PGS. TS. Đặng Nguyên Anh*

 


Đặc trưng dân số và di dân ở Tây Nguyên

 Theo kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở 1/4/2009, quy mô dân số Tây Nguyên là 5.115.135 người, với đầy đủ 54/54 dân tộc. Tổng diện tích là 5,469 triệu ha (chiếm 16,5% diện tích tự nhiên cả nước). Dân cư tập trung đông nhất ở ba tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng và thưa hơn ở Đắk Nông và Kon Tum. Tây Nguyên là vùng có mật độ dân số thấp nhất (99 người/km2) so với mật độ 268 người/km2 trung bình của cả nước. Mật độ dân số thấp là một trong những nhân tố thu hút các luồng di cư đến Tây Nguyên qua nhiều thập kỷ qua.

Từ sau 1975 đến nay, Tây Nguyên là nơi có tốc độ tăng dân số và biến động dân cư lớn nhất cả nước, chủ yếu do tăng tự nhiên và tăng cơ học thông qua di dân. Năm 1976, dân số Tây Nguyên chỉ là 1,23 triệu người, gồm 18 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 69,7% dân số. Năm 1993, quy mô dân số ở khu vực này tăng lên 2,37 triệu người, gồm 35 dân tộc (chiếm 44,2% dân số của vùng). 10 năm sau, dân số Tây Nguyên tăng lên 4,67 triệu người, với 46 dân tộc, trong đó đồng bào dân tộc chỉ chiếm 25,3% dân số. Trong 25 năm qua, dân số Tây Nguyên tăng gấp 1,54 lần, trong khi dân số cả nước tăng 1,2 lần. Năm 2013, nếu tính cả số dân di biến động thì quy mô dân số Tây Nguyên có khoảng 5,5-6 triệu người. Mức tăng bình quân của dân số thời kỳ 1979-1989 là 5,2%/năm, thời kỳ 1989-1999 là 5,1%/năm, và thời kỳ 1999-2009 là 2,3%/năm.

Có thể nhận thấy Tây Nguyên hiện nay vẫn là địa bàn cư trú của một dân số tương đối trẻ hiện nay. Dân số dưới 15 tuổi chiếm tỷ trọng hơn 35% ở khu vực này, tương tự với tỷ trọng dân số Việt Nam vào những năm đầu Đổi mới. Cấu trúc dân số trẻ vừa là do mức sinh tương đối cao ở Tây Nguyên, đồng thời là hệ quả trực tiếp của di dân lên Tây Nguyên trong mấy chục năm qua (TCTK, 2011). Tuy tụt hậu về phát triển kinh tế so với mặt bằng chung cả nước, song trong 10 năm qua cơ cấu dân số theo nhóm tuổi vẫn cho thấy sự thay đổi tích cực theo quy luật quá độ dân số. Tỷ trọng dân số trẻ em dưới 15 tuổi giảm xuống, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động tăng lên, đồng thời tỷ trọng dân số già (trên 65 tuổi) cũng tăng.

Trong 5 tỉnh Tây Nguyên, Kon Tum có cơ cấu dân số trẻ nhất, kế đến là Gia Lai, Đắc Nông, và cuối cùng là Lâm Đồng và Đắc Lắc. Có thể nhận thấy sự khác biệt rõ trong cơ cấu dân số dân tộc Kinh và các dân tộc khác ở Tây Nguyên. Đồ thị tháp dân số cho thấy trong khi người Kinh tại đây đã bước vào giai đoạn sinh đẻ ít thì cơ cấu dân số của đồng bào dân tộc vẫn ở giai đoạn đầu của quá độ dân số với mức sinh cao và cơ cấu dân số còn khá trẻ.


Tháp dân số dân tộc Kinh và các dân tộc khác ở Tây Nguyên, 2009

                               

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009.

 


Cùng với Đông Nam bộ, Tây Nguyên là khu vực tiếp nhận nhiều nhất các luồng di cư đến từ các địa phương khác. Biến động di dân đến Tây Nguyên diễn ra mạnh mẽ theo thời gian. Trong giai đoạn 1996-2000, quá trình nhập cư lớn diễn ra tại khu vực này với quy mô 170-180 ngàn người/năm. Vào những năm 2001-2002, di dân giảm xuống mức 80-90 ngàn người/năm. Nhưng đến năm 2003, di dân lại tăng đột biến, với mức tăng trên 160 ngàn người/năm. Rồi tiếp đó, năm 2004 số người di cư tăng chậm (84 ngàn người) nhưng đến năm 2005 lại tăng 110 ngàn người. Từ đó đến nay, tăng dân số cơ học diễn ra với sự có mặt của đồng bào dân tộc đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc. Đây là đặc trưng cần chú ý trước yêu cầu quản lý, giám sát và ổn định dân cư ở Tây Nguyên.

Có thể nói, không có bất cứ nơi đâu ở Việt Nam lại có tốc độ tăng dân số cơ học mạnh mẽ như Tây Nguyên. Tỉnh có sự biến động lớn nhất là Đắk Nông, từ một địa bàn có tỷ suất nhập cư thuần âm (-5o/oo) năm 2011 trở thành tỉnh có tỷ suất nhập cư thuần dương năm 2012 (36,2o/oo). Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009 cho thấy số người di cư (từ 5 tuổi trở lên) đến Tây Nguyên trong giai đoạn 5 năm trước thời điểm điều tra là trên 198.000 người. Tuy nhiên đây chỉ là những con số khiêm tốn gắn với loại hình di cư lâu dài. Nếu tính cả di dân tự do và lao động di cư mùa vụ nông nghiệp (chăm sóc, thu hoạch cà phê…), quy mô di dân lớn hơn nhiều. Biến động dân cư Tây Nguyên diễn ra cùng với việc chia tách tỉnh, song sự tăng, giảm bất thường phản ánh tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội và chính sách tại khu vực này.

Có thể xem xét 3 cộng đồng dân cư hiện nay ở Tây Nguyên:

(1) Cộng đồng cư dân bản địa (đồng bào dân tộc tại chỗ), tỷ trọng trong dân số khá thấp so với trước đây, chiếm không quá 25% dân số Tây Nguyên.

(2) Cộng đồng người Kinh, hầu hết di dân lên Tây Nguyên dưới nhiều hình thức trong các thời kỳ khác nhau. Hiện nay người Kinh chiếm 64,7% dân số toàn vùng.

(3) Cộng đồng dân tộc thiểu số phía Bắc di cư tự do đến Tây Nguyên trong những năm gần đây, chiếm gần 10% dân số Tây Nguyên.

Sự không đồng đều về quy mô dân số giữa các dân tộc ở Tây Nguyên dẫn đến những ảnh hưởng khác nhau. Với số dân đông nhất, dân tộc Kinh có vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế-xã hội. Cộng đồng người Kinh có mặt ở Tây Nguyên từ trước năm 1975 chủ yếu tập trung ở thị trấn, thị xã, các trung tâm thành thị. Cuộc di dân ồ ạt lên Tây Nguyên từ giữa thập niên 90 đến đầu thập niên 2000 dưới nhiều hình thức và phương thức khác nhau đã đưa đến những biến đổi lớn về kinh tế, xã hội và văn hóa ở khu vực này. Cơ cấu dân số theo thành phần dân tộc có biến động lớn, do tiếp nhận các luồng di dân từ các vùng miền trong cả nước. Hiện nay, trong cộng đồng 54 dân tộc ở Tây Nguyên, có 12 dân tộc bản địa đã sinh sống lâu đời ở đây, số còn lại đến từ nơi khác. Trong số này, có 4 tộc người Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Cơ Ho vẫn duy trì được số dân đáng kể, còn các tộc người Xơ Đăng và Mơ Nông đã nhường chỗ về quy mô dân số cho các dân tộc Tày, Nùng đến từ các tỉnh phía Bắc.

Hàng năm Tây Nguyên được bổ sung một lực lượng lao động trẻ (20-30 tuổi) khá lớn thông qua di dân. Tuy nhiên, trình độ học vấn và kỹ năng tay nghề của nhóm này còn hạn chế. Phần lớn người di cư làm nông nghiệp, là nông dân và ít thay đổi nghề nghiệp sau khi đến Tây Nguyên. Trong khi đó, khả năng thu hút lao động dược đào tạo đến Tây Nguyên rất hạn chế. Việc ban hành và thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực có trình độ chưa hiệu quả. Dưới tác động của cơ chế thị trường, chênh lệch thu nhập, điều kiện sống và cơ hội phát triển đã tạo nên dòng di cư ngược. Lao động có trình độ tay nghề của Tây Nguyên, đặc biệt từ Buôn Ma Thuột và Đắk Lắk, di chuyển về các thành phố lớn làm việc là một thực tế diễn ra trong nhiều năm qua. Chất xám đang có xu hướng dịch chuyển ra khỏi Tây Nguyên, làm trầm trọng thêm sự thiếu hụt nhân lực có chất lượng của khu vực này. Người di cư đến các tỉnh Tây Nguyên thường tập trung tại những nơi có đất canh tác, có điều kiện phát triển kinh tế, gần đường giao thông và nơi tiêu thụ.

Thập niên đầu của thế kỷ 21, di dân đến Tây Nguyên được thực hiện chủ yếu theo các dự án phát triển. Chính sách di dân được điều chỉnh và sửa đổi nhằm phản ánh sát hơn quy luật di dân khách quan, đồng thời giảm bớt sự bao cấp trực tiếp của nhà nước, tăng cường công tác quản lý trên lĩnh vực này. Nhà nước chịu trách nhiệm đầu tư hạ tầng nơi đến, đảm bảo an ninh lương thực, y tế, giáo dục, môi trường, gắn chính sách di dân với chính sách giảm nghèo, phối hợp chặt chẽ hơn trong công tác chuẩn bị trước khi người dân chuyển đến, đảm bảo tính chủ động của địa phương và vùng dự án trong tiếp nhận dân. Các mô hình di dân xen ghép được thử nghiệm, khuyến khích đồng bào dân tộc tại chỗ và đồng bào di cư ở Tây Nguyên cùng nhau phát triển. Các vùng chuyên canh cà phê, cao su, tiêu, mía đường, dâu tằm,… được hình thành đã và đang thu hút lao động đến từ các vùng miền trên cả nước, dưới hình thức di cư mùa vụ cũng như lâu dài. Mặc dù các giải pháp chính sách trên đã góp phần hạn chế tình trạng di cư tự do quy mô lớn đến Tây Nguyên trong hơn 10 năm qua, song các luồng di cư của đồng bào dân tộc từ các vùng đặc biệt khó khăn ở các tỉnh phía Bắc đến Tây Nguyên vẫn tiếp diễn.

Tác động đến sự phát triển bền vững Tây Nguyên

Tác động tích cực

Sự gia tăng dân số và di dân ở Tây Nguyên góp phần hình thành và phát triển các khu vực trung tâm, hoặc các điểm dân cư mới. Công tác di dân góp phần giãn dân, giảm sức ép việc làm. Nhu cầu đất canh tác ở các tỉnh đồng bằng đất chật, người đông, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đời sống của người dân vùng kinh tế mới, vùng định canh định cư, vùng dự án và khu vực biên giới trở nên ổn định, đất đai được phân bổ quản lý đã góp phần củng cố trật tự xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng.

 Tây Nguyên cần được phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế và đặc thù của khu vực này. Kết quả nghiên cứu cho thấy có thể kỳ vọng vào sự phát triển bền vững của Tây Nguyên từ góc độ dân số và di dân. Sự phát triển của Tây Nguyên gắn liền với sự hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp như cà phê, cao su, chè, tiêu, điều,… trong đó, lao động di cư có vai trò quan trọng. Đời sống của người dân nhìn chung được cải thiện. Đại đa số người di cư hài lòng với quyết định di chuyển và yên tâm làm ăn, sinh sống lâu dài. Với tiềm năng, lợi thế về lao động, đất đai và điều kiện tự nhiên thuận lợi, chi phí tạo việc làm thấp, nên vấn đề giải quyết việc làm đối với Tây Nguyên không phải là bài toán lớn. Tuy nhiên, cần có chiến lược nâng cao chất lượng dân số và phát triển nguồn nhân lực, song song với việc bảo vệ môi trường ở khu vực này. Các chính sách cần được xem xét, cân nhắc kỹ với các giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn theo lộ trình, phù hợp với đặc thù phát triển của các dân tộc ở Tây Nguyên.

 Tác động tiêu cực

 + Quan hệ dân tộc, tôn giáo trở lên phức tạp

Mỗi dân tộc có trình độ phát triển và điều kiện kinh tế-xã hội khác nhau. Việc có nhiều thành phần dân tộc trên một địa bàn cư trú tạo nên sự phức tạp về xã hội. Phương thức sản xuất và sinh hoạt của các dân tộc thiểu số chịu ảnh hưởng bởi nhiều phong tục tập quán và tín ngưỡng gắn với đất đai, nguồn nước, rừng, núi, dẫn đến những khác biệt về lối sống. Qua nhiều năm phát triển, đói nghèo ở các hộ dân tộc có chiều hướng giảm, nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao trong số hộ nghèo của Tây Nguyên.

Quan hệ dân tộc đa dạng và phức tạp là thách thức đặt ra ở Tây Nguyên khi người dân tộc đang trở thành thiểu số trên chính quê hương họ. Sự gia tăng dân số (chủ yếu là tăng cơ học) diễn ra trong nhiều thập niên với cường độ lớn kéo dài đã khiến cho cơ cấu dân tộc đảo lộn. Xung đột nảy sinh trong sở hữu và sử dụng đất đai, cùng với mai một văn hóa truyền thống, và gia tăng sức ép môi trường ở Tây Nguyên. Đất đai hoang hóa trước đây nay đều đã có chủ nên người di cư, đặc biệt đồng bào dân tộc buộc phải di chuyển vào sâu trong núi, khu vực rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ… Tính cố kết cộng đồng và đặc trưng văn hóa theo vùng miền là những thách thức đối với sự gắn kết xã hội, hạn chế sự liên kết, chia sẻ, hợp tác giữa các cộng đồng dân cư ở Tây Nguyên. Ngay cả đối với cộng đồng người Kinh, tính cát cứ vùng miền, sự khu trú trong quan hệ xã hội theo địa phương xuất cư làm cho vấn đề dân tộc phức tạp.

+ Di dân với vấn đề sở hữu và sử dụng đất đai

Di dân đặt ra nhiều vấn đề về sở hữu và sử dụng đất. Diện tích đất canh tác bị thu hẹp tương ứng với số lượng cư dân có mặt, gây nên sức ép sinh kế đối với một bộ phận lớn các dân tộc tại chỗ. Bên cạnh vấn đề lấy đất để phát triển nông lâm trường, khai khoáng và phát triển thủy điện không tuân thủ quy hoạch, di dân và phát triển cây công nghiệp ở Tây Nguyên là một trong những nguyên nhân chính làm phá vỡ tập quán cư trú và canh tác truyền thống ở khu vực này. Mặc dù đã có chủ trương, chính sách song các vùng dự án không giao đủ đất cho các hộ dân cư như quy hoạch đã được phê duyệt do việc thu hồi đất ở các nông, lâm trường không được thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả. Trên thực tế, diện tích đất đai do các nông, lâm trường quản lý trên danh nghĩa hiện nay rất khó xác định về con số, thậm chí là không thể.

Trong khi đó, nhóm cư dân mới đến bao gồm cả người Kinh và đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc do chưa được trang bị những kiến thức cơ bản về văn hóa và con người của vùng đất này. Sự thiếu hiểu biết về phương thức sử dụng và sở hữu đất đai là nguyên nhân dẫn đến những xung đột, tranh chấp kéo dài.

Mâu thuẫn giữa sở hữu đất đai của nhà nước với sở hữu đất đai của cộng đồng buôn làng đã trở thành vấn đề nổi cộm ở Tây Nguyên trong nhiều năm qua. Sự không tương thích giữa sở hữu toàn dân do nhà nước là chủ đại diện và sở hữu tập thể của cộng đồng buôn làng, và tình trạng tranh chấp đất giữa các buôn làng với các nông lâm trường, giữa người dân tại chỗ với người dân mới đến, là lý do khiến cho một bộ phận đồng bào dân tộc tại chỗ lâm vào cảnh thiếu đất sản xuất, trở thành nhân công đi làm thuê, hoặc lùi vào vùng sâu, vùng xa tiếp tục phá rừng phát nương làm rẫy. Trên thực tế, các cấp chính quyền rất khó kiểm soát được hoạt động mua bán, bao chiếm đất đai, nhất là các hộ cư trú ở vùng rừng núi, đi lại khó khăn.

+ Phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng gia tăng, chất lượng sống thấp

Tây Nguyên là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế và kết quả giảm nghèo khá khích lệ, song tốc độ giảm nghèo chưa ổn định, tỷ lệ tái nghèo cao, chủ yếu trong các hộ đồng bào dân tộc. Nguyên nhân đói nghèo ở Tây Nguyên là do cơ sở hạ tầng nghèo nàn lạc hậu, thiếu vốn, đất đai, thị trường tiêu thụ kém phát triển, thiếu thông tin, kỹ thuật canh tác lạc hậu, năng lực quản lý yếu kém của chính quyền và cán bộ địa phương. Sự phân hóa giàu nghèo khá rõ rệt giữa các cộng đồng dân cư. Như được ghi nhận qua kết quả nghiên cứu, hầu hết dân tộc Kinh có thu nhập khá, các dân tộc mới đến như Tày, Nùng, Thái, Mường có mức sống trung bình, còn đồng bào dân tộc tại chỗ có mức sống và thu nhập thấp nhất trong cả ba nhóm dân số.

Bất bình đẳng về cơ hội và lợi ích gia tăng, gây nên những tác động tiêu cực đối với người dân tộc bản địa. Ở Gia Lai, người dân tộc sở tại Ba Na sống bên hồ Ayun Hạ không được phép thả lưới bắt cá sau khi công trình tích nước hồ thủy lợi này hoàn thành. Việc khai thác hồ là của nhà thầu. Nhiều hộ gia đình bản địa phải di dời do công trình hồ thủy lợi, sống ngoài vùng trồng lúa, nương rẫy không còn, khiến đời sống người dân cực kỳ khó khăn. Không gian sinh tồn của người bản địa có thể khôi phục lại được.

Theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc, vào thời điểm 2011 toàn vùng Tây Nguyên còn trên 20.000 hộ thiếu đất sản xuất với diện tích không dưới 12.000 ha. Một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc vẫn đang có cuộc sống không ổn định (Ủy ban Dân tộc, 2011). Đời sống kinh tế-xã hội và văn hóa của đồng bào di cư còn nhiều khó khăn. Ban đầu, các hộ dân mới đến thường sống co cụm theo từng nhóm, ở sâu trong địa bàn không có cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi xã hội. Phần lớn người di cư không có hộ khẩu thường trú nên không được cấp thẻ bảo hiểm y tế, ở xa trung tâm và trạm y tế nên hầu hết không tiếp cận được dịch vụ khám chữa bệnh. Phụ nữ dân tộc thường sinh nở tại nhà và nên nguy cơ tử vong khá cao. Hầu hết trẻ em đồng bào dân tộc không được đến trường đúng độ tuổi và không có điều kiện học lên. Tình trạng trẻ bỏ học nhiều hơn so với người Kinh và so với mặt bằng chung của xã hội. Trung bình cứ 10 em đến độ tuổi đến trường chỉ có 3 em được đi học (Ban Dân vận Trung ương, 2013).

+ Tác động đến môi trường sinh thái và phát triển bền vững

Diện tích đất nông nghiệp của Tây Nguyên không ngừng được mở rộng theo thời gian đồng nghĩa với việc khai hoang và thu hẹp diện tích che phủ của rừng ở khu vực này (bình quân mỗi năm khai hoang không dưới 10 nghìn ha). Với tốc độ khai thác quá nhanh, thiếu kiểm soát của các dự án thủy điện, khai khoáng, quy hoạch trồng cây cao su…, tài nguyên và diện tích rừng ở Tây Nguyên bị thu hẹp và suy thoái dần. Ví dụ, vùng rừng khộp dày đặc ở Gia Lai hiện không còn; các cánh rừng già nguyên sinh ở Kon Tum bị chặt hạ, chỉ còn các loại cây tầm thấp với tre nứa, cỏ gai. Rừng Tây Nguyên đang cạn kiệt từng ngày.

Theo một báo cáo của Bộ Tài Nguyên - Môi trường (2012), chỉ trong 5 năm (2007-2011) diện tích rừng toàn vùng Tây Nguyên bị mất đi 130.000 ha (rừng tự nhiên mất hơn 100.000 ha và rừng trồng giảm 22.000 ha). Hiện nay, tổng diện tích rừng của Tây Nguyên còn lại chưa đến 5,5 triệu ha (tương ứng 51,3%). Trong khi đó, sản xuất nông-lâm nghiệp, và nhất là các dự án thủy điện, khai thác khoáng sản chưa chú ý bảo vệ môi trường, không trồng mới dẫn đến hậu quả môi trường sinh thái rất lớn. Nguồn thu lớn từ cây cao su và cà phê cho một số doanh nghiệp không bù đắp được môi trường rừng bị suy thoái.

Diện tích rừng do người di dân tự do khai thác không lớn. Việc xây dựng các dự án thủy điện là tác nhân chính chặt phá rừng trên quy mô lớn ở Tây Nguyên. Nhiều hoạt động núp bóng dự án thủy điện, khai khoáng, quy hoạch trồng cao su để khai thác rừng bừa bãi, lấy đi gỗ quý khiến rừng Tây Nguyên thêm cạn kiệt. Diện tích rừng bị co hẹp, tài nguyên rừng bị suy thoái là thách thức lớn đến phát triển bền vững của Tây Nguyên.

 Một số khuyến nghị, giải pháp

Đổi mới nhận thức về di dân và chính sách di dân

Di dân vì nhu cầu việc làm và với mục tiêu kinh tế là quyền chính đáng nhằm cải thiện cuộc sống con người. Cần nâng cao sự hiểu biết về động lực di cư, từ đó có những chính sách nhằm giảm bớt rủi ro, đồng thời hạn chế các hệ lụy của di dân. Với bản chất năng động của người di cư, quy mô tương đối lớn của các luồng di dân là một nét đặc trưng trong quá trình phát triển của Tây Nguyên.

Tuy nhiên, nhận thức chính sách và hiểu biết về di dân đang tụt hậu. Cần có các chính sách xã hội phù hợp với dân di cư và không di cư. Các địa phương nhận dân xem di cư như một gánh nặng đối với địa phương nên không muốn tiếp nhận, ổn định và hòa nhập người di cư. Các chính sách kinh tế-xã hội đến nay chưa làm rõ hoặc chưa chú ý đến yếu tố di dân và do đó chưa phát huy được những lợi ích của di dân.

Đảm bảo an sinh xã hội, hòa nhập cộng đồng là nội dung then chốt, xuyên suốt trong chính sách di dân. Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập, di dân vừa là quy luật khách quan, vừa là nhân tố thúc đẩy quá trình phát triển. Dân số và di dân cần được lồng ghép hiệu quả trong các chiến lược phát triển và kế hoạch kinh tế-xã hội của Tây Nguyên cũng như của các địa phương các cấp.

Tạo điều kiện ổn định đời sống và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người di cư tại địa bàn nơi đến

Tự do di chuyển và cư trú là một trong những quyền cơ bản của mọi công dân. Trong thực tế người di cư gặp không ít khó khăn tại nơi ở mới như: đăng ký hộ khẩu, tiếp cận với các dịch vụ công (y tế, giáo dục, bảo hiểm, tín dụng…), thậm chí phải chịu chi phí cao hơn để có được các dịch vụ này. Đây là những hạn chế tác động đến khả năng ổn định và hòa nhập các cộng đồng di cư, nhất là các hộ nghèo.

 Các nghiên cứu cho thấy di dân đến Tây Nguyên chủ yếu là do sức hút đất đai, cây công nghiệp, tài nguyên rừng và điều kiện canh tác thuận lợi,… Vấn đề giải quyết đất đai cho đồng bào dân tộc tạo chỗ ở Tây Nguyên đang đứng trước những thách thức. Ranh giới của các lâm trường, ban quản lý rừng cần được rà soát và phân định rõ ràng. Trước khi giao rừng cho các nông - lâm trường phải kiểm kê, đánh giá lại diện tích, trữ lượng, quy ra giá trị bằng tiền để quản lý, bảo vệ có trách nhiệm. Cần thu hồi diện tích đất của các nông - lâm trường sử dụng không đúng mục đích, kém hiệu quả, nhằm tạo quỹ đất cho việc hỗ trợ đồng bào dân tộc và các hộ di cư thiếu đất sản xuất. Đồng thời, giải quyết dứt điểm các vụ tranh chấp đất đai trên cơ sở ưu tiên và bảo đảm quyền của người dân tại chỗ, tiến tới thực hiện chính sách định mức hạn điền ở Tây Nguyên.

Thành lập cơ quan chuyên trách về di dân

Trong nhiều năm qua, luôn thiếu một cơ quan có đủ am hiểu, đủ quyền hạn và năng lực quản lý thống nhất về di dân. Vấn đề không phải là không có đầu mối thích hợp mà cần xác định cơ quan có năng lực và trách nhiệm trong lĩnh vực này. Trong khi các lĩnh vực khác như dân tộc, tôn giáo, y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, việc làm, gia đình, phụ nữ, trẻ em,... đều có cơ quan chuyên trách thì di dân vẫn còn bỏ ngỏ về bộ máy. Đây là một yêu cầu cấp bách nhằm hoàn thiện thể chế, góp phần phát triển bền vững Tây Nguyên.

Cần xem xét thành lập một cơ quan chuyên trách về di dân ở Tây Nguyên. Cơ quan này có chức năng, quyền hạn, đủ năng lực và nguồn lực để tham mưu cho Ủy ban Nhân dân hoặc Ban chỉ đạo Tây Nguyên trong các hoạt động quản lý, điều phối, giám sát di dân từ góc độ liên ngành, đồng thời thu thập và cập nhật đầy đủ các thông tin, số liệu về các luồng di dân ra vào Tây Nguyên, cũng như di dân nội địa trong toàn vùng. Việc hoạch định chính sách hiệu quả và kịp thời phụ thuộc rất nhiều vào các thông tin đầy đủ, cập nhật về di dân, được đầu tư thu thập một cách hệ thống. Những số liệu này cần được chia sẻ rộng rãi, và có thể tiếp cận dễ dàng, góp phần đánh giá, lồng ghép trong xây dựng kế hoạch và chính sách.

Định hướng phát triển bền vững Tây Nguyên

Có thể nhận thấy chất lượng dân số, nguồn nhân lực thấp, thu nhập thấp và bất bình đẳng là những trở ngại lớn đối với sự phát triển xã hội bền vững. Cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa, mô hình sản xuất và tiêu dùng diễn ra theo xu hướng tiêu tốn ngày càng nhiều năng lượng, tài nguyên và đa dạng sinh học, phát thải nhiều khí thải, chất thải độc hại ra môi trường.

Phát triển bền vững Tây Nguyên đòi hỏi việc nâng cao chất lượng dân số, nguồn nhân lực, ổn định dân cư. Phát triển dân số phải hài hòa với phát triển kinh tế, và môi trường, nâng cao dân trí. Phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi sự đầu tư dài hạn, có lộ trình, gắn với tăng thu nhập, giảm nghèo bền vững, thu hẹp khoảng cách giàu-nghèo. Tây Nguyên đang đứng trước những thách thức to lớn trước nhu cầu khai thác tài nguyên, khoáng sản không được quản lý, giám sát và sử dụng hợp lý. Với mục tiêu tái cấu trúc kinh tế, dân số-lao động Tây Nguyên cần được chuyển đổi theo hướng nâng cao trình độ, tay nghề và tăng hàm lượng chất xám trong các sản phẩm của Tây Nguyên. Trên bình diện phát triển xã hội, không thể không bao gồm các vấn đề dân số và di dân, tiếp cận nguồn lực và các dịch vụ cơ bản, giảm nghèo bền vững, nhất là với đồng bào các dân tộc. Điều này hàm chứa những cơ hội và thách thức trong giai đoạn phát triển mới của Tây Nguyên.



* Viện Xã hội học, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam.

 

 

Liên kết