ThS. Hoàng Thị Tâm* và cộng sự

 Công tác DS-KHHGĐ của Việt Nam nói chung và Thừa Thiên-Huế nói riêng đã đạt được nhiều thành công, mức sinh giảm và chất lượng dân số được cải thiện. Kết quả của chương trình dân số mang đến các cơ hội, nhưng cũng có nhiều thách thức mới như mất cân bằng giới tính khi sinh và già hóa dân số. Tại Việt Nam, số người trên 60 tuổi tăng dần từ 3,7 triệu người 1979, 4,6 triệu người 1989, 6,2 triệu người 1999,năm 2012 là khoảng 9 triệu người (10,2% tổng số dân). Thừa Thiên-Huế đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2009 với tỷ lệ dân số 60+ là 10,3%.

Để có cơ sở đề xuất các chính sách, chương trình can thiệp thiết thực, có trọng tâm và hiệu quả đối với việc tư vấn và chăm sóc người cao tuổi (NCT) tại Thừa Thiên-Huế, nghiên cứu thực trạng chăm sóc NCT được thực hiện tại tỉnh Thừa Thiên-Huế năm 2013 qua khảo sát 500 NCT. 

KẾT QUẢ

Các đặc trưng của đối tượng khảo sát

Trong số 500 NCT tham gia nghiên cứu, 51,4% là nữ và 52,4% sống ở thành thị. Có gần 2/3 (66,0%) cả ông bà hoặc ông/bà sống với con cháu. Đây là đặc điểm riêng và khá phổ biến về cấu trúc gia đình nhiều thế hệ Thừa Thiên-Huế. Tuy nhiên, vẫn còn 21% NCT sống với vợ/chồng và 11,8% sống một mình. Việc phải sống một mình là điều bất lợi đối với NCT, bởi gia đình luôn là chỗ dựa chính cho mỗi thành viên khi về già.

52,6% NCT không được hưởng các trợ cấp. 25,2% có lương hưu, 9,6% hưởng trợ cấp xã hội; 6,8% hưởng chế độ gia đình liệt sĩ, có công; 5,8% nghỉ mất sức; và 3,2% là các đối tượng khác (cô đơn không nơi nương tựa, nghỉ chế độ 176tàn tật).  

Tình trạng sức khỏe người cao tuổi

Nhìn chung, tình trạng sức khỏe của NCT ở Huế tốt hơn so với mặt bằng chung của cả nước. Hơn một nửa (53,6%) số NCT cho rằng họ có sức khỏe bình thường, cao gần gấp đôi so với Điều tra Quốc gia về NCT – VNAS (27,8%), trong khi chỉ có 39,8% NCT ở Huế nói sức khỏe của họ kém thì con số này của VNAS là 67,2%. 6,6% NCT Huế có sức khỏe tốt so với 5,0% của VNAS.

 

 


Bảng 1. Tình trạng sức khỏe người cao tuổi

Đơn vị tính: %

Tình trạng sức khỏe của NCT

Thừa Thiên Huế (2013)

Điều tra Quốc gia về NCT (2011)

Tốt

  6,6

 5,0

Bình thường

53,6

27,8

Kém

39,8

67,2

Tổng

                   100,0

                       100,0

 


Tình hình bệnh tật của người cao tuổi

NCT thường mắc một số bệnh như sau: Bệnh xương, khớp có tỷ lệ cao nhất là 56,2%; Bệnh tim mạch và huyết áp cũng tương đối cao (45,4%); Các bệnh về mắt, nhìn mờ (42,6%); Mất ngủ (41,8%); Đau đầu, chóng mặt (41,6%) kém trí nhớ, lẫn (30,4%).

 


 

Bảng 2. Những bệnh NCT thường mắc

 

Các vấn đề sức khỏe thường mắc

Tỷ lệ (%)

Bệnh đường hô hấp

15,4

Bệnh đường ruột

14,2

Bệnh xương, khớp

56,2

Bệnh tim mạch và huyết áp

45,4

Hay đau đầu, chóng mặt

41,6

Mất ngủ

41,8

Kém trí nhớ, lẫn

30,4

Các bệnh về mắt, nhìn mờ

42,6

Các bệnh về tai, hay điếc

19,8

Khác

7,0

 


Nhóm bệnh kép của người cao tuổi

Tỉ lệ NCT mắc 01 bệnh chiếm tỉ lệ 19,8%; t lệ NCT mắc 02 bệnh chiếm 18,8% và t lệ mắc 03 bệnh chiếm tỉ lệ cao nhất 56%. Như vậy, ngoài tỷ lệ mắc các bệnh khá cao, NCT thường mắc nhiều bệnh đồng thời. Trung bình một NCT mắc 3,0 bệnh cao hơn một số nghiên cứu khác. Trung bình một NCT mắc 2,69 bệnh (Phạm Thắng, 2007). NCT Việt Nam đang chịu gánh nặng “bệnh tật kép”: Tiếp tục giải quyết các bệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng và tai biến sinh kỳ, mặt khác phải đương đầu với sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh không lây truyền trong điều kiện hệ thống chăm sóc sức khoẻ còn thiếu thốn. Xu hướng này đòi hỏi chi phí chăm sóc y tế cao, đồng thời cũng có nghĩa là rủi ro dẫn tới khuyết tật cho NCT sẽ cao hơn. Chi phí điều trị trung bình cho một NCT cao gấp 7-8 lần chi phí điều trị cho một đứa trẻ (Phạm Thắng và Đỗ Khánh Hỷ, 2009).


Bảng 3. Số bệnh của người cao tuổi

 

Số bệnh

Tỷ lệ (%)

Không bị bệnh

 5,4

Có 1 bệnh

19,8

Có 2 bệnh

18,8

Có 3 bệnh trở lên

 56,0

Tổng

100,0



Tư vấn chăm sóc sức khỏe NCT

Tư vấn chăm sóc và bảo vệ sức khỏe NCT

Chỉ có 49,6% NCT biết các hình thức chăm sóc sức khỏe NCT tại địa phương. Điều này chứng tỏ hơn 50% NCT chưa được tuyên truyền, tư vấn, giới thiệu các hình thức chăm sóc sức khỏe tại địa phương hoặc chưa chú ý đến chăm sóc sức khỏe. Đối với nhóm NCT tiếp cận với những hình thức chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ở địa phương, tỷ lệ NCT biết hình thức khám sức khỏe miễn phí là 59,3%; Biết các CLB dưỡng sinh, 42,3%; biết các buổi nói chuyện chuyên đề về sức khỏe, 31,9%; Biết các hoạt động truyền thông, tư vấn và phát tài liệu hướng dẫn về CSSK, 30,2% biết các hình thức thành lập trung tâm chăm sóc và phụng dưỡng NCT, 16,1%.


 

Bảng 4. NCT biết các hình thức chăm sóc sức khỏe

 

Biết về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe

Tỷ lệ (%)

  

49,6

   Không

50,4

Hình thức chăm sóc và bảo vệ sức khỏe NCT

 

CLB dưỡng sinh

42,3

Trung tâm chăm sóc sóc và phụng dưỡng NCT

16,1

Tổ chức khám sức khỏe miễn phí cho NCT

59,3

Tổ chức các buổi nói chuyên chuyên đề về sức khỏe cho NCT

31,9

Truyền thông, TV và phát tài liệu hướng dẫn về CSSK

30,2

 


Tiếp cận các hình thức chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của NCT

Nhóm NCT được tiếp cận với thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) là khá cao, chiếm 71,0%, cao hơn mức của toàn quốc năm 2009 (60%). Nhưng tỷ lệ NCT được khám sức khỏe định kỳ rất thấp, chỉ có 15%. Tỷ lệ NCT chỉ được khám khi có vấn đề sức khỏe là 47,8%. Điều này cho thấy NCT chưa có thói quen khám định kỳ để phát hiện sớm và dự phòng bệnh tật. 13,8% NCT thỉnh thoảng được con cháu đưa đi kiểm tra sức khỏe. Đặc biệt cần quan tâm là vẫn còn 3,0% NCT không chú ý chăm sóc và bảo vệ sức khỏe.


Bảng 5. Các hình thức chăm sóc và bảo vệ sức khỏe NCT

Hình thức chăm sóc và bảo vệ sức khỏe

Tỷ lệ (%)

Được kiểm tra sức khỏe định kỳ

15,0

Chỉ được khám khi có vấn đề về sức khỏe

47,8

Được mua bảo hiểm y tế

71,0

Thỉnh thoảng lại được con cháu đưa đi kiểm tra SK

13,8

Không chú ý chăm sóc và bảo vệ sức khỏe

  3,0

Khác

  1,2

 


Sự quan tâm chăm sóc sức khỏe NCT của các thành viên trong gia đình

Con trai là người quan tâm chăm sóc NCT nhiều nhất (70,2%) khi NCT có những vấn đề về sức khỏe hay bị bệnh; con gái là 25,4%; con dâu là 2,2% và các cháu là 2,2%. Như vậy, nghiên cứu của Thừa Thiên Huế cho thấy vai trò hỗ trợ và chăm sóc cha mẹ chủ yếu là do con trai. Điều này là do phần lớn phụ nữ chuyển đến sống tại gia đình nhà chồng sau khi kết hôn.


 

Bảng 6. Người quan tâm chăm sóc NCT nhiều nhất

 

Người quan tâm chăm sóc NCT nhiều nhất

Tỷ lệ (%)

Con trai

  70,2

Con gái

   25,4

Con dâu

    2,2

Con rể

    0,0

Các cháu

    2,2

Tổng

 100,0

 


Đời sống vật chất, điều kiện sống của NCT

Tình hình kinh tế của NCT

Tình hình kinh tế của NCT so với nhu cầu sinh hoạt hàng ngày được đánh giá là đủ (48,8%); dư thừa là 1,6% và gần một nửa (49,2%) NCT đôi lúc bị thiếu thốn và không đủ. So với Điều tra quốc gia về NCT Việt Nam năm 2011, tỷ lệ NCT không đủ và đôi lúc thiếu kinh tế so với nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của nghiên cứu này thấp hơn (49,2% so với 63%); tỷ lệ đầy đủ cao hơn (48,8% so với 35%) và tỷ lệ dư thừa thấp hơn (1,6% so với 2%).


 

Bảng 7. Tình hình kinh tế của NCT so với nhu cầu sinh hoạt hàng ngày

                               

Tình hình kinh tế của NCT

Tỷ lệ (%)

Dư thừa

 1,6

Đủ

48,8

Đôi lúc thiếu

31,0

Không đủ

 18,2

Không trả lời

  0,4

Tổng

                       100,0

 


Người cao tuổi đang làm việc

Có 36,6% NCT đang làm việc. Tỷ lệ người cao tuổi có lương hưu chỉ là 25,2%, có tới 52,6% NCT không hưởng các loại chính sách hỗ trợ nào của Nhà nước do vậy NCT phải tiếp tục làm việc để sinh sống.

Đời sống tinh thần của NCT

Sự tham gia các tổ chức xã hội của người cao tuổi


Bảng 8. Các tổ chức xã hội NCT tham gia

 

Các tổ chức xã hội

Tỷ lệ (%)

Hội người cao tuổi

69,2

Hội Cựu chiến binh

13,8

Hội Phụ nữ

14,8

Hội Nông dân

6,0

Hội chữ thập đỏ

6,0

Câu lạc bộ dưỡng sinh

9,8

Hội đồng môn, đồng hương

5,4

Hội đi chùa

                              10,4

Hội nghề nghiệp

4,4

Câu lạc bộ thơ ca

1,4

Khác

1,8

Không tham gia

                               19,8

     


Hơn hai phần ba (69,2%) NCT tham gia Hội NCT tại địa phương. Hội NCT tổ  chức nhiều hoạt động thiết thực với NCT. Có 14,8% NCT tham gia Hội Phụ nữ 13,8% tham gia Hội Cựu chiến binh. Đặc biệt, có 10,4% tham gia hội đi chùa cho thấy nhu cầu tâm linh và tin ngưỡng của NCT cũng rất quan trọng. Có 9,8% NCT tham gia CLB dưỡng sinh; 6,0% tham gia Hội Nông dân; 6,0% tham gia Hội chữ thập đỏ; 5,4% tham gia Hội đồng môn, đồng hương; 4,4% tham gia Hội nghề nghiệp; 1,4% tham gia CLB thơ ca và 1,8% tham gia tổ chức xã hội khác.

 


Các hoạt động vui chơi giải trí của NCT

 

Bảng 9. Các hoạt động vui chơi giải trí NCT thường tham gia

               

Các hoạt động vui chơi giải trí

Tỷ lệ (%)

Thể dục, thể thao

39,0

Xem ti vi

83,4

Nghe đài

22,8

Đọc sách, báo

29,4

Tụng kinh

10,2

Đi xem văn nghệ

 3,4

Thăm bạn bè, hàng xóm

52,2

Thăm quan, du lịch

11,0

Vui chơi với con, cháu

52,8

Khác

 3,6

 


Có 83,4% NCT sử dụng thời gian nhàn rỗi cho việc xem tivi. Vì vậy, việc tuyên truyền cho NCT thông qua kênh truyền hình là rất quan trọng. 39,0% NCT tham gia hoạt động thể dục thể thao giúp NCT có thêm sức khỏe giảm bớt bệnh tật; 52,2% dành thời gian rnh rỗi thăm hỏi bạn bè; 52,8% dành thời gian vui chơi với con cháu. Với những hoạt động trên tạo cho NCT tinh thần thoải mái trong mối quan hệ thân thiết cùng con cháu và bạn bè.

Vai trò, vị thế của NCT trong gia đình, ngoài xã hội và trong lĩnh vực DS-KHHGĐ

Vai trò của NCT trong gia đình


 

Bảng 10. Những đóng góp của NCT cho gia đình

 

Những đóng góp của NCT cho gia đình

Tỷ lệ (%)

Quản lý chi tiêu trong gia đình

28,8

Hỗ trợ kinh tế cho con cháu

25,6

Dạy dỗ, khuyên bảo con cháu

82,6

Trông nom nhà cửa, con cháu

77,2

Truyền thụ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm KT

54,2

Hỗ trợ về tài sản

13,6

Khác

 1,4

 


Người cao tuổi vẫn có những đóng góp quan trọng cho gia đình như: dạy dỗ, khuyên bảo con cháu (82,6%); trông nom nhà cửa, con cháu (77,2%); truyền thụ kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm kinh tế (54,2%). Hỗ trợ kinh tế cho con cháu 25,6% và hỗ trợ về tài sản là 13,6%, điều này cho thấy vai trò NCT trong gia đình rất lớn.


Vai trò của NCT trong xã hội

 

Bảng 11. Những đóng góp của NCT cho xã hội

 

Những đóng góp của NCT cho xã hội

Tỷ lệ (%)

Tham gia sản xuất, phát triển kinh tế

19,0

Giữ gìn truyền thống đạo đức

91,2

Tham gia các hoạt động xã hội

40,0

Duy trì truyền thống văn hóa

65,0

Truyền thụ những kinh nghiệm sống, những kiến thức KHKT

43,0

Đấu tranh chống tệ nạn xã hội, tham nhũng

32,0

 


Đối với xã hội, NCT có những đóng góp quan trọng trong giữ gìn truyền thống đạo đức (91,2%) và duy trì truyền thống văn hóa (65,0%). Ngoài ra NCT vẫn còn tham gia sản xuất, phát triển kinh tế (19,0%), tham gia các hoạt động xã hội (40,0%), và đấu tranh chống tệ nạn xã hội, tham nhũng (32,0%).


 

Vai trò của NCT trong lĩnh vực DS-KHHGĐ

 

Bảng 12. Quan điểm của NCT về số con của mỗi cặp vợ chồng

 

Quan điểm NCT về số con  của mỗi cặp vợ chồng

Tỷ lệ (%)

Có 1 hoặc 2 con

90,2

Có 3 con

  7,2

Có số con tùy ý

  2,2

Không biết/không trả lời

  0,4

Tổng

                        100,0

         


Trong Bảng 12, có đến 90,2% NCT cho rằng mỗi cặp vợ chồng có 1 hoặc con là đủ. Sự hiểu biết về chính sách dân số của NCT góp phần giáo dục con cháu và cộng đồng trong việc thực hiện chính sách dân số. Mặc dù ít quyết định trong việc sinh con của con/cháu trong gia đình của NCT nhưng có tới 76,8% NCT trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia tuyên truyền các chính sách về DS-KHHGĐ cho con, cháu và cộng đồng dân cư.

KIẾN NGHỊ

-      Tăng cường sự quan tâm, lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp của các ban ngành đoàn thể trong thực hiện các chính sách, pháp luật đối với NCT;

-      Xây dựng mạng lưới lão khoa tại các bệnh viện, Trung tâm y tế và nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế cho NCT; Trang bị phương tiện đầy đủ đáp ứng nhu cầu CSSK NCT và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho NCT tại các cơ sở y tế;  Thực hiện tốt các chương trình khám chữa bệnh miễn phí hàng năm cho NCT;

-      Xây dựng trung tâm tư vấn và chăm sóc sức khỏe NCT, phát triển dịch vụ chăm sóc tư vấn NCT tại cộng đồng; Xây dựng Trung tâm dưỡng lão gắn chăm sóc sức khỏe tinh thần cho NCT; Chú ý các nhóm đặc thù như: Phụ nữ cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ đơn thân ở vùng núi và đặc biệt khó khăn; Tạo điều kiện hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương trong việc xây dựng mô hình “nhà xã hội” để chăm sóc người già neo đơn tại cộng đồng;

-      Xây dựng Trung tâm hoặc các điểm văn hóa cho NCT, tạo điểu kiện cho Hội NCT sinh hoạt, tổ chức các câu lạc bộ NCT; Cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện thuận lợi cho người cao tuổi được sống vui, sống khoẻ và sống có ích cho xã hội;

-      Khuyến khích duy trì mô hình gia đình nhiều thế hệ để NCT sống cùng con cháu

-      Củng cố Hội NCT, các tổ chức xã hội tạo điều kiện cho NCT tham gia hoạt động xã hội;

-      Tăng cường truyền thông vận động, nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể, ban, ngành, các nhà hoạch định chính sách, các chức sắc tôn giáo và toàn xã hội về phát huy vai trò của NCT;

-      Đẩy mạnh hoạt động phối hợp giữa Hội NCT với các ban ngành, tăng cường cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật về NCT; Trong lĩnh vực DS- KHHGĐ cần phối hợp, hỗ trợ để NCT tích cực tuyên truyền vận động con cháu thực hiện tốt chính sách DS-KHHGĐ; 

-      Chú trọng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng trong truyền thông và tư vấn, cung cấp dịch vụ chăm sóc NCT tại cộng đồng cho đội ngũ chuyên trách, cộng tác viên DS, tình nguyện viên; Xây dựng các mô hình phát huy, chăm sóc NCT thích ứng với giai đoạn “già hóa dân số”.



* Chi cục trưởng, Chi cục DS-KHHGĐ Thừa Thiên-Huế.

 

Liên kết