NHẬN THỨC VỀ SKSS CỦA ĐỐI TƯỢNG TIỀN HÔN NHÂN
Ở HÀ NỘI HIỆN NAY- MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
    THS. ĐỖ VĂN QUÂN*

1. Giới thiệu
Một số công trình nghiên cứu gần đây cho thấy, VNT, TN và THN ở Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung đang được đánh giá là nhóm người dễ bị tổn thương về sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản(SKSS).(Dehne KL và Riedner G, 2001; Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, 2000). Đó là tình trạng thiếu kiến thức và thông tin về SKSS, cùng với những biến đổi nhanh chóng về kinh tế, văn hóa, xã hội là nguyên nhân cơ bản dẫn đến hành vi có nguy cơ cao ở VTN, TN và THN Việt Nam, nhất là tại các đô thị trong giai đoạn hiện nay. Bài viết này dựa trên số liệu khảo sát của Đề tài, “Thực trạng nhận thức về SKSS của đối tượng THN ở Hà Nội hiện nay”.
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn 306 đối tượng tiền hôn nhân từ 16 đến 25. Trong đó chia thành 3 nhóm độ tuổi: từ 16 đến 18 tuổi có 187 đối tượng chiếm 61,4%; từ 19 đến 20 tuổi có 90 đối tượng chiếm 29,4%; từ 21 đến 25 tuổi có 29 đối tượng chiếm 9,5%. Nam chiếm 47%, nữ chiếm 53%. Về nghề nghiệp, có 75 đối tượng đang đi làm chiếm 24,5%; 113 là sinh viên chiếm 36,9%; 118 là học sinh chiếm 38,6%. Về mức sống, có 49 đối tượng chiếm 16,0% có cuộc sống khá giả; 218 đối tượng chiếm 71,2% có cuộc sống trung bình; 12,7% đối tượng có cuộc sống dưới trung bình. Bên cạnh đó cơ cấu mẫu còn tính tới nơi cư trú (nội thành và ngoại thành); tôn giáo và nghề nghiệp của bố mẹ.
Nghiên cứu định tính gồm phỏng vấn sâu 20 đối tượng. Trong đó có 10 đối tượng tiền hôn nhân (5 nam, 5 nữ); 5 đại diện cho cha mẹ/ ông bà của đối tượng tiền hôn nhân; 5 cán bộ ban ngành, đoàn thể ( cán bộ dân số-gia đình-trẻ em, y tế, phụ nữ, đoàn thanh niên, văn hoá-thông tin). Trong 20 đối tượng phỏng vấn sâu chú ý bảo đảm cơ cấu theo giới tính, độ tuổi, học vấn; khu vực sinh sống, nghề nghiệp...
Địa bàn khảo sát gồm 5 xã/phường thuộc 5 quận/huyện đại diện cho 14 quận/huyện của Thành phố. Mỗi xã phường lựa chọn 60 đối tượng để khảo sát theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Thời gian tiến hành khảo sát trong tháng 10/2006.
2. Kết quả nghiên cứu
1.  Mức độ nhận thức về SKSS cho đối tượng THN ở Hà Nội đã đạt tỷ lệ khá cao, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận không nhỏ chưa được tiếp cận. Kết quả nghiên cứu cho thấy, bên cạnh 85,9% ý kiến trả lời có nghe đến SKSS vẫn còn 14,1% đối tượng cho biết chưa hề nghe đến vấn đề SKSS. Đây là một vấn đề đặt ra cho công tác thông tin, giáo dục và truyền thông SKSS cho đối tượng THN của Hà Nội. Lâu nay người ta vẫn suy nghĩ rằng, là một địa phương vốn có nhiều điều kiện thuận lợi để phổ biến kiến thức về SKSS, thì chắc hẵn rằng mọi đối tượng đều sẽ được đáp ứng. Điều này cho thấy sự phân tầng trong cơ hội tiếp cận kiến thức về SKSS của đối tượng THN ở Hà Nội.
2. Một khoảng cách khá lớn giữa mức độ tiếp cận kiến thức về SKSS với mức độ quan tâm thực sự về kiến thức SKSS của đối tượng THN. Nếu như thông tin ban đầu cho biết đã có một tỷ lệ khá lớn đối tượng được hỏi đã khẳng định sự tiếp cận của bản thân đối với kiến thức về SKSS thì khi đi sâu vào tìm hiểu lại cho thấy, dường như phần lớn các đối tượng chưa được tạo nhiều cơ hội thuận lợi để quan tâm nắm bắt các kiến thức liên quan đến vấn đề SKSS. Nội dung cao nhất đạt 70,9% ý kiến khẳng định nghe thường xuyên (SKSS vị thành niên); nội dung thấp nhất chỉ đạt tỷ lệ khẳng định 12,7% (phát hiện và điều trị sớm ung thư vú và đường sinh dục).
3. Nam THN có xu hướng nắm bắt kiến thức hiểu biết về SKSS luôn thấp hơn so với nữ. Đây là một bất cập và có thể đẩy đến nguy cơ khi mà các nghiên cứu đều khẳng định nam giới tham gia vào quan hệ tình dục trước hôn nhân cao hơn nhiều so với nữ giới. So sánh giữa nam giới và nữ giới trong các nội dung nhận thức về SKSS, nữ giới luôn có tỷ lệ trả lời “biết thường xuyên” cao hơn với sự dao động từ 1 đến 17%.
4. Độ tuổi của đối tượng THN càng thấp thì mức độ hiểu biết về SKSS của họ càng ít, thiếu chính xác và vững chắc. Trong khi đó, các nghiên cứu gần đây cho thấy, độ tuổi bước vào quan hệ tình yêu, tình dục của đối tượng THN đang có xu hướng giảm nhanh. Số liệu cho biết, ở nhóm đối tượng THN dưới 18 tuổi luôn tiếp cận thông tin về SKSS ở mức độ “thường xuyên” thấp hơn so với nhóm 19-20 tuổi; tương tự như vậy, nhóm 19-20 tuổi lại có mức độ tiếp cận thấp hơn so với nhóm 21 đến 25 tuổi. Đối với tất cả các chỉ báo thuộc nội dung SKSS các khoảng các chênh lệch của 3 nhóm độ tuổi là tương đối lớn. Chẳng hạn, đối với chỉ báo: giảm nạo hút thai và nạo hút thai an toàn số liệu, ở nhóm độ tuổi dưới 18 chỉ có 29,9% ý kiến khẳng định tiếp cận thường xuyên; ở nhóm độ tuổi từ 19-20 đã tăng lên 34,4% và đến nhóm độ tuổi 21 đến 25 đã tăng lê tới 51,7%.
5. Phần lớn đối tượng THN ở Hà Nội đã biết đến những căn bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản nhất là HIV/AIDS, nhưng kiến thức cụ thể còn chưa chính xác. Điều này sẽ dẫn đến hai hậu quả: nguy cơ lẫy nhiễm cao và thái độ phân biệt đối xử, kỳ thị gia tăng trong cộng đồng. Số liệu nghiên cứu định lượng cho thấy. Nếu như các bệnh về HIV/AIDS; bệnh lậu; giang mai có chỉ báo dương tính rất cao (95,4%; 82,7% và 85,9%) thì đối với các loại bệnh nhiễm trùng roi, viêm gan B có tỷ lệ nhận biết rất thấp (10.5% và 26,8%%) (Số liệu này cũng tương ứng với một nghiên cứu ở thành phố Hải Phòng các đây 1 năm).
6. Đa số các đối tượng THN của Hà Nội đã kể tên được các bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản, tuy nhiên kiến thức về dấu hiệu triệu chứng cuả các bệnh lây truyền qua đường tình dục và cách phòng tránh. Số liệu khảo sát cho thấy đối tượng THN ở Hà Nội nhận thức về các dấu hiệu nhiễm khuẩn đường sinh sản còn chưa cao, còn tới 25,1% chưa hề nhận biết được một dấu hiệu nào; chỉ báo có nhiều đối tượng THN nhận biết nhất cũng mới đạt 65,5%. Đây là một trở ngại lớn để nâng cao kỹ năng thực hành phòng, tránh các bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản.
7. Một bộ phận lớn đối tượng THN ở Hà Nội chưa thực sự quan tâm đến hậu quả có thể xảy ra do các bệnh lây nhiễm qua đường sinh sản gây ra. Chỉ báo vô sinh được nhiều ý kiến chia sẽ nhất nhưng cũng chỉ đạt 84,3%; các chỉ báo về tử vong và thai bất thường, dị tật còn chưa được quan tâm nhận thức (55,9% và 52,6%).
8. Đã có sự cải thiện đáng kể, tuy nhiên mức độ hiểu biết về các nội dung KHHGĐ ở các đối tượng THN Hà Nội còn thấp. Mức độ hiểu biết về các vấn đề KHGĐ của đối tượng THN còn thấp, thậm chí một bộ phận còn hiểu sai lệch (thường dưới 70%), ngoại trừ nội dung “mỗi cặp vợ chồng chỉ có từ 1 đến 2 con”.
- Mặc dù đa số các đối tượng THN đã có sự nhận thức khá tốt trong việc kể tên các biện pháp tránh thai, việc nhận thức về các biện pháp tránh thai, tuy nhiên qua nghiên cứu định tính, họ còn thiếu hiểu biết về tác dụng và kỹ năng sử dụng của từng biện pháp tránh thai. Nhiều trường hợp có thể kể tên cụ thể và rất đầy đủ các biện pháp tránh thai, tuy nhiên khi yêu cầu họ nói về tác dụng, cách sử dụng của từng biện pháp đó thì rất ít người có khả năng đáp ứng tốt.
9. Một bộ phận không nhỏ đối tượng THN của Hà Nội thiếu hụt về kiến thức làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em ở đối tượng THN. Sự hiểu biết về cách làm mẹ an toàn, chăm sóc thai nhi và trẻ em của các đối tượng THN còn chưa cao, chưa đồng đều giữa các chỉ báo. Trong các chỉ báo thường chỉ đạt tỷ lệ khẳng định dưới 70% và có sự chênh lệch từ 20-30% giữa các chỉ báo.
10. Mặc dù đối tượng THN ở Hà Nội đã có sự hiểu biết khá cao về những tác hại của việc nạo phá thai, tuy nhiên sự nhận thức này còn chưa vững chắc. Số liệu cho biết về mức độ nhận thức các hậu quả do nạo phá thai gây ra đã thể hiện mức độ khá quan tâm cuả các đối tượng THN ở Hà Nội trước vấn đề nạo phá thai. Khi trả lời câu hỏi về các biện pháp giảm tác hại của việc nạo phá thai số liệu cho biết: Không nên quan hệ tình dục trước hôn nhân (85,0%); (biện pháp này ít có tính thực tế cao) Dùng bao cao su hoặc uống thuốc ngừa thai khi quan hệ tình dục (78,8%)(có tính thực tế cao); Không nên để thai to quá 3 tháng mới đi nạo hút thai (56,9%) và cần đến cơ sở y tế để nạo hút thai (56,5% (những biện pháp này có tính thực tế cao nhưng số lượng THN nhận thức được còn quá thấp).
 

* Viện Xã hội học và Tâm lý LĐQL, Học viện CTQG Hồ Chí Minh