Việt Nam đã chính thức bước vào già hóa dân số từ năm 2011, sớm hơn 6 năm so với dự báo từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009. Hiện nay Việt Nam đã có trên 90 triệu dân. Theo số liệu công bố chính thức của Tổng cục Thống kê, năm 2012 tỷ lệ người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên là 10,2%, như vậy số người cao tuổi hiện nay của Việt Nam là khoảng 9,2 triệu người. Một vấn đề được xã hội và các nhà quản lý quan tâm hiện nay là ứng phó với hiện trạng già hóa dân số, trong đó có nguy cơ vỡ quĩ bảo hiểm xã hội. Một trong những giải pháp đề xuất được xem xét, bàn thảo nhiều là tăng tuổi nghỉ hưu. Đây cũng là một giải pháp thông thường được nhiều quốc gia xem xét đến, khi đứng trước thách thức dân số già và nguy cơ “vỡ quĩ bảo hiểm xã hội”. Liệu đây có phải là một giải pháp “tối ưu” và phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam?. Bài viết này sẽ giới thiệu công trình nghiên cứu kinh tế nhân khẩu học về mối quan hệ giữa thu nhập và tuổi thọ bình quân, giúp xem xét lựa chọn giải pháp phù hợp, mang lại lợi ích cho người dân.      

Trong công trình nghiên cứu của nhà kinh tế học Barry Bosworth tại Viện Brookings-Mỹ, các yếu tố kinh tế về thu nhập tác động mạnh đến tuổi thọ của con người và có tương quan thuận, tức người càng giàu thì càng sống lâu. Đặc biệt có sự chênh lệch khác biệt giữa các thế hệ và đặc biệt đối với phụ nữ.

Nghiên cứu đã phân tích số liệu từ Nghiên cứu về Sức khỏe và Nghỉ hưu của Đại học Michigan, một cuộc điều tra khảo sát về sức khỏe và đời sống đã thu thập thông tin từ 26.000 người Mỹ trong suốt quá trình họ làm việc cho đến khi nghỉ hưu. Nguồn dữ liệu này đặc biệt có giá trị vì đã nghiên cứu, thu thập thông tin 2 năm/lần của cùng đối tượng khảo sát, gọi là nghiên cứu theo đoàn hệ, để nghiên cứu về các diễn biến trong cuộc sống của họ. Kết quả rất khả quan, tức là đàn ông ở bất cứ mức sống nào cũng đều sống lâu hơn thế hệ trước. Tuy nhiên số liệu cho thấy tuổi thọ của người có thu nhập cao tăng lên nhanh hơn so với những người có thu nhập thấp.

Dưới đây là kết quả chi tiết từ những dữ liệu quan trọng đã thu thập được. Có thể thấy, một người đàn ông sinh năm 1940 và sống đến những năm 80, sự nghiệp và thu nhập của những người thuộc trong nhóm giàu nhất (10%), gồm tất cả những người cùng tuổi, nếu sống tới 55 tuổi, ông ta có thể còn sống thêm (kỳ vọng sống) được 34,9 năm nữa, nói cách khác là sẽ thọ tới 90 tuổi (89,9 tuổi). Mức này lớn hơn 6 năm so với những người đàn ông có sự nghiệp tương tự, nhưng thuộc thế hệ sinh năm 1920. Đối với 10% nam giới nghèo nhất, họ có kỳ vọng sống thêm được 24 năm và chỉ thêm có 1 năm rưỡi nhiều hơn so với những người có thu nhập tương tự thuộc thế hệ sinh năm 1920.


 

Bảng 1. Số năm trung bình sống thêm ở tuổi 55 của đàn ông, theo mức thu nhập

 

 

Sinh năm 1920

Sinh năm 1940

Giàu nhất 10%

29,0

34,9

81-90%

27,7

33,0

71-80%

26,5

31,4

61-70%

25,8

30,3

51-60%

25,4

29,6

41-50%

25,0

28,9

31-40%

24,7

28,3

21-30%

24,2

27,5

11-20%

23,7

26,4

Nghèo nhất 10%

22,6

24,2

Nguồn: Barry Bosworth, Viện Brookings/WSJ.com

 


Kết quả nghiên cứu đối với nữ giới thì lại khác. Tại tất cả các mức thu nhập, cho cả hai thế hệ sinh năm 1920 và 1940, phụ nữ sống lâu hơn đàn ông. Nhưng đối với phụ nữ, xu hướng thu nhập tác động kéo dài tuổi thọ còn thể hiện rõ rệt hơn. Tương tự như phân tích đối với nam giới, trong khi những người phụ nữ giàu có nhất sinh năm 1940 có kỳ vọng sống thêm dược 35,3 năm, nhưng mức này cũng chỉ chênh 3,2 năm so với những phụ nữ sinh năm 1920.  Đối với 10% phụ nữ có thu nhập nghèo nhất có xu hướng ngược lại, tuổi thọ của họ lại đang bị giảm so với thế hệ trước (sinh năm 1920), chỉ 25,8 năm so với 27,9 năm (giảm 2,1 năm). “Dưới đáy của xã hội, cuộc sống không còn được cải thiện mạnh cho phụ nữ”, đồng thời nhà kinh tế học Bosworth nhận định “Việc hút thuốc lá có thể là một nguyên nhân làm giảm tuổi thọ. Hành động này phổ biến nhiều ở phụ nữ có mức thu nhập thấp”.


 

Bảng 2. Số năm trung bình sống thêm ở tuổi 55 của phụ nữ, theo mức thu nhập

 

 

Sinh năm 1920

Sinh năm 1940

Giàu nhất 10%

32,1

35,3

81-90%

31,1

33,4

71-80%

30,5

32,3

61-70%

30,2

31,6

51-60%

29,9

30,9

41-50%

29,6

30,1

31-40%

29,2

28,9

21-30%

28,5

27,5

11-20%

28,6

26,6

Nghèo nhất 10%

27,9

25,8

Nguồn: Barry Bosworth, Viện Brookings/WSJ.com

 


Nghiên cứu của Bosworth kế thừa và dựa trên nghiên cứu trước đây của Hilary Waldron tại Cục quản lý Phúc lợi Xã hội, nghiên cứu này cũng chứng minh sự chênh lệch khác biệt trong mối quan hệ giữa thu nhập và tuổi thọ theo thời gian. Những nhà nghiên cứu tuổi thọ của con người sử dụng những tính toán thống kê bảo hiểm để đưa ra những dự báo, vì không thể tính chính xác được kết quả cho đến khi cả một thế hệ chết đi. Bosworth đã phân tích số liệu cùng với Kathleen Burke Cục Bảo vệ Tài chính Tiêu dùng để đánh giá về đề xuất một giải pháp “phổ biến” nhằm giữ cân bằng cho quỹ phúc lợi xã hội là “Nâng tuổi về hưu” khi dân số đang già đi (tuổi thọ tăng, số người cao tuổi nhiều lên).

Kết quả nghiên cứu cho thấy những người thu nhập thấp không tăng được tuổi thọ, như vậy phúc lợi xã hội của họ sẽ bị giảm. Bosworth kết luận “Số năm họ sẽ được nhận phúc lợi ít hơn”. Hãy lấy ví dụ đã nêu trong những biểu đồ để phân tích. Một người đàn ông thu nhập cao, sinh năm 1920 về hưu lúc 65 tuổi, có kỳ vọng hưởng phúc lợi xã hội trong 24 năm. Ông ta nghỉ hưu muộn hơn, nhưng ông ta cũng sống lâu hơn. Điều này không đúng cho chung với những người của cả hai giới có thu nhập thấp. Số năm họ được hưởng phúc lợi xã hội ít hơn, dù tuổi nghỉ hưu tăng lên nhưng tuổi thọ thì không tăng. “Tìm được một giải pháp cân bằng là rất khó”, nhà kinh tế học Bosworth kết luận. Đây là một vấn đề nổi cộm và nghiêm trọng trong xã hội đứng trước xu thế dân số già tác động đến quĩ bảo hiểm xã hội.

 


 

Bảng 3. Thay đổi số năm trung bình sống thêm ở tuổi 65 theo thu nhập và

giữa các đoàn hệ sinh năm 1920 và 1940

 

 

Đối với nam

Đối với nữ

Giàu nhất 10%

3,1

5,9

81-90%

2,4

5,3

71-80%

1,8

4,9

61-70%

1,4

4,6

51-60%

1,0

4,2

41-50%

0,5

3,9

31-40%

-0,2

3,6

21-30%

-1,0

3,3

11-20%

-1,6

2,7

Nghèo nhất 10%

-2,1

1,7

Nguồn: Barry Bosworth, Viện Brookings/WSJ.com

 


Với thực trạng già hóa dân số tăng nhanh ở Việt Nam, theo dự báo dân số Việt Nam sẽ chuyển từ giai đoạn già hóa dân số sang giai đoạn dân số già từ năm 2025 -2030 và theo tính toán của các nhà kinh tế thì nguy cơ vỡ quĩ bảo hiểm xã hội của Việt Nam cũng vào những năm 2030. Theo công bố của Tổ chức lao động Thế giới (ILO) Việt Nam sẽ bị thâm hụt quĩ bảo hiểm xã hội vào năm 2020 và cạn kiệt vào năm 2029. ILO cũng đã tính toán mối quan hệ giữa dân số lao động và sự tham gia bảo hiểm xã hội ở Việt Nam, năm 1996 có 217 người đóng bảo hiểm/1 người hưu trí, nhưng đến năm 2011 chỉ còn 10 người đóng bảo hiểm/1 người hưu trí.

Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) về dự báo vỡ quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH) cũng tương tự. Về quỹ hưu trí và tử tuất, vào năm 2021 số thu trong nắm sẽ không đủ chi và phải lấy chi từ nguồn kết dư và đến năm 2034 thì nguồn kết dư không còn. So sánh về số người tham gia BHXH và số người hưu trí cho thấy: Năm 1996 tỷ lệ là 217 BHXH/1 hưu trí; năm 2000 là 34/1 hưu trí; năm 2004 là 19/1; năm 2007 là 14/1; năm 2011 là 11/1 và năm 2012 là 9,3/1. Do vậy để đảm bảo cho quỹ BHXH, Bộ LĐ-TB-XH đã xây dựng phương án tăng tuổi nghỉ hưu, trong đó từ năm 2016 mỗi năm tăng 4 tháng và theo phương án này thì đến năm 2022 tuổi nghỉ hưu của nam giới sẽ là 62 tuổi và đến năm 2031 tuổi nghỉ hưu của nữ sẽ là 60 tuổi.

Điều đặc biệt là Việt Nam mới trở thành thành nước có thu nhập trung bình được một vài năm gần đây và hiện tại vẫn đang ở mức thu nhập trung bình thấp và còn có nguy cơ “mắc bẫy thu nhập trung bình”. Những điều này chứng tỏ đa số người dân Việt Nam còn có mức thu nhập thấp (mức chênh lệch gần 10 năm). Để lựa chọn, hoạch định những giải pháp ứng phó với nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm xã hội, nhưng đảm bảo lợi ích cho số đông người dân, theo chúng tôi với thực trạng còn là nước nghèo, tỷ lệ người có thu nhập thấp lớn, tuổi thọ bình quân khỏe mạnh thấp, chúng ta cần lựa chọn những giải pháp ưu tiên, phù hợp trong từng giai đoạn:

1.   Về giải pháp ngắn hạn: Ngay trong những năm tới chúng ta nên dành ưu tiên triển khai những giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho người dân như: Cải thiện chế độ tiền lương, nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển kinh tế hộ gia đình, khuyến khích sản xuất, nâng cao chất lượng dân số,… đem lại những lợi ích thiết thực cho số đông người dân- người lao động.

2.   Về giải pháp dài hạn: Giải pháp tăng tuổi hưu, có thể là sẽ triển khai vào giai đoạn những năm sau 2020, khi Việt Nam đã cải thiện được tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập cho người dân, đồng thời cũng là thời gian chuẩn bị bước vào giai đoạn dân số già và cũng là giai đoạn bắt đầu thâm hụt quỹ BHXH là thời gian mà tỷ lệ giữa người tham gia đóng bảo hiểm và người hưu trí sẽ khoảng 2/1.

Dân số già hóa là quá trình chuyển đổi nhân khẩu học tất yếu của mọi quốc gia, tuổi thọ trung bình tăng cao là thành tựu phát triển kinh tế và an sinh xã hội của đất nước, nhưng cũng đưa tới những thách thức. Chúng ta cần đánh giá một cách khoa học, lựa chọn những giải pháp phù hợp sao cho thực sự đem lại quyền lợi cho số đông nhân dân và người lao động, thể hiện tính ưu việt của các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là đem quyền lợi đến với mọi người. 


TS. Nguyễn Quốc Anh

 

Liên kết