QUÁ ĐỘ NHÂN KHẨU HỌC Ở NAM Á

NHỮNG THÁCH THỨC VÀ CƠ HỘI

BHAKTA B. GUBHAJU*


Khu vực Nam Á gồm 9 quốc gia: Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, Iran, Maldives, Nepal, Pakistan và Sri Lanka. Trong 6 thập kỷ qua, khu vực này có mức tăng dân số chưa từng có từ 490 triệu năm 1950 lên 835 triệu năm 1975, và 1,5 tỷ năm 2000. Năm 2010, tổng số dân của Nam Á là 1,7 tỷ, và dự kiến sẽ đạt 2,4 tỷ năm 2050.

Mức sinh

Trong nửa sau của thế kỷ 20, mức sinh giảm đáng kể tại châu Á. Tổng tỷ suất sinh (TFR) giảm từ 5,8 con/phụ nữ giai đoạn 1950-1955 xuống 4,0 giai đoạn 1975-1980 và 2,3 giai đoạn 2005-2010. Tuy nhiên có sự khác biệt lớn giữa các khu vực. TFR của Đông Á là 1,6 những năm 2005-2010, trong khi của Đông Nam Á gần 2,3; Tây Á, Trung và Nam Á là 2,6.

 

TFR của các nước Nam Á cũng rất khác nhau. Quá độ mức sinh của Nam Á diễn ra tại hầu hết các nước trong 30 năm qua với mức sinh giảm ở hầu hết các nước. Sri Lanka là một ngoại lệ với mức sinh giảm mạnh từ 5,8 con (1955-1960) xuống gần mức sinh thay thế (1995-2000). Tuy nhiên nước này lại có một sự đảo ngược gần đây trong giảm sinh. Tiếp sau Sri Lanka là Ấn Độ, quốc gia bắt đầu quá độ mức sinh vào những năm 1965-1970. TFR của Ấn Độ giảm nhanh từ 5,7 (1965-1970) xuống 3,7 (1990-1995) và 2,7 (2005-2010). Quá độ sinh diễn ra muộn hơn tại các quốc gia còn lại. Bangladesh, Iran và Nepal bắt đầu quá độ sinh vào những năm 1980-1985, trong khi Bhutan, Maldives và Pakistan mãi tới những năm 1985-1990 mới bắt đầu. Vì thế điểm nổi bật của quá độ sinh ở Nam Á là tốc độ thay đổi nhân khẩu học mà mỗi quốc gia có được. Đáng lưu ý là Bangladesh đã chứng kiến một sự giảm sinh mạnh từ 6,9 (1970-1975) xuống 4,1 (1990-1995), nhưng đã chậm lại trong những năm gần đây. Đa số các nước Nam Á đều có mức sinh từ 2,4 con/phụ nữ (Sri Lanka) đến 3,6 con (Pakisstan). Đạt mức sinh dưới mức thay thế gồm có Iran (2000-2005), tiếp đến là Maldives (2005-2010). TFR của Bhutan, Bangladesh, India, Nepal và Sri Lanka gần đạt mức sinh thay thế.

Mức chết

Tuổi thọ trung bình được cải thiện đáng kể. Tại châu Á nói chung, tuổi thọ trung bình là 70 tuổi, tăng 45 tuổi sau 5 thập kỷ. Đông Á có tuổi thọ cao nhất, 74 tuổi, tiếp theo là Tây Á – 72 tuổi, Đông Nam Á – 69 tuổi, Trung Á – 66 tuổi và Nam Á – 64 tuổi..

Trong những năm 1970-1975, Sri Lanka là quốc gia duy nhất có tuổi thọ trung bình cao hơn 60, trong khi Ấn Độ, Pakistan và Iran có tuổi thọ trung bình là hơn 50 tuổi. Các nước Afghanistan, Bhutan, Nepal, Bangladesh và Maldives có tuổi thọ trung bình là dưới 50. Tuổi thọ tăng lên đáng kể trong 40 năm qua. Những nước có tuổi thọ hơn 70 tuổi những năm 2005-2010 gồm Iran, Sri Lanka và Maldives, trong khi Afghanistan, Ấn Độ và Pakistan là dưới 65 tuổi. Bhutan, Nepal và Bangladesh đạt được nhiều tiến bộ trong giảm tử vong. Tại Bangladesh, tuổi thọ trung bình tăng từ 36 tuổi (1970-1975) lên 61 tuổi (1990-1995) và 68 tuổi (2005-2010). Với những tiến bộ trong tuổi thọ, bất bình đẳng giới đã xuất hiện tại nhiều nước có mức sinh thấp. Tại các nước phát triển tuổi thọ của nữ cao hơn nam 7 tuổi (LHQ, 2010). Sự khác biệt này ở châu Á nhỏ hơn, nhưng chênh lệch lớn giữa các khu vực. Tại Trung Á, tuổi thọ của nữ cao hơn nam 8 tuổi, trong khi ở Nam Á chỉ là 3. Chênh lệch tuổi thọ của nữ và nam là 6 năm ở Sri Lanka, 4 năm ở Bhutan và Iran, và 3 năm ở Bangladesh, India, Maldives, Nepal và Pakistan. Mặc dù gần như không có khác biệt trong tuổi thọ của nam và nữ ở Afghanistan, nhưng tuổi thọ của nước này rất thấp. Điều này khẳng định thực tế là giảm mức chết ở nữ giới cao hơn nam giới ở tất cả các nhóm tuổi. Sự chênh lệch nhỏ trong tuổi thọ ở Bangladesh, Maldives và Nepal là do tuổi thọ thấp và địa vị thấp của phụ nữ, tử vong mẹ cao.

Hệ quả

Thay đổi cơ cấu tuổi

Mức sinh giảm, tuổi thọ tăng, và gia tăng chênh lệch tuổi thọ giữa nữ và nam dẫn đến những thay đổi đáng kể trong cơ cấu tuổi và giới tính của dân số. Do mức sinh thấp, số trẻ em sinh ra ngày càng ít và số người cao tuổi ngày càng tăng. Những thay đổi trong cơ cấu tuổi của dân số và già hóa dân số là hệ quả tất yếu của mức sinh thấp.

Ở phương Tây, quá độ từ dân số trẻ sang dân số già đã diễn ra trong một thời gian dài. Nhưng ở châu Á tốc độ già hóa diễn ra nhanh hơn tại các nước có mức sinh thấp. Ví dụ, nước Pháp mất 115 năm và Thụy Điển mất 85 năm để tỷ trọng dân số 65+ tăng từ 7% lên 14%. Ngược lại, Nhật Bản chỉ cần 25 năm để hoàn thành quá độ này. Tương tự, các nước có mức sinh thấp như Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore và Thái Lan cũng sẽ theo xu hướng này. Quá trình già hóa nhanh chủ yếu được thúc đẩy bởi giảm sinh mạnh trong các thập kỷ gần đây, dẫn đến nhiều thách thức mới như giảm sút lực lượng lao động, tăng tỷ số phụ thuộc người già, và nữ hóa dân số cao tuổi. Chăm sóc y tế, hỗ trợ xã hội và an sinh tài chính là những vấn đề mà một xã hội già hóa đang phải đối mặt. Rõ ràng là tác động của giảm sinh tới già hóa dân số đang hiện diện trong giai đoạn sau khi các đoàn hệ của mức sinh cao bắt đầu già. Hơn thế, mức chết giảm không chỉ tăng kỳ vọng sống khi sinh mà còn làm tăng số năm sống thêm ở những người 60 và 80 tuổi. Về lâu dài, già hóa dân số tất yếu sẽ dẫn đến tốc độ tăng nhanh hơn ở nhóm dân số cao tuổi. Cuối cùng sẽ là giảm gia tăng dân số nói chung và dân số trong độ tuổi lao động nói riêng, bởi cấu trúc dân số cao tuổi sẽ đẩy nhanh giảm dân số.

Có mối quan hệ chặt chẽ giữa TFR và tỷ trọng dân số 60+. Các nước đạt mức sinh thay thế có tỷ trọng cao dân số cao tuổi. Giảm sinh lâu dài làm tỷ trọng người cao tuổi tăng cao. Quá trình già hóa nhanh được quyết định bởi tốc độ giảm sinh. Ví dụ, Nhật Bản – quốc gia đầu tiên ở châu Á hoàn tất quá độ sinh từ cao xuống thấp vào đầu những năm 1960 – có tỷ trọng dân số 60+ lớn nhất, 30,4% năm 2010, 36% năm 2025 và 44% năm 2050. Tương tự, giảm sinh trong một thời gian dài ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore và Thái Lan sẽ dẫn đến tăng tỷ trọng người cao tuổi (12-16%) năm 2010. Năm 2050, tỷ trọng dân số 60+ sẽ vượt quá 40% ở Hàn Quốc và Singapore trong khi Trung Quốc và Thái Lan sẽ là 31% và 26%.

Dân số khu vực Nam Á cũng sẽ có những thay đổi về tỷ trọng dân số trẻ và dân số già. Tỷ trọng dân số trẻ sẽ giảm và tỷ trọng dân số 60+ sẽ tăng. Tuy nhiên, khác với Đông Á phải đến năm 2045 tình trạng trên mới xảy ra ở Nam Á. Hơn thế, trong khi dân số trong độ tuổi lao động của Đông Á giảm nhanh, Nam Á tiếp tục có một lực lượng lao động dồi dào (chiếm tới 60% tổng số dân) trong bốn thập kỷ nữa. Tuy nhiên, trong 6 thập niên qua dân số 60+ tăng hơn bốn lần ở Nam Á, từ 28 triệu năm 1950 lên 125 triệu năm 2010. Quy mô dân số cao tuổi sẽ tăng từ 215 triệu năm 2025 lên 458 triệu năm 2050. Tỷ trọng của nhóm dân số này tăng từ 7,3% năm 2010 lên 10,5% năm 2025 và 19,1% năm 2050. Nhưng cần lưu ý rằng có sự khác biệt rõ rệt về tỷ trọng dân số cao tuổi giữa các nước. Năm 2010, chỉ có bốn nước Bhutan, Iran, Ấn Độ và Sri Lanka là đang già hóa dân số (được định nghĩa là dân số 60+ chiếm 7% tổng dân số). Đến năm 2025, tất cả các nước, trừ Afghanistan, sẽ già hóa dân số. Sri Lanka là một ngoại lệ, nơi mà quá độ sinh bắt đầu trước, nên quá trình già hóa đến sớm hơn. Dân số 60+ của Sri Lanka chiếm 12% tổng số dân năm 2010 sẽ tăng lên 18% năm 2025 và 27% năm 2050. Tương tự dân số cao tuổi của Iran và Maldives sẽ tăng mạnh, mặc dù quá độ sinh của hai nước này bắt đầu vào những năm 1980 và kết thúc trong chưa đầy 3 thập kỷ. Do giảm sinh rất nhanh, quá trình già hóa sẽ đặc biệt nhanh. Ví dụ, Iran sẽ có mức tăng dân số cao tuổi nhanh nhất từ 7,5% năm 2015 lên 12,7% năm 2025 và 33% năm 2050. Các tỷ lệ tương ứng ở Maldives là 7%, 11% và 31%.

Tỷ số hỗ trợ tiềm năng

Do những thay đổi trong cơ cấu tuổi, tỷ số phụ thuộc của Nam Á sẽ tăng đáng kể: Gánh nặng phụ thuộc trẻ sẽ giảm, và gánh nặng phụ thuộc già tăng lên. Để đo lường khả năng hỗ trợ dân số cao tuổi của dân số trong độ tuổi lao động, tỷ số hỗ trợ tiềm năng - số người trong độ tuổi 15-64 tính trên một người 65+, được sử dụng.

Số liệu cho thấy khi dân số già hóa, tỷ số hỗ trợ tiềm năng sẽ giảm. Tại các nước Iran, Maldives và Sri Lanka tỷ số hỗ trợ tiềm năng sẽ giảm trong 40 năm tới. Hiện tại ở Sri Lanka, có 8 người trong độ tuổi lao động hỗ trợ một người 65+, tỷ số này sẽ giảm xuống 5 vào năm 2025 và dưới 3 vào năm 2050. Còn tại Iran và Maldives, tỷ số hỗ trợ tiềm năng sẽ giảm xuống bằng hoặc < 3 vào năm 2050. Tỷ số này của Bangladesh và Bhutan cũng sẽ giảm nhanh trong giai đoạn 2025- 2050.

Tình trạng nữ hóa dân số cao tuổi

Tỷ số hỗ trợ tiềm năng thấp sẽ tác động đáng kể tới phụ nữ cao tuổi bởi tỷ trọng phụ nữ cao tuổi tăng nhanh hơn nam giới do tuổi thọ cuả nữ cao hơn nam. Tình trạng nữ hóa dân số cao tuổi có tại nhiều nước Nam Á, đặc biệt ở nhóm dân số 80+. Đây là một vấn đề cần được quan tâm bởi mức độ góa cao ở phụ nữ cao tuổi và nhiều khó khăn liên quan. Tỷ lệ góa chồng cao là do những khác biệt trong tuổi kết hôn của nam và nữ và tuổi thọ cao hơn của nữ. Tỷ lệ góa chồng tăng theo tuổi do ít phụ nữ kết hôn lại sau li hôn hoặc góa. Có sự khác biệt lớn trong tình trạng hôn nhân và thu xếp cuộc sống của nam giới và phụ nữ cao tuổi. Ở nhóm dân số 60+, tỷ trọng nam giới đang có vợ cao hơn trong khi tỷ trọng phụ nữ sống cô đơn cao hơn.

Thách thức và cơ hội

Thách thức

Cả mức sinh và mức chết giảm dẫn đến già hóa dân số đang là vấn đề mà nhiều nước châu Á phải đối phó. Tỷ trọng dân số già cao tạo sức ép về hỗ trợ kinh tế, xã hội và hệ thống chăm sóc y tế. Dân số cao tuổi tăng cùng với dân số trẻ giảm đồng nghĩa với thiếu người chăm sóc người cao tuổi. Bởi dân số cao tuổi nữ nhiều hơn nam, an sinh xã hội và tài chính cũng như điều kiện sức khỏe của phụ nữ cao tuổi sẽ là vấn đề lớn nhất trong xã hội già hóa.

Sự gia tăng số người cao tuổi mang ý nghĩa chính sách quan trọng trong việc cung cấp các dịch vụ sức khỏe và xã hội. Tại nhiều nước châu Á, đặc biệt là Nam Á hạ tầng chăm sóc sức khỏe còn yếu kém và hầu hết các nguồn lực tập trung cho nhu cầu dịch vụ sức khỏe bà mẹ-trẻ em, SKSS và KHHGĐ. Do vậy, cung cấp các dịch vụ y khoa, y tế công cộng, xã hội… đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi làm tăng áp lực cho hệ thống y tế và nền kinh tế. Thêm vào đó, tuổi già là một yếu tố nguy cơ đối với các bệnh không truyền nhiễm như tim mạch, ung thư, tiểu đường. Già hóa dân số là mối quan tâm lớn của hệ thống chăm sóc sức khỏe. Để cân bằng chi phí điều trị và chăm sóc cao đối với các bệnh không truyền nhiễm (chiếm gần 3/5 tổng số ca tử vong), cần tập trung vào phòng bệnh và sàng lọc phát hiện sớm. Do số lượng phụ nữ trẻ tham gia lực lượng lao động ngày càng tăng và thường xuyên xa nhà, khả năng chăm sóc người cao tuổi ngày càng giảm. Cùng với đô thị hóa, toàn cầu hóa và di cư, nhiều người cao tuổi ở nông thôn không có người chăm sóc. Mặc dù ở châu Á, các thành viên gia đình là người chăm sóc và hỗ trợ chính của người cao tuổi và truyền thống sống cùng con cháu của người cao tuổi vẫn phổ biến, các hình thức chăm sóc truyền thống đang giảm dần. Vì thế người cao tuổi rất cần các loại hình chăm sóc thay thế, đặc biệt là những phụ nghèo, sống cô đơn.

Ở nhiều nước châu Á, phụ nữ chịu thiệt thòi do trình độ học vấn thấp, ít kinh nghiệm làm việc, thu nhập thấp, ít sở hữu tài sản và không có quyền lực trong gia đình. Do vậy họ dễ phụ thuộc vào các thành viên khác trong gia đình và các chương trình công cộng, nhất là những người cao tuổi, bị bệnh và tàn tật. Quan trọng hơn, nhiều quốc gia châu Á không có hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi. Thậm chí ở những nước đã có hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi, việc chăm sóc người cao tuổi cũng đang là vấn đề lớn. Chăm sóc hàng ngày đòi hỏi các nguồn lực lớn, kể cả từ các thành viên gia đình. Chăm sóc người cao tuổi thường là phụ nữ, bên cạnh đó họ còn có nhiều các trách nhiệm khác như nuôi dạy con cái và tham gia các hoạt động kinh tế. Chính phủ cần tăng cường hỗ trợ những người chăm sóc để đảm bảo hỗ trợ người cao tuổi, đặc biệt là phụ nữ. Từ kinh nghiệm của các nước có mức sinh thấp ở Đông và Đông Nam Á, các nước Nam Á cần lường trước các hệ quả của giảm sinh. Các chính phủ cần sớm có kế hoạch cho một xã hội già hóa trước khi mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế, chuẩn bị các giải pháp chính sách đối phó với những vấn đề già kể cả thiết lập các hệ thống hưu trí phổ cập.

Cơ hộiHưởng lợi từ dư lợi nhân khẩu học

Nhờ giảm sinh, các nước Nam Á có một lực lượng lao động lớn so với nhóm dân số phụ thuộc trẻ và già, tạo nên một “dư lợi nhân khẩu học” để xây dựng nguồn vốn con người. Dư lợi này sẽ kéo dài trong vài thập kỷ. “Cửa sổ cơ hội” sẽ mở không lâu và kết thúc khi dân số già hóa và tỷ số phụ thuộc tăng. Quá độ nhân khẩu học diễn ra nhanh nhất ở Đông Á, nơi tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động là 57% năm 1970 và sẽ đạt đỉnh 72% vào năm 2010, sau đó sẽ giảm nhanh. Đông Nam Á cũng đang trong giai đoạn hậu quá độ nhân khẩu học với tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động sẽ cao nhất vào năm 2025. Còn ở Nam, Trung và Tây Á, điều này sẽ xảy ra vào năm 2040.

Như vậy, dư lợi nhân khẩu học ở Nam Á sẽ đến chậm hơn Đông và Đông Nam Á. Đông Nam Á đang hưởng lợi từ cửa sổ cơ hội, nhưng lợi ích này sẽ giảm trong vòng 2 thập kỷ tới do dân số đang già hóa. Mặt khác, quá độ nhân khẩu học ở Nam Á vẫn tiếp tục, cho thấy một sự gia tăng kinh tế tiềm năng. Ngoại trừ Sri Lanka, tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động tiếp tục tăng ở tất cả các nước Nam Á trong 2-3 thập kỷ. Để tận dụng triệt để dư lợi nhân khẩu học, khu vực Nam Á cần có các hình thức đầu tư và chính sách giống như Đông Á, như đầu từ lớn vào giáo dục và phát triển nguồn nhân lực. Các đầu tư này có được từ các khoản tiết kiệm do tỷ số phụ thuộc thấp và cần được sử dụng đúng để tăng năng lực của lực lượng lao động hiện tại và tương lai để tham gia đầy đủ vào nền kinh tế dựa trên kỹ năng.

“Cửa sổ nhân khẩu học” đã được vận dụng hiệu quả tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan trong các năm 1960-1990. Kinh nghiệm của Đông Á cho thấy bằng chứng thuyết phục về tác động của “Dư lợi nhân khẩu học” đối với tăng trưởng kinh tế ngoạn mục trong khu vực. Các nghiên cứu cho thấy dư lợi nhân khẩu học đóng góp từ 1/4 đến 2/5 của “Huyền thoại kinh tế” châu Á. Gia tăng thu nhập bình quân đầu người – tăng hơn 6% hàng năm giai đoạn 1965-1990 có được nhờ quy mô dân số trong độ tuổi lao động tăng gần 4 lần (bình quân 2,4%/năm) so với dân số phụ thuộc. Với lợi ích từ một nền giáo dục tốt và môi trường thương mại tự do, lực lượng lao động dồi dào này được thị trường lao động thu nạp làm tăng năng lực sản xuất kinh tế. Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc tận dụng dư lợi nhân khẩu học cũng tương tự các nước Đông Á. Mức sinh giảm nhanh ở Trung Quốc đem lại một dư lợi nhân khẩu học nổi bật cùng với bùng nổ kinh tế. Một nguồn cung lao động dồi dào cộng với tỷ số phụ thuộc thấp đã đóng góp lớn vào tăng sản lượng bình quân đầu người và mức sống. Vì thế Trung Quốc có thể được hưởng lợi ích của cơ cấu dân số thuận lợi đóng góp 15% tăng trưởng kinh tế những năm 1982-2000.

Trong khi Đông Á đã có các chính sách tận dụng dư lợi dân số, Nam Á chưa có được các chính sách kinh tế-xã hội phù hợp để tận dụng dư lợi dân số nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đầu tư trong tương lai. Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng “việc hưởng lợi từ dư lợi nhân khẩu học không phải tự nhiên có được– điều này phụ thuộc vào môi trường chính sách về dân số, KHHGĐ, y tế, giáo dục, thị trường lao động mở, thương mại tự do và bình đẳng, quản trị và quản lý kinh tế hiệu quả. Các chính sách hữu hiệu trong những lĩnh vực này sẽ được đền đáp tối đa từ việc tập trung vào nhóm dân số trong độ tuổi lao động. Để nhóm dân số trẻ trở thành lực lượng lao động có năng suất đòi hỏi đầu tư vào các cấp giáo dục, trong khi lực lượng lao động được giáo dục tốt sẽ chỉ đem lại lợi ích khi họ có việc làm. Nhiều nước đã triển khai các bước thu nhận dư lợi nhân khẩu học như củng cố hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả điều hành của chính phủ, và giảm tham nhũng. Do vậy, cần tăng cường nhận thức của các nhà lập kế hoạch và chính sách về tầm quan trọng của dư lợi nhân khẩu học đối với lập kế hoạch đầu tư và xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực. Dư lợi nhân khẩu học là một cơ hội chỉ có một lần mà các nước châu Á cần tận dụng đầy đủ. Điều quan trọng là khu vực này phải chuẩn bị đối phó với quá độ nhân khẩu học không thể đảo ngược này với tỷ trọng dân số cao tuổi lớn hơn cần hỗ trợ.

Nguồn: ESCAP, Asia-Pacific Population Journal, Vol. 26, No.4, 2011


* Phó giáo sư, Viện Nghiên cứu Nhân khẩu học và Xã hội Australia, Đại học Tổng hợp Quốc gia Australia.

 

 

Liên kết