THỰC HIỆN MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC DS/SKSS

GIAI ĐOẠN 2011-2020 VỀ QUI MÔ DÂN SỐ:

TRIỂN VỌNG VÀ THÁCH THỨC

                                                                                    TS. NGUYỄN QUỐC ANH*


Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011, phê duyệt Chiến lược Dân số và Sức khoẻ sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Mục tiêu của giai đoạn này không chỉ tập trung vào giảm sinh mà đã mở rộng ra các mục tiêu về qui mô, cơ cấu và chất lượng dân số. Để thực hiện mục tiêu về qui mô dân số ngoài những chỉ tiêu kiểm định như tổng số dân số, mật độ dân số, qui mô hộ gia đình,. . Các nhà nhân khẩu học kinh tế thường đánh giá thông qua chỉ tiêu dự báo khoảng thời gian dân số tăng gấp đôi của từng vùng lãnh thổ, đơn vị hành chính địa lý. Sự tăng trưởng biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm không phải bao giờ cũng cho những thông tin rõ ràng (tỷ suất tăng trưởng  2% hoặc 3% là nhanh hay chậm ?). Một cách đánh giá rõ hơn về sự tăng dân số là tính xem với mức độ hiện hành thì qui mô dân số sẽ tăng lên gấp đôi trong thời gian bao lâu.

Chỉ tiêu khoảng thời gian dân số tăng gấp đôi dự báo cho biết qui mô dân số của một vùng sẽ tăng lên (gấp đôi hiện tại) với tốc độ như thế nào để phục vụ cho việc hoạch định chiến lược, kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế xã hội. Thời gian tăng gấp đôi là con số dự tính qui mô dân số tương lai theo mức tăng trưởng thực tế với giả thiết không thay đổi. Tính thời gian tăng gấp đôi giúp cho ta có một bức tranh về tăng trưởng qui mô dân số nhanh như thế nào ở thời gian hiện tại. Một cách đơn giản tính thời gian qui mô dân số tăng gấp đôi là lấy 70 chia cho tỷ lệ phát triển dân số tính theo phần trăm.

Thời gian tăng dân số gấp đôi không thể sử dụng để dự báo dân số trong tương lai vì sử dụng giả thiết tăng trưởng không thay đổi qua nhiều thập kỷ, nhưng thực ra tỷ suất tăng trưởng có thay đổi. Song việc tính thời gian tăng gấp đôi giúp cho thấy một bức tranh về qui mô dân số tăng trưởng nhanh như thế nào so với hiện tại. Số năm trung bình dân số tăng gấp đôi biến đổi theo thời gian và khác nhau theo từng vùng, từng quốc gia, tùy thuộc vào mức độ phát triển dân số. Trong phần này chúng ta xem xét sự biến đổi trong khoảng thời gian 20 năm (1990 và 2010), tức thập kỷ cuối của thế kỷ trước và thập kỷ đầu của thế kỷ 21 chúng ta cũng thấy rõ sự thay đổi của qui mô dân số.

Trên toàn thế giới vào năm 1990 số năm tăng gấp đôi là gần 47 năm thì 20 năm sau nhờ những thay đổi về tỷ lệ tăng dân số, số năm dân số tăng gấp đôi là trên 58 năm (tăng hơn 10 năm). Tuy vậy sự khác biệt là rất khác nhau giữa các châu lục. Thời gian tăng dân số của châu Phi năm 1990 là 27,5 năm. Sau 20 năm tình hình được cải thiện nhưng cũng chỉ là 29 năm vào năm 2010. Trong khi đó ở châu Âu, ngay từ năm 1990, số năm dân số tăng lên gấp đôi đã là gần 400 năm (389 năm), đến năm 2010 với tỷ lệ phát triển dân số âm thì đã là ngoài tầm dự báo của công thức đã  nêu (nếu tỷ lệ phát triển dân số là 0,1% thì số năm tăng gấp đôi đã là 700 năm, nếu là 0,01% thì số năm dân số tăng gấp đôi sẽ là 7.000 năm).


Bảng 1. Số năm dân số tăng gấp đôi của các châu lục, 1990-2010

 

1990

 

2010

 

 

Tỷ lệ phát triển dân số (%)

Số năm dân số tăng gấp đôi

Tỷ lệ phát trỉển dân số (%)

Số năm dân số tăng gấp đôi

Thế giới

1,49

46,9

1,2

58,3

Châu Phi

2,54

27,5

2,4

29,1

Châu Mỹ

1,73

40,5

1,0

70

Châu Á

1,58

44,3

1,2

58,3

Châu Âu

0,18

388,9

Phát triển âm

-

Châu Úc

1,59

44,0

1,1

63,6

Nguồn : World Population Data sheet 1990-2010. PRB


      Châu Á là châu lục hiện có số năm dân số tăng gấp đôi ngang bằng với mức chung của thế giới, tuy nhiên trong thời gian những năm 1990 có tăng nhanh hơn chút ít. Tuy vậy nếu xét trong từng khu vực thuộc châu Á thì cũng có độ chệnh lệch nhất định.


Bảng 2. Số năm dân số tăng gấp đôi của khu vực thuộc châu Á, 1990-2010

 

1990

 

2010

 

 

Tỷ lệ phát triển dân số (%)

Số năm dân số tăng gấp đôi

Tỷ lệ phát triển dân số (%)

Số năm dân số tăng gấp đôi

Châu Á

1,58

44,3

1,2

58,3

Tây Á

2,38

29,4

1,9

36,8

Trung nam Á

1,99

35,2

1,8

38,9

Nam Á

2,06

34,0

1,6

43,8

Đông Á

1,75

40,0

0,5

140

Đông nam Á

1,83

38,3

1,3

53,8

Nguồn: ESCAP Population Data Sheet 1990-2010, UN ESCAP


Qua các số liệu trên ta thấy dân số khu vực Đông Á có mức độ phát triển tiếp cận gần nhất với xu thế của các nước đã phát triển ở châu Âu và có nhịp độ phát triển nhanh, trong khi các khu vực khác có xu thế chuyển đổi chậm. Chính sự chuyển đổi nhanh về nhân khẩu học này đã là cơ sở cho khu vực Đông Á có tốc độ phát triển kinh tế-xã hội tốt nhất, đặc biệt có những quốc gia có tốc độ phát triển thần kỳ như Nhật Bản, Hàn Quốc. Thí dụ như Nhật Bản, do đã tiến hành thành công chương trình DS-KHHGĐ vào ngay những năm 70 của thế kỷ trước,  tỷ lệ phát triển dân số năm 1990 đã là 0,31 và số năm dân số tăng gấp đôi là 225,8 năm, đến năm 2010 thì tỷ lệ phát triển dân số âm tương tự như các nước phát triển châu Âu và hiện nay đang phải thực hiện chương trình khuyến sinh. Trung Quốc thời gian qua đã có tốc độ phát triển kinh tế thần kỳ và trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ hai thế giới, một phần quan trọng là từ sự quyết liệt thực hiện thành công chương trình dân số và khống chế được qui mô dân số hợp lý. Nếu năm 1990 tỷ lệ tăng dân số là 2,25 và số năm dân số tăng gấp đôi là 31,1 năm thì đến năm 2010 tỷ lệ tăng dân số chỉ là 0,5 và số năm dân số tăng gấp đôi là 140 năm.

Khu vực Đông Nam Á cũng là khu vực đã đạt được những thành tích tốt về khống chế qui mô dân số, tạo tiền đề cho việc phát triển kinh tế xã hội, đây là khu vực chỉ đứng sau khu vực Đông Á, và trong khu vực cũng đã có những quốc gia do tập trung giải quyết thành công chương trình KHHGĐ trong một thời gian ngắn, sớm giảm nhanh tỷ lệ sinh, sớm khống chế được qui mộ dân và tạo ra bước phát triển kinh tế-xã hội nhanh chóng như Singapore, Thailand, . . .

     Trong các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng nhận thấy rằng, mặc dù trước đây do chính sách đóng cửa nên chúng ta không có nhiều thông tin về Myamar, nhưng số liệu gần đây cho thấy Myamar đã có những bước phát triển mạnh về chương trình dân số và sẽ là tiền đề thuận lợi cho việc phát triển kinh tế-xã hội. Điều này đã được khẳng định khi nhiều nhà kinh tế học đã dự báo, trong thời gian tới đây Myamar sẽ là một đối thủ lớn của Việt Nam trong việc cạnh tranh thu hút vốn đầu tư.


Bảng 3. Số năm dân số tăng gấp đôi khu vực Đông Nam Á, 1990-2010

 

1990

 

2010

 

 

Tỷ lệ phát triển dân số (%)

Số năm dân số tăng gấp đôi

Tỷ lệ phá triển dân số (%)

Số năm dân số tăng gấp đôi

Indonesia

1,6

43,8

1,4

50

Malaysia

2,3

30,4

1,6

43,7

Phillipine

2,26

30,97

2,1

33,3

Thailand

1,41

49,3

0,6

116,7

Đông Timo

2,52

27,8

3,1

22,6

Singapore

2,85

24,6

0,6

116,7

Việt Nam

2,2

31,8

1,2

58,3

Lào

2,5

27,9

2,1

33,3

Camphuchia

3,36

20,8

1,6

43,7

Myamar

1,81

38,7

0,9

77,8

Nguồn: ESCAP Population Data Sheet 1990-2010, UN ESCAP


Việt Nam là quốc gia cũng đã có bước phát triển đột phá về chương trình DS-KHHGĐ, điều này đã đem đến kết quả khả quan trong mục tiêu sớm khống chế qui mô dân số ở mức hợp lý. Theo kết quả của các cuộc TĐTDS trong giai đoạn từ 1979 đến 1989 với tỷ lệ phát triển là 2,1% thì số năm dân số Việt Nam tăng lên gấp đôi là 33,3 năm. Đến giai đoạn 1989-1999 tỷ lệ phát triển dân số đã giảm xuống 1,7% thì số năm dân số tăng lên gấp đôi là 41,2 năm (tăng lên được 8 năm so với giai đoạn 10 năm trước). Đến giai đoạn 1999-2009, do trong thời gian này Việt Nam đạt thành công lớn về chương trình DS-KHHGĐ, tỷ lệ phát triển dân số đạt ở mức 1,2% nên số năm dân số tăng gấp đôi là 58,3 năm (tăng gần 20 năm so với giai đoạn 10 năm trước). 

Mối quan hệ giữa tăng trưởng qui mô dân số và kinh tế

      Giữa tỷ lệ tăng trưởng về qui mô dân số (thời gian dân số tăng gấp đôi xét theo dài hạn) và kinh tế có quan hệ chặt chẽ mật thiết (đặc biệt là tổng thu nhập quốc nội tính theo đầu người). Mối quan hệ này được cộng nhận và đưa vào chương trình nghị sự trong hội nghị quốc tế về dân số và phát triển bền vững (ICPD 1994 tại Cairo-Ai Cập). Cũng để đảm bảo tính so sánh giữa các quốc gia, mức thu nhập quốc nội tính theo đầu người cũng được tính chuyển sang sức mua tương đương (PPP). Đầu tiên trong các tờ số liệu dân số của khu vực châu Á-Thái Bình Dương (ESCAP Population Data Sheet), đã công bố chỉ tiêu PPP (nhưng thường chậm sau 2 năm, tương tự như chỉ tiêu HDI) bắt đầu từ tờ số liệu dân số năm 2002 (PPP năm 1999). Ngay trong tờ số liệu 2002, cũng chỉ mới công bố PPP của một số nước có số liệu, do vậy các khu vực như Asean, . . .hoặc toàn bộ khu vực ESCAP cũng chưa tính được PPP chung. Sau này có thêm tờ Số liệu Dân số Thế giới (World Population Data Sheet) của Văn phòng tham khảo dân số Hoa Kỳ (PRB) công bố cũng có công bố chỉ số PPP (tờ số liệu dân số 2010, công bố PPP của 2008). Do vậy chỉ số PPP được công bố chính thức, đảm bảo so sánh quốc tế về mối quan hệ giữa tăng trưởng dân số và kinh tế đã được công bố đều đặn hàng năm từ những năm giữa thế kỷ 20. Từ năm 2012, Văn phòng tham khảo dân số Hoa Kỳ-USA cũng đã chính thức đổi tên tờ số liệu dân số thế giới thành tờ Số liệu Dân số Thế giới và Phát triển Kinh tế (World Population and Economic Development Data Sheet). Theo những số liệu có được, có mối quan hệ mật thiết giữa tăng trưởng dân số và kinh tế. Những vùng có số năm dân số tăng gấp đôi thấp (tăng dân số nhanh) thì sẽ có chỉ số PPP bình quân đầu người thấp và ngược lại. 

        Số năm dân số tăng gấp đôi của toàn thế giới là 58,3 năm và mức thu nhập bình quân đầu người (tính theo PPP) là 10.000 USD. Châu Phi có số năm dân số tăng gấp đôi nhỏ nhất là 29,1 năm và mức thu nhập bình quân (tính theo PPP) là 2.630 USD. Châu Âu là nơi có số năm dân số tăng gấp đôi âm thì mức thu nhập bình quân là lớn nhất với 25.589 USD. Châu Mỹ là nơi có số năm dân số tăng gấp đôi lớn nhất (70 năm), mức thu nhập bình quân tương ứng là 23.370. Nếu so sánh với châu Âu ta thấy chênh lệch không lớn, điều này có thể phần nào do khi dân số tăng trưởng âm, cơ cấu dân số già, nhưng chi phí về an sinh xã hội lớn sẽ tác động đến tăng trưởng kinh tế. Do vậy mục tiêu ổn định qui mô dân số ở mức hợp lý là mục tiêu phát triển bền vững. Châu Úc với mức tăng trưởng dân số hợp lý ở mức 63,6 năm đã có mức thu nhập bình quân là 24.380 USD. Điều này cũng còn phải tính đến các ưu đãi của tài nguyên thiên nhiên sẵn có.  

Châu Á có số năm dân số tăng gấp đôi là 58,3 (bằng với mức chung của thế giới) nhưng mức thu nhập bình quân thấp hơn với 6.000 USD. Vùng Đông Nam Á có số năm dân số tăng gấp đôi nhỏ hơn mức chung là 53,8 năm thì mức thu nhập bình quân cũng nhỏ hơn tương ứng với 4.510 USD. Vùng Trung Nam Á có số năm dân số tăng gấp đôi nhỏ nhất là 38,9 năm thì mức thu nhập bình quân là 3.130 USD. Vùng Đông Á có số năm dân số tăng gấp đôi lớn nhất 140 năm thì mức thu nhập bình quân cũng lớn với 9.080 USD. Mối quan hệ này cũng ngoại trừ những vùng có sự khác biệt do thiên nhiên ưu đãi như dầu lửa, khí đốt, mỏ vàng, kim cương, . . .

Nếu so sánh theo thời gian ta sẽ thấy rõ hơn về mối quan hệ giữa tăng trưởng dân số và thu nhập bình quân đầu người. Trong khu vực Đông Nam Á những nước có điều kiện kinh tế xã hội gần với Việt Nam như Indonesia số năm dân số tăng gấp đôi của 1990 từ 43,8 năm tăng lên 50 năm vào 2010 thì tương tự mức thu nhập bình quân (PPP) từ 580 USD tăng lên 3.830 USD. Tương tự của Malaysia là 30,4 năm tăng lên 43,7 năm và thu nhập là 3.400 USD tăng lên 13.740 USD. Thái Lan là 49,3 năm tăng lên 116,7 năm và mức thu nhập tương đương là 1960 USD và 5.990 USD. Singapore đã có bước phát triển thần kỳ với mức tăng dân số từ 24,6 năm lên 116,7 năm và thành quả tương ứng với mức thu nhập bình quân từ 29.610 USD tăng lên 47.940 USD. Việt Nam cũng cho thấy sự cải thiện rõ rệt với tăng trưởng dân số từ 31,8 năm tăng lên 58,3 năm và tương đương với cải thiện thu nhập từ 370 USD tăng lên 2.700 USD. Lào là nước giảm tốc độ tăng trưởng dân số chậm từ 27,9 năm tăng lên 33,3 năm thì mức độ cải thiện thu nhập tương đương là 280 USD tăng lên 2.060 USD. Philippine tuy cũng cải thiện tăng trưởng dân số chậm nhưng có xuất phát điểm tổt hơn từ 30,9 năm tăng lên 33,3 năm nên mức cải thiện thu nhập tương đương là 1.020 USD tăng lên 3.900 USD.

Số liệu công bố của Tổng Cục Thống kê cũng cho thấy rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng qui mô dân số và thu nhập bình quân theo đầu người Việt Nam trong thập kỷ qua.

   Bảng 4. Tăng trưởng dân số và thu nhập bình quân Việt Nam, 2001-2010

 

Tăng trưởng dân số

Số năm dân số tăng gấp đôi

Thu nhập bình quân

 

( Phần trăm)

(Năm)

USD/người

2001

1,35

51,8

413

2005

1,31

53,4

642

2010

1,05

66,67

1169

Nguồn: Tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam mười năm 2001-2010, Nhà xuất bản thống kê 2011.


Các số liệu ta thấy giai đoạn 2001-2005, tỷ lệ tăng trưởng dân số giảm chậm thì mức tăng thu nhận cũng chậm, nhưng giai đoạn 2005-2010 tỷ lệ tăng trưởng dân số giảm nhanh thì mức thu nhập cũng tăng nhanh và đưa Việt Nam thoát ra khỏi các nước nghèo và thuộc vào nhóm nước có thu nhập trung bình. 

        Một số điểm cần chú ý khi đánh giá theo vùng lãnh thổ nhỏ trong phạm vi một quốc gia

       Qua các số liệu trên cho thấy khi triển khai chương trình về qui mô dân số, thì một yếu tố quan trọng không thể thiếu là yếu tố di cư, tức phải giải quyết đồng bộ qui mô và phân bổ dân số (khi thực hiện mục tiêu giảm sinh thì có thể sử dụng giả thiết di cư bằng không). Xem xét theo cấp độ giữa 2 vùng thành thị/nông thôn đã cho thấy có sự khác biệt lớn. Theo kết quả TĐTDS 2009, tốc độ phát triển đô thị hoá và di cư từ nông thôn ra đô thị lớn, số năm dân số tăng gấp đôi ở vùng đô thị ở Việt Nam là 20,6 năm. Trong khi đó vùng nông thôn, do dân số di cư nhiều nên số năm dân số tăng gấp đôi là 175 năm (chệnh lệch gần 7 lần so với vùng thành thị). Khi xem xét số năm dân số tăng lên gấp đôi của từng vùng lãnh thổ trong phạm vi một quốc gia thì tình hình di cư (di cư nội địa) tác động lớn đến từng vùng. Điều này cũng lý giải thêm khi chương trình dân số chuyển đổi, chuyển sang mục tiêu về qui mô dân số thì cũng phải đồng bộ quan tâm đến phân bổ dân cư.


Bảng 5. Tỷ lệ phát triển dân số và số năm dân số tăng gấp đôi

chia theo các vùng kinh tế-xã hội Việt Nam, 1999 và 2009

Các vùng kinh tế-xã hội

Tỷ lệ tăng dân số 1999-2009

Số năm dân só tăng gấp đôi

Trung du miền núi phía Bắc

1,0

70

Đồng bằng sông Hồng

0,9

77,8

Bắc trung bộ và DH miền Trung

0,4

175

Tây Nguyên

2,3

30,4

Đông Nam Bộ

3,2

21,8

Đồng bằng sông Cửu Long

0,6

116,7

Toàn quốc

1,2

58,3

Nguồn: Kết quả TĐTDS và nhà ở 2009, Tổng cục Thống kê


Những vùng như Bắc Trung bộ Duyên hải Miền trung và Đồng bằng sông Cửu Long tuy tỷ lệ sinh không phải là thấp nhất nhưng do có một lượng lớn dân số di cư kiếm việc làm, . . . qui mô dân số tăng chậm, số năm dân số tăng gấp đôi lớn. Những vùng như Đông Nam bộ, nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất, tỷ lệ người nhập cư tìm việc là nhiều hoặc vùng Tây Nguyên nhiều đất đai, số người chuyển đến nhiều do vậy dân số tăng nhanh, số năm dân số tăng lên gấp đôi nhỏ.

Điều này càng thể hiện rõ khi xem xét qui mô dân số và số năm dân số tăng lên gấp đôi của từng tỉnh/thành phố. Theo kết quả công bố chính thức TĐTDS 2009, có 6 tỉnh dân số di cư lớn hơn số sinh và số người chuyển đến, tức có tỷ lệ phát triển dân số bằng 0 hoặc âm, số năm dân số tăng lên gấp đôi là không xác định (Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Bến Tre).

     Một số tỉnh cũng do di cư nhiều, nhưng còn ở mức xác định được sự tăng trưởng đồng thời cũng xác định được số năm dân số tăng gấp đôi, nhưng ở mức lớn nhất : 350 năm có 5 tỉnh (Vĩnh Long, Bình Định, Phú Yên, Nghệ An, Ninh Bình); 233 năm có 3 tỉnh (Trà Vinh, Quảng Nam, Hải Dương); 175 năm có 6 tỉnh (Tiền Giang, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Cao Bằng). Như vậy có 1/3 số tỉnh/thành phố có số dân di cư lớn sang các tỉnh/ thành phố khác (20 tỉnh/thành).

     Xu thế ngược lại là có những tỉnh thành phố có số lượng người nhập cư lớn, tỷ lệ phát triển dân số lớn, số năm dân số tăng lên gấp đôi nhỏ. Điển hình nhất là tỉnh Bình Dương, do đây là tỉnh phát triển rất mạnh các khu công nhiệp lớn, thu hút nhiều lao động về làm việc sinh sống, do vậy chỉ cần 9,6 năm (nhỏ hơn khoảng thời gian giữa hai kỳ TĐTDS) là dân số đã tăng lên gấp đôi. Những tỉnh nhập cư lớn, số năm dân số tăng lên gấp đôi nhỏ hơn 30 năm, có 7 tỉnh/thành phố (Điện Biên, Lai Châu, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh). Hà Nội là thành phố lớn tuy cũng thu hút một lực lượng lớn lao động nhập cư, nhưng do việc hợp nhất với tỉnh Hà Tây là tỉnh nông nghiệp nên số năm dân số tăng gấp đôi chỉ ở mức 33,3 năm.

Qua những phân tích trên cho thấy, để thực hiện mục tiêu “ Duy trì mức sinh thấp hợp lý, tiến tới ổn định qui mô dân số, giải quyết tốt những vấn đề về cơ cấu dân số và phân bổ dân số” trong Chiến lược DS/SKSS giai đoạn 2011-2020. Cấp độ thực hiện chương trình ở từng vùng lãnh thổ, đặc biệt ở từng tỉnh/thành phố là rất khác nhau. Do vậy cần thiết phải hoạch định chiến lược cụ thể cho từng vùng, tỉnh/thành phố để có những giải pháp hữu hiệu phù hợp đối với từng địa bàn. Ngoài ra vấn đề qui mô và phân bổ dân số còn có quan hệ chặt chẽ, mật thiết không thể giải quyết tách rời từng lĩnh vực riêng biệt.  



* Giám đốc Trung tâm Thông tin và Tư liệu Dân số.

 

Liên kết