Kelvin Pollard và cộng sự

                 


Số lượng

Tổng số có 76 triệu người đã sinh ra ở Mỹ từ 1946 đến 1964 - giai đoạn được gọi là “bùng nổ trẻ em”. Trong số 76 triệu người này, tính đến năm 2012 có gần 11 triệu người đã chết, và số người còn sống đến năm 2012 là 65,2 triệu. Tuy nhiên khi tính cả những người nhập cư (số người đến trừ đi số người ra khỏi Mỹ), con số ước tính lên tới 76,4 triệu do số người nhập cư lớn hơn số người chết. Dòng người nhập cư tăng mạnh sau khi Đạo luật Nhập cư được thông qua năm 1965, ngay sau thời kỳ bùng nổ trẻ em kết thúc.

76,4 triệu người (từ 50 đến 68 tuổi năm 2014) thuộc thế hệ “bùng nổ trẻ em” chiếm gần 1/4 tổng dân số Mỹ (314 triệu năm 2012). Các lựa chọn của họ về nghỉ hưu hay tiếp tục làm việc sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với cơ hội làm việc và chi tiêu An sinh Xã hội. Theo Số liệu Điều tra Cộng đồng Mỹ, năm 2012 khoảng 68% những người này vẫn đang trong lực lượng lao động (kể cả trong các lực lượng vũ trang).

Văn phòng Tổng điều tra dự báo, nhóm dân số thuộc thế hệ “bùng nổ trẻ em” sẽ là 61,3 triệu vào năm 2029, khi những người trẻ nhất bước vào tuổi 65. Năm 2031, khi những người trẻ nhất 67 tuổi (độ tuổi nhận đầy đủ các trợ cấp an sinh xã hội), tổng dân số thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em sẽ giảm xuống còn 58,2 triệu.

Thế hệ bùng nổ trẻ em đang già đi tạo nên một sự thay đổi sâu sắc trong cơ cấu tuổi của dân số Mỹ. Các dự báo về dân số cao tuổi (gồm các đoàn hệ sinh trước nhóm dân số bùng nổ trẻ em) cho thấy sẽ có 71,4 triệu người đạt 65 tuổi vào năm 2029, nghĩa là những người từ 65 tuổi trở lên sẽ chiếm 20% tổng dân số.

Những người độc thân thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em đối mặt với nhiều bất lợi khi tuổi cao

Thế hệ bùng nổ trẻ em là thế hệ lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ và là lực lượng nhân khẩu chính trong tương lai. Với 33% trong số này vẫn độc thân, họ có thể đối mặt với nhiều bất lợi về kinh tế, xã hội và sức khỏe.

Số liệu các Tổng điều tra dân số bốn thập kỷ gần đây cho thấy, tỷ trọng những người trưởng thành 45-63 tuổi chưa kết hôn tăng từ 22% lên 34% trong giai đoạn 1980-2009. Tuổi thọ cao hơn cũng có nghĩa là nhiều phụ nữ đã kết hôn sẽ góa chồng. Kết quả là nhiều phụ nữ trở nên cô đơn, mặc dù khoảng cách giới này đã giảm đáng kể từ năm 1980. Năm 2009, 31% nam và 37% nữ tuổi 45-63 chưa kết hôn, so với 16% và 27% năm 1980. Ngày nay, có nhiều xu hướng tạo nên số lượng cao những người độc thân ở tuổi trung niên và cao hơn.

Thế hệ bùng nổ trẻ em đang già hoá trong giai đoạn có những biến đổi gia đình lớn: tỷ lệ ly hôn tăng cao kỷ lục vào những năm 1970, chung sống không kết hôn và sinh con ngoài hôn nhân tăng nhanh, và nhiều người lựa chọn không bao giờ kết hôn. So với các thế hệ khác, thế hệ bùng nổ trẻ em có xu hướng ly hôn nhiều hơn. Năm 2003, hơn 58% những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em trở lại độc thân sau khi ly hôn. Các vụ ly hôn này không xảy ra khi họ còn trẻ. Năm 2010, gần 25% các vụ ly hôn xảy ra ở những người từ 50 tuổi trở lên.

Bên cạnh đó, tỷ trọng những người trung niên và cao tuổi chưa bao giờ kết hôn cũng đang tăng (32% năm 2009). Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phụ nữ da trắng nhóm 50-54 tuổi không phải gốc Tây Ban Nha chưa bao giờ kết hôn tăng 3 lần trong giai đoạn 1986-2009, con số này ở phụ nữ da đen tăng 4 lần.

Nhiều nghiên cứu xem xét mối liên quan giữa hôn nhân và già hóa thành công đã cho rằng việc không kết hôn sẽ bất lợi. Năm 2009, gần 20% những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em là người nghèo, so với 4% những người đã kết hôn. Trong thực tế, thu nhập bình quân hàng năm của hộ gia đình của những người không kết hôn thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em năm 2007 là 57.000 USD, gần bằng một nửa mức thu nhập của những người thuộc thế hệ này đã kết hôn.

Mức độ tàn tật ở người trưởng thành đang tăng ở tất cả những người Mỹ trung tuổi, gấp 2 lần những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em (22% so với 11%), đặc biệt ở những người mất vợ/chồng. Những người chưa kết hôn thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em cũng có bảo hiểm y tế ít hơn. Khi tuổi cao, các thành viên gia đình là một nguồn hỗ trợ quan trọng. Những người chưa kết hôn thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em có xu hướng sống độc thân, không con cái hay bạn đời chăm sóc.

Nhiều người độc thân cao tuổi thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em sẽ là thách thức lớn cho các chương trình và chính sách hiện hành. Các nguồn hỗ trợ mới bao gồm nhà ở chung và cộng đồng giúp hỗ trợ và giao tiếp xã hội mà các thành viên gia đình thường cung cấp. Các nhóm cộng đồng có thể giúp họ giao tiếp và chăm sóc sức khỏe.

Những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em đối mặt với tàn tật nhiều hơn

Một nghiên cứu gần đây cho thấy những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em từ 49-67 tuổi năm 2013 sống thọ hơn những người hơn họ 20 tuổi, nhưng lại không khỏe mạnh. Trong khi họ ít hút thuốc, ít mắc bệnh giãn phế nang hay đau tim, thì họ có xu hướng béo phì, tiểu đường, hay cao huyết áp so với những người cùng tuổi thế hệ trước.

Mức độ tàn tật ở nhóm người trung niên 40-64 tuổi (gồm đa số những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em) tăng những năm gần đây. Các khảo sát quốc gia cho thấy có mối liên quan giữa xu hướng béo phì và tàn tật. Trong các năm 2000-2008, mức độ tàn tật tăng ở những người 55-64 tuổi (gồm đa số những người cao tuổi nhất của thế hệ bùng nổ trẻ em). Ngược lai, mức độ tàn tật tiếp tục giảm ở những người cao tuổi nhất (85 tuổi trở lên) và giữ nguyên ở những người 65-84 tuổi. Các xu hướng tàn tật ở những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em đang là điều “lo lắng”, bởi họ sẽ là nhóm dân số cao tuổi trong tương lai. Với những tiến bộ trong y tế và giáo dục, những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em đang có cuộc sống tốt hơn.

Mức độ tàn tật của người cao tuổi Mỹ giảm dần trong các năm 1980 và 1990. Điều này được đánh dấu như một trong những tiến bộ nổi bật về y tế và phúc lợi của người Mỹ trong 25 năm cuối của thế kỷ 20. Đóng góp vào giảm mức độ tàn tật là cả do giảm nguy cơ mắc tàn tật và tăng cơ hội phục hồi từ tình trạng tàn tật. Nhưng xu hướng này đã dừng từ năm 2000. Một mô hình mới xuất hiện theo đó mức độ tàn tật tăng ở những người gần đến tuổi nghỉ hưu (55-64) và không đổi đối với những người tuổi 65-84.

Hai dạng tàn tật chính có thể được quản lý độc lập: Không có khả năng thực hiện các hoạt động vận động trong cuộc sống hàng ngày, các công việc hàng ngày như đi chợ, nấu ăn, quản lý tiền và gọi điện thoại và nhu cầu giúp đỡ các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày, các hoạt động cá nhân như tắm, mặc quần áo, vào và ra khỏi giường. Mặc dù tỷ lệ tàn tật ở những người sắp về hưu thấp, nhưng vẫn cao hơn so với nhóm dân số cùng tuổi 10 năm trước – 5% và 4%. Mức chênh 1% này tương đương với 365.000 người gặp khó khăn hay không thể thực hiện các hoạt động cá nhân cơ bản để sống độc lập. Điều này sẽ tác động đến các gia đình (nguồn chăm sóc chủ yếu của những người tàn tật) và các chương trình chăm sóc y tế công.


10 tình trạng sức khỏe của những người 40-64 tuổi, 2004-2010

 

 

Gây khó khăn về chức năng vận động

Khiến người tàn tật cần hỗ trợ trong các hoạt động hàng ngày hoặc chăm sóc cá nhân*

1

Viêm khớp/thấp khớp

Các vấn đề về lưng/cổ

2

Các vấn đề về lưng/cổ

Viêm khớp/thấp khớp

3

 

Các bệnh về cơ, gân và loãng xương

Trầm cảm/lo lắng/các vấn đề về cảm xúc

4

Gẫy/rạn xương/tổn thương khớp

Hệ thần kinh

5

Trầm cảm/lo lắng/các vấn đề cảm xúc

Tiểu đường

6

Cân nặng

Tăng huyết áp

7

Vấn đề về phổi/thở

Vấn đề về tim

8

Hệ thần kinh

Các bệnh về cơ, gân và loãng xương

9

Vấn đề về tim

Vấn đề về phổi/thở

10

Tiểu đường

Gẫy/rạn xương/tổn thương khớp

*Hoạt động vận động hay hoạt động trong cuộc sống hàng ngày.
Nguồn: Điều tra phỏng vấn sức khỏe quốc gia, 2004-2010.

 


Mức độ vận động có thể là vấn đề cần lưu ý. Một nghiên cứu năm 2010 cho thấy những người 40-64 tuổi gặp khó khăn với ít nhất 1 trong 9 chức năng vận động. Đặc biệt khoảng 40% đối tượng nghiên cứu nói rằng họ găp khó khăn khi quỳ gối hoặc khom người; đứng/ngồi 2 tiếng; đi bộ 400m; đi 10 bậc thang không nghỉ; nâng và mang vật nặng 4,5kg; với tay qua đầu; đẩy/kéo một vật lớn; hoay nắm các vật nhỏ. Những vấn đề về chức năng vận động này sẽ là chỉ dấu cho các tàn tật nghiêm trọng trong cuộc sống sau này. Tình trạng béo phì gia tăng ở những người 40-64 tuổi chiếm phần lớn mức độ tăng tàn tật và hạn chế chức năng vận động. Hơn 1/2 (52%) những người cần hỗ trợ chăm sóc các nhân và công việc hàng ngày không bị béo phì. Gần 4% những người béo phì nghiêm trọng (chỉ số BMI từ 40 trở lên) cần hỗ trợ chăm sóc cá nhân.

Đối tượng tham gia nghiên cứu cho rằng vấn đề cân nặng gây khó khăn cho chức năng vận động hơn là chăm sóc cá nhân hay sinh hoạt hàng ngày. Ví dụ, người béo phì sẽ khó khăn khi đi thang bộ hay đi bộ nhưng họ không cần hỗ trợ khi mua sắm hay mặc quần áo. Nhưng cũng cần lưu ý rằng một số lý do người tàn tật cần trợ giúp như tiểu đường và đau lưng có thể liên quan tới béo phì.

Trong giai đoạn 1997-2010, tỷ trọng những người 40-64 cần hỗ trợ trong sinh hoạt hàng ngày hay chăm sóc cá nhân tăng đối với các bệnh về lưng và cổ; cơ, gân và loãng xương; tiểu đường; trầm cảm; lo lắng hay xúc cảm. Tỷ trọng các bệnh về hệ thần kinh (liệt, Parkinson và xơ cứng) cũng tăng. Những người mắc các bệnh này nói họ bị ốm đau từ lúc 30 và 40 tuổi. Cải thiện chăm sóc y tế cũng có thể làm tăng tình trạng tàn tật. Những người bi tàn tật khi trẻ ngày nay sống lâu hơn, ví dụ người bị hội chứng Down hay tổn thương tủy sống có thế sống đến tuổi trung niên.

Ngày càng có nhiều người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em ít di chuyển

Trước suy thoái kinh tế, nhiều người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em khi nghỉ hưu đã rời các thành phố lớn về sống ở những nơi có giá nhà thấp hơn, ít giao thông và gần với thiên nhiên hơn. Nhưng trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều người sống gần gia đình khi sắp nghỉ hưu.

Do suy thoái kinh tế, tỷ lệ di chuyển của người Mỹ giảm tới mức thấp nhất trong hơn 60 năm. Ít việc cũng đồng nghĩa với ít cơ hội di chuyển xa và tỷ trọng người di chuyển giữa các hạt giảm mạnh từ 5,3% năm 2005 xuống 3,1% năm 2011. Đối với nhóm dân số 55-64 tuổi, tỷ suất di cư trong nước giảm từ 3,1% xuống 2% trong cùng giai đoạn. Từ năm 2011, di cư trong nước tăng nhẹ lên 3,9%, chủ yếu do mức di chuyển cao ở nhóm dưới 55 tuổi. Đối với những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em sắp nghỉ hưu, di cư vẫn ở mức thấp.

Lý do di cư giảm ở những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em chưa rõ ràng. Đặc biệt đối với nhóm dân số trẻ hơn – giảm di chuyển có thể liên quan tới giảm cơ hội việc làm hoặc ngại di chuyển khỏi các khu vực đô thị nơi có nhều việc làm. Một số người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em trì hoãn nghỉ hưu. Một số người khác lưỡng lự di chuyển vì muốn gần gia đình hay bạn bè. Dù là lý do gì, giảm di cư có tác động rõ đến biến động gia tăng dân số của các bang và hạt.

Các bang Sunbelt thu hút một số lượng lớn những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em di cư đến trong nững năm 2000 đang chứng kiến lượng người di cư giảm trong những năm gần đây. Tương tự, dân số các bang và cộng đồng nơi có những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em di cư đang giảm.

Arizona, Florida, và Nevada đã từng là ba bang thu hút nhiều nhất người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em trong các năm 2000-2007. Nhưng số người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em tại các bang này giảm mạnh từ sau suy thoái. Trong giai đoạn 2000-2007, tỷ lệ tăng dân số của bang Nevada là 2,3%/năm, nhưng trong giai đoạn 2007-2012, dân số thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em giảm 1.000 người/năm (-0,03%/năm). Tại 2 bang Florida và Arizona, tỷ lệ tăng dân số giảm từ 1,4%/năm những năm 2000-2007 xuống 0,5%/năm những năm 2007-2012. 11 bang khác (Arkansas, Georgia, Hawaii, Maine, Nevada, New Hampshire, New Mexico, Oregon, Tennessee, Texas, and Washington) cũng có tình trạng tương tự: tăng trong những năm 2000-2007, nhưng giảm trong các năm 2007-2012. Trên cả nước, dân số thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em giảm nhẹ hàng năm do mức chết, đặc biệt ở nhóm người già nhất sinh vào những năm 1940. Nhập cư quốc tế cũng có thể tác động tới các xu hướng dân số ở nhóm dân số này ở cấp quốc gia, bang và địa phương, bởi số liệu dân số không phân biệt những người sinh ra ở Mỹ hay quốc gia khác.

Các khu vực có số người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em giảm nhiều nhất những năm 2000-2007 là Massachusetts, North Dakota, and the District of Columbia, nhưng tốc độ giảm chậm. Các khu vực có dân số tỷ lệ thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em giảm vào đầu những năm 2000 như California, Illinois, New York, and New Jersey vẫn có mức tăng dân số không đổi trong các năm 2007-2012, trong khi Alaska, Michigan, and Rhode Island có tỷ lệ giảm số người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em nhanh hơn trong giai đoạn 2007-2012 trước suy thoái.

Các ước tính cấp hạt cho thấy một mô hình tương tự. Hạt Pima của  bang Arizona chuyển từ nhập cư thuần (+13,290) những năm 2000-2010, sang xuất cư thuần (-570) những năm 2010-2012. Hạt Lyon của bang Nevada cũng vậy, từ (+3,600) giai đoạn 2000-2010, sang (-50) giai đoạn 2010-2012.

Hạt Clark, bang Nevada, có 61.000 người nhập cư trong giai đoạn 2000-2010, nhưng trong các năm 2010-2012 con số này giảm xuống dưới 5.000 người/năm. Những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em tiếp tục di cư khỏi California. Chỉ có 2/58 hạt của California có số người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em tăng từ 2010 đến 2012. Tại Florida từ năm 2010, hầu hết các hạt có mức tăng của nhóm dân số này chậm. Hạt Citrus là một ví dụ, mức tăng hàng năm của nhóm dân số thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em là 5,3% trong giai đoạn 2000-2010, nhưng mức tăng này giảm đi 0,8%/năm từ 2010-2012. Hạt Suffolk của bang Massachusetts có mức giảm lớn nhất với 1,3%/năm từ 2000-2010 và tăng 0,2% từ 2010 đến 2012.

Khi những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em đến tuổi nghỉ hưu, dự kiến sẽ có nhiều người chuyển đến sống ở những nơi phù hợp với khả năng tài chính của họ, đặc biệt tại các bang miền nam. Tuy nhiên, nhiều hạt có mức giảm gia tăng dân số mạnh là nơi đến truyền thống của những người nghỉ hưu tại các bang vùng Vành đai Mặt trời (khu vực băng ngang miền Tây và Tây Nam nước Mỹ). Từ 2000 đến 2007, dân số tại các hạt có tỷ lệ cao những người nhập cư thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em từ 60 tuổi trở lên tăng 3,1% - gấp 3 lần mức tăng của cả nước. Nhưng từ 2007 đến 2012, mức tăng chậm lại với 1,4%/năm, trong khi gia tăng dân số của các hạt khác tăng nhẹ từ 0,7% lên 0,8%. Nhiều hạt có cả người nước ngoài và người Mỹ chuyển đến sống, vì thế giảm gia tăng dân số ở các hạt này không thể quy cho thế hệ bùng nổ trẻ em. Tuy nhiên, tại một số khu vực, đặc biệt Florida và Tây nam, những người thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em đóng một vai trò quan trọng trong chu kỳ bùng nổ dân số.

Thu Phương

Nguồn: www.prb.org


 

Liên kết