XÂY DỰNG HỆ THỐNG Y TẾ CÔNG BẰNG HIỆU QUẢ VÀ PHÁT TRIỂN           

·       Triển khai đồng bộ các giải pháp, phấn đấu đạt chỉ tiêu giảm sinh năm 2008 là 0,3 phần ngàn.
·       9 nội dung trọng tâm của ngành Y Tế.
LTS. Nhân kỷ niệm ngày thày thuốc Việt Nam 27/2/2008, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã đến thăm và làm việc với Bộ Y Tế. Nhân dịp này, Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu đã có bài phát biểu tại lễ kỷ niệm. Tạp chí Dân số và Phát triển xin giới thiệu xin trích bài phát biểu của Bộ trưởng.
      Trong năm qua, cùng với quá trình đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, ngành Y tế cũng trải qua những khó khăn, thách thức, triển khai công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, bước đi còn mới mẻ, nhưng chúng ta đã đạt được kết quả bước đầu đáng phấn khởi.
1. Với sự quan tâm chỉ đạo và đầu tư của Đảng và Nhà nước, hệ thống y tế ở các tuyến tiếp tục được củng cố và phát triển. Đến nay 100% số xã, phường có cán bộ y tế (CBYT) hoạt động, 69% số xã có bác sĩ; 85% số thôn bản có nhân viên y tế; trên 46% số xã toàn quốc đã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản có chất lượng, đặc biệt là người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số...
2. Đối với y tế dự phòng, trước tình hình dịch bệnh diễn biến hết sức phức tạp, ngành Y tế đã chủ động và tích cực triển khai tốt công tác phòng chống dịch, không để dịch lớn xảy ra. Kịp thời khắc phục hậu quả lũ lụt, thiên tai, thảm họa. Phối hợp với Bộ NN-PTNT khống chế dịch cúm A (H5N1) ở gia cầm và trên người. Khống chế dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm, không để dịch tái phát. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các biện pháp phòng chống các dịch bệnh nguy hiểm khác, như: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét, lao, phong, sốt xuất huyết, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em, triển khai tốt chương trình tiêm chủng mở rộng... Đẩy mạnh công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP).
3. Đối với công tác khám chữa bệnh (KCB): Chất lượng dịch vụ KCB ở các tuyến (đặc biệt là tuyến TƯ và ở các thành phố) đã cơ bản đáp ứng tốt nhất nhu cầu KCB của nhân dân, cứu chữa nhiều ca bệnh hiểm nghèo mà trước đây 5-7 năm còn bó tay. Nhiều kỹ thuật y học mới, tiên tiến đã được thực hiện thành công và trở thành thường quy ở Việt Nam như ghép thận, ghép gan, thụ tinh ống nghiệm, phẫu thuật tim hở, nong mạch vành, mổ nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể... Bên cạnh hệ thống y tế của Nhà nước, y tế tư nhân cũng ngày càng lớn mạnh. Tính đến nay cả nước đã có trên 30.000 cơ sở hành nghề y tư nhân (trong đó có 66 bệnh viện tư). Hệ thống y tế tư nhân đã giúp giảm tải cho y tế nhà nước, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện để người dân có nhiều lựa chọn hơn khi có nhu cầu CSSK.
4. Về phát triển nhân lực y tế: Tính đến nay, cả nước có 95 cơ sở đào tạo CBYT (trong đó có 19 trường đại học và 25 trường cao đẳng). Trình độ chuyên môn và năng lực của cán bộ y tế ngày càng được nâng cao. Đề án đào tạo cử tuyển cho một số tỉnh vùng khó khăn cũng đang được triển khai.
5. Về quản lý, sản xuất và cung ứng thuốc: Cung ứng thuốc năm 2007 tăng khoảng 20% so với năm 2006. Chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm y tế tăng ở mức thấp hơn so với tỷ lệ tăng chỉ số giá tiêu dùng nói chung. Trong những thời điểm khó khăn như thiên tai, lụt bão, dịch bệnh xảy ra thì ngành Y tế vẫn bảo đảm cung ứng kịp thời và đủ thuốc chữa bệnh cho nhân dân.
6. Đối với công tác chăm sóc SKSS, DS-KHHGĐ: Tỷ lệ phụ nữ có thai được quản lý đạt đến 90%. Tỷ suất phụ nữ mắc và chết do các tai biến sản khoa, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em, tỷ suất chết trẻ em dưới 5 tuổi, dưới 1 tuổi đều giảm so với những năm trước. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố văn hóa - xã hội, chỉ tiêu mức giảm sinh do Quốc hội giao là 0,3%o chưa đạt được.
7. Về chính sách tài chính và đầu tư: Tiếp tục thực hiện tốt chính sách KCB cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số, các đối tượng hưởng chính sách xã hội. Về việc thực hiện cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập: Đến nay, 100% các bệnh viện thuộc Bộ Y tế và 90% bệnh viện và các cơ sở sự nghiệp y tế công lập của các địa phương đã được giao thực hiện Nghị định 43. Việc thực hiện Nghị định 115 về cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp khoa học và Nghị định 53 về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập cũng đang được Bộ Y tế thúc đẩy triển khai. Kết quả triển khai ban đầu cho thấy các đơn vị thực hiện đã cải thiện khá rõ rệt cơ chế quản lý, tăng cường hiệu quả hoạt động, huy động thêm được nguồn vốn để đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị, chất lượng dịch vụ y tế nhờ đó được nâng cao, và đời sống của cán bộ công nhân viên ngành Y tế cũng được cải thiện hơn.
       Bên cạnh những thành công nói trên, chúng ta cũng cần thẳng thắn nhận thấy rằng công tác y tế của ta hiện nay vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và tồn tại, thiếu sót cần giải quyết. Nhân Ngày Thầy thuốc Việt Nam, thay mặt lãnh đạo ngành Y tế, tôi đề nghị toàn ngành chúng ta thi đua quyết tâm khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm để thực hiện tốt nhiệm vụ CSSK nhân dân được Đảng và Nhà nước giao phó; trong năm 2008 tập trung thực hiện tốt 9 nội dung trọng tâm sau đây:
1. Tập trung triển khai hiệu quả các giải pháp phòng chống dịch bệnh, quyết tâm không để dịch bệnh lớn xảy ra! Chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với thiên tai, thảm họa và các tình huống khẩn cấp khác về y tế.
2. Từng bước giải quyết hậu quả tình trạng quá tải bệnh viện tuyến TƯ và thành phố lớn, bằng cách: Tăng cường CSSK ban đầu ở tuyến cơ sở; đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật cho tuyến tỉnh, huyện; nâng cao chất lượng điều trị, giảm số ngày nằm viện trung bình; khuyến khích người dân KCB đúng tuyến chuyên môn; tận dụng điều kiện hiện có để tăng số giường bệnh; phát triển hình thức điều trị ban ngày; phát triển BV tư... Phấn đấu trong 2-3 năm tới giảm rõ rệt tình trạng nằm 2-3 người/1 giường bệnh.
3. Đổi mới cơ chế quản lý và cơ chế tài chính theo hướng tự chủ để tăng cường hiệu quả hoạt động của đơn vị. Triển khai tốt công tác xã hội hoá, tăng cường huy động tiềm năng và nguồn lực xã hội để CSSK cho nhân dân tốt hơn. Tiếp tục thực hiện tốt chính sách KCB cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số, các đối tượng chính sách và người cận nghèo.
4. Triển khai thiết thực phong trào thi đua: “Toàn ngành Y tế thi đua lập thành tích kỷ niệm 60 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2008)”. Tiếp tục đưa cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đi vào chiều sâu, có đánh giá, tổng kết và phân tích kết quả cụ thể. Nâng cao tinh thần phục vụ người bệnh theo lời dạy của Người: “Lương y như từ mẫu”!
5. Triển khai hiệu quả các biện pháp bình ổn giá thuốc. Phấn đấu đảm bảo mức độ tăng giá thuốc thấp hơn mức tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Hoàn thành việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật theo kế hoạch được Chính phủ giao, trong đó có: Luật BHYT, Luật KCB, Luật ATVSTP, Luật Dân số và Luật Phòng, chống tác hại thuốc lá và dự thảo và văn bản dưới Luật. Tăng cường quản lý chất lượng dịch vụ y tế. Tăng cường đội ngũ thanh tra y tế. Chú trọng thanh tra hành nghề y - dược tư nhân, thanh tra VSATTP, quản lý sử dụng vaccine, sinh phẩm...
7. Tổ chức, bộ máy Bộ Y tế theo chức năng, nhiệm vụ mới. Nghiên cứu, đề xuất Chính phủ mô hình tổ chức y tế địa phương. Phát triển nguồn nhân lực y tế. Triển khai việc đào tạo cử tuyển, đào tạo theo địa chỉ cho các vùng khó khăn. Xây dựng dự án đào tạo chuyên sâu và đào tạo nhân tài cho ngành Y tế.
8. Tăng cường chỉ đạo và triển khai đồng bộ các giải pháp để phấn đấu đạt được mục tiêu mức giảm sinh năm 2008 là 0,3%o và tỷ lệ phát triển dân số là 1,25%. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục và tư vấn (đặc biệt ưu tiên 23 tỉnh có mức sinh cao). Lồng ghép truyền thông với cung cấp dịch vụ KHHGĐ tại các địa bàn xã có mức sinh cao, mức sinh chưa ổn định. Đảm bảo cung ứng đầy đủ và kịp thời các biện pháp tránh thai có chất lượng.
9. Về đầu tư, tiếp tục triển khai Đề án nâng cấp bệnh viện huyện theo Quyết định 225; Đề án phát triển Trung tâm Y tế dự phòng tuyến huyện theo Quyết định 1402; Đề án trạm y tế xã theo Quyết định 950 của Thủ tướng Chính phủ. Triển khai xây dựng, nâng cấp các bệnh viện đa khoa vùng; phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu. Xúc tiến việc xây dựng các trung tâm xét nghiệm, kiểm tra chất lượng dược phẩm, ATVSTP đủ năng lực ở các tuyến. Phối hợp với các địa phương để quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn trái phiếu Chính phủ cho y tế. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân các dự án ODA đã được phê duyệt; khẩn trương xây dựng dự án ODA mới cho các tỉnh Bắc Trung bộ, Nam Trung bộ và một số địa phương khác.