) thì đến năm 1999, ở mức độ nhiều ít khác nhau, tất cả các dân tộc đều đã có người đạt đến trình độ đó. Nếu như năm 1989, 12 dân tộc chưa có người tốt nghiệp CĐ-ĐH thì đến năm 1999 chỉ còn 3 dân tộc. Nếu như năm 1989, số dân tộc chưa có người đạt trình độ sau đại học là 42 thì đến năm 1999 con số này còn là 32, tức là có thêm 10 dân tộc nữa có người đạt trình độ sau đại học.

Bảng 2. Trình độ học vấn các dân tộc thiểu số qua hai kỳ Tổng điều tra dân số (1989, 1999)

Đơn vị: người
Thứ tự
Trình độhọc vấn
1989
1999
1
Số dân số chưa có người tốt nghiệp THPT
7
0
2
Số dân số chưa có người tốt nghiệp CĐ-ĐH
12
3 (Mảng, Brâu, Rơmăm)
3
Số dân số chưa có người có trình độ sau đại học
42
32

Nguồn: Tính từ số liệu Tổng điều tra dân số 1989 – Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số TW, Hà Nội-1991 và Tổng điều tra dân số-nhà ở 1999 – Nxb Thống kê, Hà Nội-2001.

Cũng thông qua xử lý các số liệu đã công bố, được biết thêm, trong số những dân tộc thiểu số có người đạt trình độ CĐ-ĐH trở lên ở cả hai kỳ Tổng điều tra dân số (1989, 1999), Tày luôn là dân tộc có số người đạt trình độ này nhiều nhất so với các dân tộc khác” năm 1989 có 9.376 người, đến 1999 có 25.451 người, tăng gấp 2,7 lần. Tiếp sau đó, theo thứ tự là các dân tộc Hoa, Mường, Nùng, Thái...

2.2. Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 1989 (bảng 3), NNL các dân tộc thiểu số chiếm 12,54% tổng NNL cả nước (tính từ 13 tuổi trở lên), trong đó 96,3% chưa có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Trong số lượng ít ỏi đã qua đào tạo ấy, số công nhân kỹ thuật (CNKT) và nhân viên nghiệp vụ (NVNV) có bằng/chứng chỉ chiếm 1,08%; THCN chiếm 1,63%; CĐ-ĐH trở lên là 0,87%.


Bảng 3. Trình độ chuyên môn-kỹ thuật của lực lượng lao động các dân tộc thiểu số, tính từ 13 tuổi trở lên

Đơn vị: người
Tổng số
Không có CMKT
CNKT, NVNV có bằng/ chứng chỉ
THCN
Từ CĐ-ĐH trở lên
Cả nước:
54.728.902
 
50.428.826
 
1.270.516
 
1.530.851
 
1.417.821
Các dân tộc thiểu số:
6.862.390
 
6.610.945
 
74.100
 
112.181
 
59.931

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 1999– Nxb Thống kê, Hà Nội, 8-2001 (xử lý số liệu tr.521)


Nếu so sánh giữa các dân tộc thiểu số, cũng như so sánh tỷ lệ lao động của từng dân tộc cũng thấy Tày là dân tộc có số lượng nhiều hơn và đạt tỷ lệ lao động qua đào tạo là 9,3% - cao hơn các dân tộc thiểu số khác. Tiếp đến là các dân tộc: Nùng (4,2%); Mường (3,78%); Thái (3,2%); Hoa (3,14%)... Nếu tính từ sau đại học trở lên cũng đã có 19 dân tộc có lao động đạt trình độ này [7]. Tuy nhiên so với chỉ tiêu 30% lao động qua đào tạo vào năm 2005 do Đại hội IX đề ra[8] thì qua những con số về học vấn, chuyên môn-kỹ thuật đã trình bày, công tác PTNNL cả nước nói chung, đặc biệt là NNL các dân tộc thiểu số đang đứng trước những thách thức to lớn.

Text Box: Trao đổi kiến thức3. Một số khuyến nghị.

Ý thức rõ cần phải tiếp tục nâng cao chất lượng NNL mới đảm bảo cho khả năng “đi tắt, đón đầu” nhằm phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện CNH-HĐH, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra “cả nước trở thành một xã hội học tập”[9]. Thực hiện chủ trương của Đảng, vừa qua đã có những Trung tâm học tập cộng đồng được thành lập ở một số tỉnh, thành phố. Tại đây với phương châm “cần gì học nấy, học để làm ngay”, nông dân có thể học được những điều thiết thực. Theo chúng tôi, đây là mô hình khả thi để thực hiện chủ trương “giáo dục cho mọi người”[10], cần sớm được nhân rộng cả nước.

Trong xu thế mở của hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới hiện nay, tính chất và yêu cầu của việc làm thường nhanh chóng thay đổi, nhiều công việc cũ mất đi, thay vào đó là những việc làm mới đòi hỏi ngày càng cao và khắt khe hơn ở người lao động về phẩm chất và tiêu chuẩn, buộc người lao động phải không ngừng học tập “học tập suốt đời”, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn-kỹ thuật/tay nghề, sẵn sàng thích ứng với công việc mới; đối phó với những rủi ro, nguy cơ mất việc làm có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Vấn đề này càng trở nên cấp bách hơn đối với các dân tộc thiểu số. Bởi lẽ, hầu hết nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số đều tập trung ở khu vực nông thôn-miền núi, vùng sâu vùng xa, không chỉ hạn chế về khả năng tiếp nhận các kỹ năng canh tác mới do trình độ học vấn/dân trí còn quá thấp, mà còn thiếu thốn/nghèo nàn về cả vật chất, lạc hậu về cơ sở hạ tầng-kỹ thuật, phương pháp tổ chức, quản lý... Qua nghiên cứu một số dân tộc như: Thái (Sơn La, Lai Châu), Tày (Tuyên Quang), Chứt (miền Tây Quảng Bình), ÊĐê, M’nông (Đắklắk)... chúng tôi thấy vấn về PTNNL các dân tộc thiểu số nên chia thành hai đối tượng.

Một là, đối tượng đang tham gia lao động hiện nay: trước mắt, cần tập trung củng cố, phát huy kết quả xoá mù, khắc phục tình trạng tái mù, tổ chức các trung tâm học tập cộng đồng, thực hiện “giáo dục cho mọi người” để tất cả cùng biết chữ; trong tương lai gần cùng có học vấn tiểu học, đủ khả năng tự chọn cây trồng vật nuôi thích hợp với khí hậu thổ những nơi cư trú, thực hiện xoá đói giảm nghèo...

Ở đây cần lưu ý tình trạng tái mù đang diễn ra khá phổ biến. Nguyên nhân chính của tái mù là sau khi nghiệm thu kết quả, thanh toán hợp đồng với người làm công tác xoá mù, ngành giáo dục-đào tạo chưa có phương án triển khai tiếp sau xoá mù, Như vậy muốn chấm dứt tình trạng tái mù, ngành giáo dục-đào tạo phải chủ động có ngay giải pháp.

Thứ hai, đó là nguồn nhân lực tương lai, là đối tượng đang thuộc lứu tuổi học đường. Với đối tượng này cần thực hiện đầy đủ nội dung PTNNL, sao cho sau 10-15 năm nữa khi trực tiếp tham gia lao động, họ sẽ đóng được vai trò chính, đưa “những vùng còn kém phát triển, nhất là vùng cao, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng có bước tiến nhanh hơn, dần dần giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về trình độ phát triển kinh tế-xã hội giữa các vùng”.

Tuy nhiên, với khoảng thời gian đó, để NNL tương lai của các dân tộc thiểu số đảm nhận được vai trò nới trên, cũng sẽ là muộn nếu công tác đào tạo cùng mọi việc liên quan không bắt đầu từ hôm nay


* Nghiên cứu viên cao cấp, Viện Nghiên cứu con người

1 Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nxb CTQG, Hà Nội-2002, tr.269

[1] Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr 108-109.

[2], 4 Hồ Chí Minh toàn tập, NXb CTQG, Hà Nội-2000, T4, tr.8

 
[4] Hồ Chí Minh toàn tập, Sđd, T4, tr.33

[5] Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội VIII, Nxb CTQG, Hà Nội-1996, tr.107.

[6] Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội VII, Nxb 126CTQG, Hà Nội-1991, tr.82.

[7] Tính từ số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 1999-Tài liệu ĩa dẫn, tr 521-522.

[8] Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội IX, Nxb CTQG, Hà Nội-2001, tr29.

[9] [9]   Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội IX, Sđd, tr.35.