KIẾN THỨC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở QUẢNG NINH VỀ HIV/AIDS
PGS.TS. NGUYỄN THỊ THIỀNG [1]

 

1. Nhận thức về HIV/AIDS
-          Tỷ lệ người lao động không biết HIV/AIDS không nhỏ
            Trong tổng mẫu điều tra có 947 người có trả lời câu hỏi về HIV là gì, có 78,9% số người trả lời đúng. Như vậy vẫn còn 21,1% người lao động không biết gì về HIV/AIDS, mặc dù trong thời gian qua HIV/AIDS đã được truyền thông rất rộng rãi qua các phương tiện thông tin đại chúng và qua hoạt động của dự án “Đương đầu với HIV/AIDS tại nơi làm việc”. Đây là vấn đề cần chú ý trong công tác truyền thông và trong việc đào tạo lại kiến thức cho các TTV và nhà quản lý.
-          Tỷ lệ người không biết đầy đủ các giai đoạn phát triển của HIV/AIDS tương đối cao
            Chỉ có 58,3% số đối tượng trả lời phỏng vấn có kiến thức đúng về các giai đoạn phát triển của HIV/AIDS, còn lại 41,7% trả lời sai. Trong đó, người lao động vào làm việc sau năm 2004 có kiến thức tốt hơn, tỷ lệ đối tượng vào sau 2004 trả lời đủ 4 giai đoạn phát triển của HIV là 70,33%, tỷ lệ này ở những người lao động vào làm việc trước 2004 là 52,6%.
            Hiểu biết về giai đoạn cửa sổ trong quá trình phát triển HIV của đối tượng điều tra còn thấp, trên tổng mẫu cũng chỉ có 68,7% trả lời đúng, trong đó tỷ lệ trả lời đúng thấp nhất là ở lao động trước năm 2004 (61,8%). Đây là một vấn đề cần chú ý cho công tác tuyên truyền về HVI/AIDS trong thời gian sắp tới.
-          Tỷ lệ người không hiểu biết về cách phát hiện vi rút HIV trong cơ thể người còn cao
Bảng 1: Phân bố phần trăm đối tượng phòng vấn theo hiểu biết HIV
 
NLĐ
sau 2004
NLĐ
Trước 2004
TTV và
quản lý
Tổng
Đúng
Sai
Đúng
Sai
Đúng
Sai
Đúng
Sai
1. HIV là tên một loại vi rút
83.3
16.7
76.6
23.4
79.3
20.7
78.9
21.1
2. HIV/AIDS gồm 4 giai đoạn
70.3
29.7
52.7
47.3
57.9
42.1
58.3
41.7
3. Giai đoạn cửa sổ là giai đoạn mới nhiễm
73.3
26.7
61.8
38.2
79.9
20.1
68.7
31.3
4. Xét nghiệm máu thông thường không phát hiện HIV
52.4
47.6
58.6
41.4
76.4
23.7
60.8
39.3
5. Bệnh LTQĐTD làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS
92.7
7.3
97.8
2.2
97.5
2.5
96.4
3.6
6. HIV/AIDS làm cho việc mắc bệnh LTQĐTD trở lên trầm trọng
93.3
6.7
96.4
3.6
95.9
4.1
95.5
4.5
7. Một người nhiễm ở giai đoạn cửa sổ có thể lây truyền cho người khác
86.7
13.3
85.6
14.4
91.0
9.0
87.0
13.0
8. Một người trông khỏe mạnh có thể nhiễm virus HIV
89.9
10.1
87.4
12.6
97.5
2.5
90.2
9.8
-          Đại bộ phận người lao động hiểu biết mối quan hệ qua lại giữa HIV/AIDS và các bệnh LTQĐTD
Tỷ lệ đối tượng cho là mắc các bệnh LTQĐTD làm tăng khả năng lây nhiễm HIV rất cao (96%). Tỷ lệ này thấp nhất ở lao động vào làm việc sau 2004 (92,7%). Không có sự khác biệt về kiến thức này giữa TTV và người lao động trước 2004. 95,5% số đối tượng cho rằng HIV/AIDS làm cho việc nhiễm bệnh LTQĐTD trở lên trầm trọng hơn). Tỷ lệ này thấp nhất ở người lao động vào làm việc sau 2004 (93,3%).
Để kiểm tra hiểu biết của người lao động nghiên cứu này còn sử dụng hai câu hỏi: Người nhiễm HIV ở giai đoạn cửa sổ có thể lây nhiễm cho người khác không? Một người trông khoẻ mạnh có thể nhiễm vi rút HIV không? Tỷ lệ trả lời đúng hai câu hỏi này cao (87% cho câu hỏi thứ nhất và 90,2% cho câu hỏi thứ hai). Tuy nhiên, tỷ lệ 10% trả lời sai câu hỏi này cũng là một vấn đề cần lưu ý cho công tác truyền thông. Đặc biệt lưu ý là tỷ lệ trả lời sai hai câu hỏi này cao nhất thuộc về người lao động vào làm việc trước năm 2004.
-          Đa số người lao động biết được triệu chứng ban đầu của giai đoạn AIDS
Tỷ lệ nêu được các triệu chứng của giai đoạn AIDS của đối tượng trả lời phòng vấn tương đối cao. Đó là: sút cân (88,56%); Tiêu chảy kéo dài (87,64%); Nổi mụn trên da (82,45%); Sốt kéo dài (77,36%); Ho kéo dài (59,81%).
Triệu chứng
NLĐ
sau 2004
NLĐ
Trước 2004
TV và quản lý
Chung
Sút cân
87.10
86.13
96.55
88.58
Tiêu chảy kéo dài
88.71
85.94
90.64
87.64
Sốt kéo dài
71.77
76.95
85.22
77.36
Ho kéo dài
49.60
63.48
63.05
59.81
Nổi mụn trên da
79.44
81.45
88.67
82.45
Nhìn chung mức độ hiểu biết về HIV của người lao động chỉ đạt mức độ trên trung bình. Trong đó hiểu biết của TTV và nhà quản lý là tốt nhất. Kiến thức của những người vào làm việc sau năm 2004 thấp hơn kiến thức của người lao động trước năm 2004 về các điểm sau: Xét nghiệm máu thông thường không phát hiện HIV; Bệnh LTQĐTD làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS; HIV/AIDS làm
cho việc mắc bệnh LTQĐTD thêm trầm trọng và các triệu chứng của giai đoạn AIDS.
Điều này cho thấy công tác tuyên truyền của Dự án CARE về các vấn đề này là khá tốt. Người lao động vào làm việc trước 2004 lại có tỷ lệ trả lời sai cao hơn những người lao động vào sau năm 2004 về các chỉ tiêu sau: HIV là gì; Quá trình phát triển HIV/AIDS chia thành mấy giai đoạn; Một người nhiễm ở giai đoạn cửa sổ có thể lây truyền cho người khác không; một người trông khỏe mạnh có thể nhiễm vi rút HIV không? Kết quả này cho thấy, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền các kiến thức cập nhật hoàn chỉnh về HIV cho cả hai nhóm công nhân vào công ty làm việc trước và sau 2004 trong thời gian sắp tới.
2. Hiểu biết về con đường lây nhiễm HIV/AIDS
Tỷ lệ đối tượng hiểu biết về ba con đường lây nhiễm HIV rất cao. Trong đó, tỷ lệ người biết HIV lây nhiễm qua đường máu là cao nhất (100%). Tiếp đến là tỷ lệ người biết HIV lây nhiễm qua con đường tình dục (99%), tỷ lệ đối tượng biết HIV lây truyền từ mẹ sang con là thấp nhất, nhưng cũng đạt là 85,7%. Hầu như không có sự khác biệt giữa người lao động vào làm việc sau và trước năm 2004, có thể là do người vào làm việc sau năm 2004 đều là trẻ tuổi, vừa rời ghế nhà trường, các vấn đề về HIV/AIDS, đặc biệt là con đường lây nhiễm HIV đã được tuyên truyền rầm rộ qua phương tiện thông tin đại chúng, nhiều chương trình dự án khác nhau. Số liệu này cũng cho phép đánh giá là công tác truyên truyền về ba con đường lây nhiễm HIV tại các công ty đã được thực hiện khá tốt.
3. Hiểu biết về cách phòng tránh lây truyền HIV/AIDS
Tỷ lệ đối tượng biết cách phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS bằng cách không dùng bơm kim tiêm chung; sử dụng Bao cao su trong quan hệ tình dục rất cao (khoảng 97% và 93%) và không có sự khác biệt rõ rệt giữa người lao động được tuyển dụng trước và sau năm 2004. Đây cũng là biện pháp được tuyên truyền rộng rãi trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, cũng như hầu hết các dự án liên quan đến phòng và tránh HIV/AIDS.
Các cách phòng tránh
Điều tra đánh giá tác động
 
 
 
NLĐ sau 2004
NLĐ Trước 2004
Không dùng chung bơm kim tiêm
96.91
97.44
 
Sử dụng BCS khi QHTD
92.28
93.04
 
Truyền máu sạch
80.69
78.13
 
Chung thuỷ một vợ một chồng
79.54
80.68
 
Không QHTD
30.50
37.07
 
Không QHTD với người bị ốm
82.24
73.72
 
Tuy nhiên, tỷ lệ đối tượng chưa biết đến việc truyền máu sạch như một biện pháp để ngăn chặn sự lây truyền HIV/AIDS còn khá cao (khoảng 20%). Đây cũng là một vấn đề cần chú ý
trong công tác truyền truyền về HIV/AIDS cho người lao động trong thời gian tới.
4.       Hiểu biết về QHTD an toàn
Tỷ lệ đối tượng đã từng nghe thuật ngữ "tình dục an toàn" cao (91,4%), tuy vẫn còn 10% đối tượng không hề nghe đến thuật ngữ này. Người lao động vào làm trước năm 2004 có tỷ lệ đã từng nghe thuật ngữ này thấp nhất (89,5%).
Bảng 4: Phân bố phần trăm đối tượng trả lời theo hiểu biết về QHTD an toàn
Nội dung
NLĐ
sau 2004
NLĐ
trước 2004
Tổng
Đã từng nghe thuật ngữ
92.6
89.5
91.4
Sử dụng BCS đúng cách
89.5
85.2
87.8
Chung thuỷ, một vợ một chồng
89.1
85.2
87.5
Không QHTD với gái mại dâm
78..2
69.7
73.7
Không QHTD với người đồng tính luyến ái
57.3
52.2
56.4
87,3% đối tượng cho rằng QHTD an toàn là "sử dụng BCS đúng cách", trong đó tỷ lệ này cao nhất ở nhóm TTV và thấp nhất ở nhóm người lao động làm việc trước năm 2004. Tình trạng này tương tự với "chung thuỷ 1 vợ 1 chồng". Như vậy, khoảng 13% không chọn biện pháp “sử dụng BCS đúng cách” và “chung thuỷ, 1 vợ 1 chồng”, 27% không chọn biện pháp “Không QHTD với gái mại dâm” và 44% không chọn biện pháp “Không QHTD với người đồng tính luyến ái”.
5. Đánh giá khả năng lây nhiễm HIV/AIDS của bản thân
Khoảng 45% đối tượng được phỏng vấn cho là họ hoàn toàn không có khả năng lây nhiễm HIV. Tỷ lệ này ở lao động làm việc trước năm 2004, thấp hơn lao động vào làm việc sau năm 2004 (45% so với 50,2%).
11,5% đối tượng trong tổng mẫu cho rằng bản thân họ có nhiều khả năng lây nhiễm. Tỷ lệ này cao nhất ở đối tượng vào làm việc sau năm 2004 (12,2%)
Bảng 5 : Tỷ lệ phần trăm tự đánh giá khả năng lây nhiễm HIV của bản thân
Nội dung
NLĐ
sau 2004
NLĐ
Trước 2004
Tổng
Không có khả năng nào
50.2
45.0
45.1
ít khả năng
28.2
31.8
33.1
Nhiều khả năng
12.2
11.8
11.5
Không Biết
9.4
11.4
10.3
Tổng số
100
100
100
Số người
245
509
955
            Nếu tính gộp cả tỷ lệ cho rằng “ít có khả năng lây nhiễm” và “nhiều khả năng lây nhiễm” thành nhóm có khả năng lây nhiễm thì tỷ lệ này lên tới 45% trong tổng mẫu. Điều này có nghĩa là số người tự đánh giá không có khả năng lây nhiễm và có khả năng lây nhiễm tương tự nhau. Như vậy, đa số không tự đánh giá được nguy cơ nhiễm HIV của bản thân mình, hoặc cho rằng mình không có nguy cơ nhiễm HIV nào.
            Việc thực hành phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS được đánh giá thông qua chỉ tiêu sử dụng BCS trong QHTD. Kết quả điều tra cho biết tỷ lệ đối tượng điều tra sử dụng BCS trong quan hệ tình dục nói chung tương đối cao (74% đối với lao động trước 2004 và 60, 23% đối với lao động sau năm 2004).
Bảng 6. Phần trăm đối tượng trả lời phỏng vấn theo mục đích sử dụng BCS
 
LĐ sau 2004
LĐ trước 2004
Đã từng sử dụng bao cao su
60.23
74.86
Mục đích kế hoạch hoá gia đình
54.05
70.03
Mục đích phòng lây nhiễm bệnh QĐTD
39.77
41.05
Mục đích phòng lây nhiễm HIV/AIDS
32.82
37.78
Nhưng tỷ lệ sử dụng BCS trong QHTD ngoài hôn nhân rất cao, tại thời điểm điều tra năm 2007 đã có tới 94,8% lao động trước 2004 và 90,4% lao động sau năm 2004 có QHTD ngoài hôn nhân đã sử dụng BCS. Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến 10% đối tượng có QHTD ngoài hôn nhân mà không sử dụng BCS.
 Vì vậy công tác tuyên truyền và tiếp thị xã hội về sử dụng bao cao su vẫn cần hướng tới người lao động, đặc biệt là nam giới chưa có gia đình hoặc/và đi làm xa gia đình, vì đây là những người trong độ tuổi có nhu cầu tình dục mạnh.
 
 
NLĐ
sau 2004
NLĐ
Trước 2004
Đã từng sử dụng BCS
90,4
94,8
Mục đích tránh thai và KHHGĐ
73,8
70,8
Tránh lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục
81,0
76,0
Tránh lây nhiễm HIV/AIDS
81,5
79.3
            
            Tỷ lệ người lao động trả lời dùng BCS để phòng tránh lây nhiễm các bệnh LTQĐTD và HIV khi có QHTD ngoài hôn nhân tương đối cao (trên 80% đối với người lao động làm việc trước năm 2004 và gần 80% người lao động làm việc sau năm 2004). Tuy nhiên, khoảng 20% người lao động chưa chú ý đến việc sử dụng BCS để phòng tránh các bệnh LTQĐTD và HIV khi có QHTD ngoài hôn nhân, cũng còn là một khoảng trống mà các doanh nghiệp cần chú ý trong việc tuyên truyền để phòng tránh lây nhiễm các bệnh LTQĐTD cho người lao động.
            Kết luận: Chủ đề về HIV/AIDS đã được tuyền truyền rất rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng và cũng là chủ đề mà dự án “đương đầu với HIV/AIDS tại nơi làm việc ở Quảng Ninh chú trọng tuyên truyền, nên hiểu biết của người lao động trong các công ty than về vấn đề này tương đối khá. Tuy nhiên, các kiến thức sâu về HIV/AIDS như: Xét nghiệm để tìm ra vi rút HIV, hiểu biết về các giai đoạn phát triển của HIV/AIDS và khả năng lây nhiễm trong từng giai đoạn phát triển của HIV/AIDS của người lao động còn chưa cao.
            Tỷ lệ người lao động tự đánh giá không có khả năng lây nhiễm HIV và có khả năng lây nhiễm HIV tương đương nhau (khoảng 45%). Khoảng 80% người lao động có QHTD ngoài hôn nhân cho biết họ sử dụng BCS để tránh lây nhiễm các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS. Như vậy, còn khoảng 20% người lao động chưa sử dụng BCS với mục đích này.
            Như vậy, việc tuyên truyền kiến thức về HIV/AIDS cho người lao động vẫn cần được tiếp tục. Cần chú trọng nội dung tuyên truyền, cần tuyên truyền các kiến thức sâu hơn về HIV/AIDS như phương thức phát hiện nhiễm vi rút; Các giai đoạn phát triển và khả năng lây truyền ở từng giai đoạn phát triển của HIV/AIDS và cách chăm sóc người nhiễm HIV tại nơi làm việc.
 
 
[1]Viện Dân số và các vấn đề xã hội - Đại học Kinh tế Quốc dân.