BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH BẢO VỆ

QUYỀN PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM

ThS. PHẠM THỊ HẢI YẾN*


*1. Vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam

Cùng với sự bình đẳng về chủng tộc, về giai cấp, bình đẳng về giới đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Người ta có thể chưa thống nhất giữa Phương Đông và Phương Tây về dân chủ và những vấn đề khác song con người đã đi đến sự thống nhất căn bản trong quan điểm nhìn nhận về phụ nữ với tư cách là nạn nhân của chế độ bất bình đẳng về giới. Báo cáo của UNDP đã nêu rõ: Cho đến nay chưa có nơi nào trên thế giới, kể cả 4 nước Bắc Âu là Thuỵ Điển, Đan Mạch, Na Uy và Phần Lan những nước được coi là thiên đường của phụ nữ, phụ nữ được hoàn toàn bình đẳng với nam giới. Cánh cửa đi vào sự bình đẳng phụ nữ mới chỉ hé mở, thậm chí có nhiều nơi, ở nhiều lĩnh vực đã khép lại[1].

Ra đời hơn nửa thế kỷ (1950), khoa học về giới là sản phẩm cao nhất của phong trào đấu tranh cho phụ nữ. Khoa học về giới đã cung cấp một cách nhìn toàn diện trước một vấn đề phức tạp và nhậy cảm là mối quan hệ sinh học và xã hội giữa nam và nữ; chỉ ra những bất công, những quan niệm, những hành vi lệch lạc của xã hội về mối quan hệ này. Ở Việt Nam đến nay vừa tròn 20 năm, khoa học nghiên cứu về giới chính thức hoạt động và phát triển (1987). Hiện nay, bộ môn này được coi là một trong những bộ môn khoa học xã hội trẻ nhất. Tuy vậy, khoa học về giới có nhiều thuận lợi khi đưa ra những lý thuyết, tài liệu vào Việt Nam. Bởi vì ở Việt Nam đã có sẵn những tiền đề về xã hội và nhận thức để tiếp nhận khoa học này.

Thứ nhất: Lịch sử, văn hoá, lối sống dân tộc Việt Nam đã phản ánh truyền thống tôn trọng phụ nữ. Truyền thống đó được biểu hiện từ những nghi lễ thờ cúng không phân biệt thần nam và thần nữ. Chẳng hạn tục thờ Mẫu, thờ nữ thần Lúa, thờ Bà Liễu Hạnh, thờ các Thành hoàng là phụ nữ có công trong sản xuất và chiến đấu. Truyền thống đó được biểu hiện cao nhất là việc làm vua của Hai Bà Trưng, làm lãnh tụ khởi nghĩa của Bà Triệu, làm tướng của Lê Chân, Bát Nàn công chúa, đô đốc Bùi Thị Xuân.

Thứ hai: Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề xướng và ủng hộ sự bình đẳng giới. Luận cương chính trị của Đảng năm 1930, đã khẳng định rõ ba nhiệm vụ của Cách mạng Việt Nam là: Giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng phụ nữ. Ba nhiệm vụ đó đã được tiến hành cùng một lúc và hỗ trợ cho nhau trong cuộc đấu tranh chung.

Thứ ba: Hiện nay bình đẳng giới đang là mục tiêu lớn của chính phủ Việt Nam. Đó là sự tiếp nối trung thành và có hiệu quả những mục tiêu ban đầu của cách mạng Việt Nam phù hợp với quan điểm về văn minh và phát triển hiện nay của thế giới. Ngày 29/7/1980 Việt Nam đã ký kết tham gia Công ước Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW)[2] và được Quốc hội phê chuẩn ngày 27/11/1981. Việc Việt Nam tham gia CEDAW là sự thừa nhận tinh thần của công ước phù hợp với chủ trương đường lối của ng và Nhà nước Việt Nam về bình đẳng nam nữ. Đây là cam kết có tính pháp lý trước các thành viên CEDAW đảm bảo cho phụ nữ các quyền bình đẳng theo chuẩn mực quốc tế về quyền con người của phụ nữ; đồng thời thể hiện quyết tâm xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống phụ nữ.

Khi tham gia Công ước, Nhà nước Việt Nam không bảo lưu bất kỳ điều khoản nào về nội dung. iều đó có nghĩa là không thừa nhận và không cho phép tồn tại bất cứ một “vùng cấm” nào mà ở đó có hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ. Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 xác định mục tiêu tổng quát là: “Nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ. Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Chiến lược đã đề ra 5 mục tiêu cụ thể nhằm xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ, thực hiện các quyền bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực lao động, việc làm, giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội và bộ máy lãnh đạo các cấp, các ngành, tăng cường năng lực hoạt động vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Cho đến nay, Việt Nam là một trong các quốc gia Đông Nam Á có tốc độ khắc phục sự cách biệt giới nhanh nhất trong vòng 20 năm trở lại đây (WB-2006) với chỉ số phát triển giới GDI đứng thứ 83/140 quốc gia (UNDP-2005). Việt Nam là một trong những quốc gia đạt tỉ lệ phụ nữ tham gia hoạt động kinh tế cao nhất: 83% (nam giới 85%). Việt Nam cũng là nước dẫn đầu châu Á và đứng thứ 18 toàn cầu về tỉ lệ nữ trong Quốc hội: 27,31%[3].

2. Những quy định pháp luật về bảo vệ quyền phụ nữ ở Việt Nam.

Trước khi tham gia CEDAW nguyên tắc bình đẳng nam nữ đã được thể hiện nhất quán, liên tục trong các bản hiến pháp của Nhà nước Việt Nam. Trong mỗi bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 đều có một điều khoản quy định nguyên tắc chung: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 7 Hiến pháp 1946; Điều 22 Hiến pháp 1959; Điều 55 Hiến pháp 1980) và ít nhất một điều khoản ghi nhận riêng về bình đẳng giữa nam và nữ, về quyền phụ nữ được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện thuận lợi, dành những chế độ chính sách đặc biệt để giúp đỡ họ vừa thực hiện tốt thiên chức riêng của phụ nữ là làm mẹ vừa phát triển tiến bộ bình đẳng với nam giới (Điều 9 Hiến pháp 1946; Điều 24 Hiến pháp 1959; Điều 63 Hiến pháp 1980).

Sau khi tham gia Công ước CEDAW và nhiều công ước quốc tế khác về quyền con người, Hiến pháp 1992 khẳng định Nhà nước Việt Nam tôn trọng các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội và thể hiện các quyền đó ở các quyền công dân được quy định trong hiến pháp và hệ thống pháp luật Việt Nam (Điều 50). Từ nguyên tắc Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 52), toàn bộ chương 5 của Hiến pháp đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (về chính trị Điều 53, 54; về lao động Điều 55, 56; về kinh doanh Điều 57; về dân sự Điều 58; về giáo dục khoa học Điều 59, 60; về chăm sóc sức khoẻ Điều 61) tiếp tục phát triển ở mức cao hơn đầy đủ hơn so với 3 bản Hiến pháp trước, Điều 63 của Hiến pháp 1992 khẳng định quan điểm hướng tới sự bình đẳng thực chất: Ngoài quy định nguyên tắc bình đẳng chung: “Công dân nam và nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình lao động nam và nữ lao động như nhau thì tiền lương ngang nhau”. Hiến pháp còn xác định rõ chế độ pháp lý đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của lao động nữ khi họ làm thiên chức của người mẹ: “Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản.

Trên cơ sở Hiến pháp, nhiều bộ luật, luật được ban hành cũng thực hiện nhất quán bình đẳng thực chất.

Bộ luật lao động ngoài những quy định chung áp dụng một cách bình đẳng đối với lao động nam và nữ còn tuân thủ nguyên tắc coi lao động nữ là lao động đặc thù cần được áp dụng những chính sách điều chỉnh pháp luật riêng phù hợp với chức năng làm mẹ.  Đó là các ưu đãi đối với lao động nữ trong khi tiếp cận việc làm và có việc làm, ưu đãi trong quá trình lao động, trong quản lý lao động ở doanh nghiệp có nhiều lao động nữ, trong các chế độ bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội (xem chương 10 Bộ luật Lao động (sửa đổi).

Luật hôn nhân và gia đình được xây dựng dựa trên nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng đồng thời khẳng định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội bảo vệ phụ nữ và trẻ em (Điều 2, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000) chế độ bảo vệ đặc biệt này được xác định trên sự khác biệt về chức năng giới có tính đến các yếu tố kinh tế, xã hội cũng như ảnh hưởng của văn hoá tâm lý truyền thống ví dụ: Luật hôn nhân gia đình quy định người chồng không được xin ly hôn trong thời gian vợ đang mang thai và nuôi con nhỏ dưới 1 năm (Điều này không áp dụng với người vợ).

Pháp luật Hình sự cũng thể hiện rõ quan điểm bảo vệ sự bình đẳng nam nữ nghĩa là vừa bảo đảm xử lý nghiêm minh đối với mọi hành vi phạm tội vừa có những quy định riêng áp dụng cho tội phạm là nữ hoặc khi phụ nữ là nạn nhân của các hành vi phạm tội. Theo điều 46 Bộ luật Hình sự 1999, người phạm tội là phụ nữ có thai được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và ngược lại theo. Trong điều 48, việc phạm tội đối với phụ nữ có thai được coi là tình tiết tăng nặng. Khi quyết định hình phạt toà án không áp dụng hình thức tử hình với phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Bộ luật Hình sự năm 1999 đã tách Khoản 4 Điều 101 năm 1985 về tội giết người thành một tội riêng: Tội giết con mới đẻ Điều 94 Bộ luật Hình sự 1999 để làm rõ biện pháp hình sự đặc biệt của Nhà nước đối với người mẹ có hành vi giết con mới đẻ hoặc vứt bỏ đứa trẻ dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết trong hoàn cảnh người mẹ phải hành động dưới sức ép của tư tưởng phong kiến lạc hậu trong gia đình và ngoài xã hội, ví dụ: Sinh con một bề, con ngoài giá thú hoặc con bị dị tật trong những trường hợp đó, người mẹ vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng chỉ bị áp dụng các hình phạt như cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

Có thể nói thể hiện tập trung và sinh động nhất quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm sự bình đẳng giới là sự ra đời của Luật Bình đẳng giới. Dự án Luật Bình đẳng giới được Quốc hội khoá XI đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp luật năm 2006 đã thông qua tại kỳ họp khoá X và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2007. Đây là sự khẳng định rõ ràng nhất tập trung nhất nỗ lực vào bước tiến không ngừng của Việt Nam trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bình đẳng nam nữ, xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ và đưa ra những biện pháp thiết thực có tính đến những đặc thù về giới tính của phụ nữ.

Luật Bình đẳng giới gồm 6 Chương 44 điều. Nét nổi bật của Luật Bình đẳng giới chính là nam nữ bình đẳng trong tham gia quản lý Nhà nước, tham gia hoạt động xã hội, nam nữ bình đẳng về chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo cơ quan tổ chức (Điều 11); nam nữ bình đẳng về tiêu chuẩn độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành nghề có tiêu chuẩn chức danh (Điều 13); nam nữ bình đẳng về độ tuổi đi học, đào tạo, bồi dưỡng và trong lựa chọn ngành nghề học tập, đào tạo (Điều 14). Điều đáng lưu ý là Chương 3 về các biện pháp bình đẳng giới, luật đã quy định rõ các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới, những nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, việc thẩm tra lồng ghép bình đẳng giới và thông tin giáo dục truyền thông về giới và bình đẳng giới cũng như nguồn tài chính cho hoạt động bình đẳng giới tất cả đều là những quy phạm cần thiết để tác động tích cực trong việc thực hiện bình đẳng giới.

3. Những vấn đề đặt ra trong việc tiếp tục thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam

Thứ nhất: Hiện tượng đánh giá nhìn nhận thiên kiến, hẹp hòi thiếu tin tưởng vào năng lực lãnh đạo của nữ không phải là cá biệt, dẫn đến sự lơ là thiếu trách nhiệm trong quy hoạch đề bạt, bố trí sử dụng cán bộ nữ vào vị trí lãnh đạo quản lý. Sự định kiến giới không chỉ là định kiến của xã hội gia đình của giới nam đối với giới nữ mà còn là định kiến sự mặc cảm tự ti của bản thân phụ nữ về năng lực lãnh đạo, quản lý của chính mình, điều này dẫn đến tâm lý an phận, triệt tiêu ý thức phấn đấu của phụ nữ. Đây là một thách thức không nhỏ, đòi hỏi phụ nữ phải vượt qua những trở ngại từ chính bản thân mình.

Thứ hai: Gánh nặng trách nhiệm với gia đình: Sự phát triển xã hội và cơ chế thị trường thực chất đã làm tăng thêm gánh nặng trách nhiệm của người phụ nữ trong vai trò làm vợ, làm mẹ làm người thầy đầu tiên của con cái. Thời gian phụ nữ phân tán vào công việc nội trợ gia đình, chăm sóc gia đình khiến phụ nữ ít có điều kiện để tiếp cận với những cơ hội để phát triển bản thân. Đây là thách thức đặt ra đối với hầu hết phụ nữ và cản trở cơ hội thăng tiến của phụ nữ, mặc dù xã hội Việt Nam đã có sự nhận thức khá tiến bộ trong việc thay đổi đáng kể vai trò của phụ nữ và nam giới trong gia đình, từ chỗ người chồng chỉ huy và toàn quyền quyết định chuyển sang việc cả hai vợ chồng cùng bàn bạc quyết định và chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc con cái. Song vẫn chưa thể khắc phục hoàn toàn những quan điểm lệch lạc về vai trò của phụ nữ và nam giới. Ngoài xã hội đó là biểu hiện của định kiến coi thường phụ nữ, cho rằng phụ nữ không thể đảm nhiệm trọng trách trong gia đình, phụ nữ ít nhiều bị ràng buộc bởi tập tục truyền thống gia phong tốn nhiều thời gian và công sức cho việc nội trợ chăm sóc người già trẻ em, ít được quan tâm đến bản thân mình. Thực trạng đó đòi hỏi việc giáo dục nhận thức giới cho mọi thành viên trong xã hội và gia đình cần phải tiến hành rộng rãi và liên tục hơn nữa.

Phụ nữ vừa là nguồn lực quan trọng vừa là nhân tố của sự phát triển xã hội. Việc nghiên cứu về phụ nữ, về sự bình đẳng giới ngày càng trở thành những yêu cầu cấp bách. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực của Nhà nước, xã hội và mỗi thành viên nhằm từng bước xoá bỏ sự bất bình đẳng về giới trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Điều này sẽ tạo điều kiện cho nam nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau cùng tham gia vào quá trình phát triển và hưởng thụ thành quả của sự phát triển, đồng thời hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu vùng xa, vùng đồng bằng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.<




* Khoa Nhà nước - Pháp luật - Học viện Chính trị khu vực I.

[1] Báo cáo về phát triển con người của UNDP 1995

[2]Convention on the Elimination of all forms ò Discrimination against Women.

[3] Trần Thị Mai Hương – Uỷ ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam. “25 năm thực hiện CEDAW ở Việt Nam – Kết quả và những vấn đề đặt ra” – Hội thảo “25 năm thực hiện Công ước CEDAW – Thực tiễn ở Việt Nam