ĐIỀU TRA BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ VÀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 1/4/2011: CÁC KẾT QUẢ CHỦ YẾU


KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

Sử dụng các biện pháp tránh thai

Tỷ lệ sử dụng tránh thai tại thời điểm 1/4/2011 đạt 78,2%, trong đó các biện pháp hiện đại chiếm 68,6%. Tỷ lệ sử dụng tránh thai ở nông thôn cao hơn ở thành thị. Sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại ở nông thôn cũng cao hơn thành thị (70,6% 63,8%). Xu hướng này diễn ra trong suốt thập kỷ vừa qua. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại khá cao ở hầu hết các vùng, trừ Đông Nam bộ (73,9%). Mức sử dụng thấp nhất ở những phụ nữ chưa đi học (71,8%) và chưa tốt nghiệp tiểu học (71,7%).


Biểu 1. Tỷ lệ sử dụng tránh thai theo thành thị/nông thôn và vùng, 2011

Nơi cư trú/vùng kinh tế - xã hội

Biện pháp tránh thai bất kỳ

Chia ra

Biện pháp tránh thai hiện đại

Biện pháp tránh thai truyền thống

Toàn quốc

78,2

68,6

9,6

   Thành thị

75,2

63,8

11,4

   Nông thôn

79,5

70,6

8,9

Các vùng kinh tế - xã hội

  Trung du và miền núi phía Bắc

78,5

70,4

8,1

  Đồng bằng sông Hồng

78,5

69,2

9,3

  Bắc Trung Bộ và DH miền Trung

79,8

72,7

7,1

  Tây Nguyên

79,8

66,5

13,3

  Đông Nam Bộ

73,9

62,5

11,4

  Đồng bằng sông Cửu Long

79,1

68,1

11,0

 


Các biện pháp tránh thai hiện đang sử dụng

Biện pháp tránh thai được sử dụng rộng rãi nhất ở Việt Nam vẫn là dụng cụ tử cung (53,1%), tiếp đến là thuốc uống tránh thai (15,7%), bao cao su (13,6%), triệt sản (3,5%). Nhìn chung, trong 10 năm qua, cơ cấu các biện pháp tránh thai cho thấy, mức sử dụng giảm đối với dụng cụ tử cung và triệt sản, tăng đối với thuốc uống tránh thai và bao cao su. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai truyền thống (12,1%) cũng giảm nhẹ.

Lý do không sử dụng biện pháp tránh thai

Trong số những phụ nữ hiện không sử dụng các biện pháp tránh thai, lý do muốn có con chiếm 45%, lý do đang mang thai chiếm 14,2%. Trong số lý do khác (40,8%), lý do không sử dụng biện pháp tránh thai do đã mãn kinh cũng chiếm tỷ lệ khá lớn (16,7%). Các lý do chưa hiểu biết, hoặc bị người thân phản đối chiếm tỷ trọng khá nhỏ, với tỷ lệ tương ứng là 0,9% và 0,7%. Tỷ lệ không sử dụng biện pháp tránh thai do “Đang mang thai và “Muốn có con” có xu huớng tăng mấy năm gần đây báo hiệu mức sinh năm 2012 có thể sẽ tăng.


Biểu 2. Tỷ lệ không sử dụng biện pháp tránh thai theo lý do chính, 2001-2011

Đơn vị tính: %

 

2001

2002

2004

2005

2006

2007

2008

2010

2011

Tổng

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

100,0

Đang mang thai

12,4

12,8

11,0

11,8

13,6

14,2

15,0

12,9

14,2

Muốn có con

35,9

36,7

38,4

39,2

38,4

42,3

42,0

42,9

45,0

Lý do khác

51,7

50,5

50,7

49,0

48,0

43,5

43,0

44,2

40,8

 


SỨC KHỎE SINH SẢN

Nạo/phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt

Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi hiện đang có chồng nạo/phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt ở thành thị và nông thôn có sự chênh lệch không đáng kể. Có xu hướng giảm về mức độ nạo/phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt trong những năm gần đây. Mức giảm chung của toàn quốc năm 2011 so với năm 2010 là 0,2%, điều này cũng tương tự cho mức giảm của khu vực nông thôn và thành thị.


Biểu 3. Tỷ lệ (%) nạo/phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt theo thành thị/nông thôn,

2001-2011

Năm

Cả nước

Thành thị

Nông thôn

2001

1,3

1,7

1,2

2002

1,1

1,1

1,1

2003

1,7

1,9

1,7

2004

1,2

1,3

1,2

2005

1,0

1,0

1,0

2006

1,1

1,4

0,9

2007

0,7

0,6

0,8

2008

1,0

1,1

0,9

2010

0,8

0,8

0,8

2011

0,6

0,6

0,6

 

 

 

 


Tỷ lệ nạo/phá thai và hút điều hòa kinh nguyệt cao nhất là Đồng bằng sông Hồng (0,98%), tiếp đến là Trung du miền núi phía Bắc (0,89%). Các vùng còn lại tỷ lệ này đều giảm xuống và xấp xỉ nhau (0,3-0,4%).

Chăm sóc thai sản

Trên phạm vi cả nước, tỷ lệ khám thai ít nhất 1 lần đối với lần sinh cuối là 93,8%, tỷ lệ khám 3 lần trở lên là 76%. Tỷ lệ khám thai ở thành thị luôn cao hơn nông thôn. Trung du và miền núi phía Bắc có tỷ lệ khám thai thấp nhất (83% khám một lần và 59% khám 3 lần trở lên), tiếp đến là Tây Nguyên (88% và 62,5%).

MỨC SINH

Tổng tỷ suất sinh

Tổng tỷ suất sinh (TFR) đã giảm mạnh từ 2,25 con/phụ nữ năm 2001 xuống 1,99 con/phụ nữ năm 2011. TFR của khu vực thành thị là 1,70 con/phụ nữ và nông thôn là 2,12 con/phụ nữ. Sự khác biệt này có thể là do, so với những cặp vợ chồng ở nông thôn, các cặp vợ chồng ở thành thị được tiếp cận tới các nguồn thông tin dễ dàng hơn, có nhận thức tốt hơn về lợi ích của gia đình ít con, và họ cũng rất dễ dàng tiếp cận các cơ sở y tế cung cấp các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình giúp họ tránh mang thai và sinh con ngoài ý muốn. Một lý do nữa là điều kiện sống ở khu vực thành thị tốt hơn rất nhiều so với khu vực nông thôn, trẻ em ở thành thị được chăm sóc tốt hơn trẻ em nông thôn, dẫn đến tỷ lệ chết sơ sinh và chết trẻ em ở thành thị thấp hơn ở nông thôn, góp phần làm giảm nhu cầu sinh thay thế ở khu vực này.


Biểu 4.  Tổng tỷ suất sinh, 2001-2011

Năm

Tổng tỷ suất sinh

Toàn quốc

Thành thị

Nông thôn

2001

2,25

1,86

2,38

2002

2,28

1,93

2,39

2003

2,12

1,70

2,30

2004

2,23

1,87

2,38

2005

2,11

1,73

2,28

2006

2,09

1,72

2,25

2007

2,07

1,70

2,22

2008

2,08

1,83

2,22

2009

2,03

1,81

2,14

2010

2,00

1,77

2,11

2011

1,99

1,70

2,12

 


Năm 2011, Tây Nguyên là nơi có mức sinh cao nhất nước (2,58 con/phụ nữ), tiếp theo là Trung du và miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung (2,21 con/phụ nữ). Hai vùng có mức sinh thấp nhất là Đông Nam Bộ (1,59 con/phụ nữ) và Đồng bằng sông Cửu Long (1,80 con/phụ nữ). Chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội là nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt về mức sinh giữa các vùng.

Tỷ suất sinh thô

Tỷ suất sinh thô (CBR) của Việt Nam năm 2011 là 16,6 trẻ sinh sống/1000 dân, con số đó của thành thị là 15,3 trẻ sinh sống/1000 dân, và nông thôn là 17,2 trẻ sinh sống/1000 dân. Tương tự TFR, trong thời kỳ này CBR có xu hướng giảm.


Biểu  5. Tỷ suất sinh thô theo thành thị/nông thôn, 2005-2011

                                                                        Đơn vị tính: Trẻ em sinh sống/1000 dân

Năm

Toàn quốc

Thành thị

Nông thôn

2005

18,6

15,6

19,9

2006

17,4

15,3

18,2

2007

16,9

15,9

17,4

2008

16,7

15,8

17,3

2009

17,6

17,3

17,8

2010

17,1

16,4

17,4

2011

16,6

15,3

17,2

 


Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên

Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong cả nước giảm qua các năm, từ 20,8% năm 2005 xuống 14,7% năm 2011. Trong những năm gần đây, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba của phụ nữ thành thị thay đổi không đáng kể trong khi tỷ lệ này ở nông thôn giảm mạnh. Xu hướng giảm tỷ lệ sinh con thứ ba của phụ nữ khu vực nông thôn góp phần quan trọng vào việc giảm tỷ lệ sinh con thứ ba của cả nước, tạo cơ hội ổn định dân số, giảm bớt gánh nặng phụ thuộc trẻ, tạo thời cơ thuận lợi cho Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và chất lượng. Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên cao nhất ở Tây Nguyên (23,4%), tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (19,3%). Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng có tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên trên thấp nhất (11%).

Tỷ số giới tính khi sinh

Từ năm 2006 đến nay, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam bắt đầu có dấu hiệu tăng đáng kể, xu hướng này xuất hiện ở cả thành thị và nông thôn. Năm 2011, tỷ số giới tính khi sinh duy trì ở mức khá cao với 111,9 bé trai/100 bé gái. Đặc biệt, từ năm 2009 đến nay, mặc dù đã có nhiều cảnh báo về hệ lụy của sự mất cân bằng giới tính khi sinh nhưng tình trạng này dường như chưa hề được khắc phục, mỗi năm tỷ số giới tính khi sinh tăng khoảng 0,7 điểm phần trăm.


Biểu 6. Tỷ số giới tính khi sinh theo thành thị/nông thôn, 2006-2011

 

2006

2007

2008

2010

2011

Toàn quốc

Thành thị

Nông thôn

109,8

109,0

110,0

111,6

112,7

111,3

112,1

114,2

111,4

111,2

108,9

112,0

111,9

114,2

111,1

 


Khu vực thành thị có sự lựa chọn giới tính khi sinh ngay ở lần sinh đầu, trong khi đó việc lựa chọn giới tính khi sinh của khu vực nông thôn chỉ xuất hiện ở lần sinh thứ hai trở đi. Tỷ số giới tính khi sinh của lần sinh thứ ba trở lên khá cao (khoảng 120 bé trai/100 bé gái) đối với cả khu vực thành thị và nông thôn.

Tình hình nhận biết giới tính thai nhi trước sinh

Đa số phụ nữ mang thai (76,9%) đều biết giới tính thai nhi trước sinh. Phụ nữ thành thị biết giới tính trước sinh cao hơn so với phụ nữ nông thôn (82,5% so với 74,8%). Trong cả nước, tỷ lệ này tăng dần từ nhóm 15-19 tuổi, cao nhất ở nhóm 25-34 tuổi và giảm dần đến nhóm tuổi cuối cùng 45-49 tuổi. Trình độ học vấn của phụ nữ càng cao, khả năng họ biết giới tính của thai nhi càng lớn. Cụ thể, tỷ lệ phụ nữ chưa đi học biết giới tính của thai nhi là 32,4%, trong khi con số này của phụ nữ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên là 83,5%. Đa số các bà mẹ biết giới tính trước khi sinh, khi thai từ 12 đến 22 tuần (77,7%). Số bà mẹ biết giới tính trước khi sinh khi thai trên 22 tuần chiếm tỷ lệ thấp nhất (hơn 21,1%). Điều đó chứng tỏ khi mang thai, hầu hết phụ nữ có tâm lý muốn biết sớm giới tính thai nhi, nhất là trong thời kỳ đầu mang thai. Đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ phụ nữ biết giới tính thai nhi từ 12-16 tuần tuổi cao nhất (52,0%).

MỨC ĐỘ CHẾT

Tỷ suất chết thô

Tỷ suất chết thô của cả nước là 6,9 người chết/1000 dân, trong đó của thành thị là 5,8 người chết/1000 dân, của nông thôn là 7,4 người chết/1000 dân.


Biểu 7. Tỷ suất chết thô (%o) theo thành thị/nông thôn, 2007-2011

Năm

Toàn quốc

Thành thị

Nông thôn

2007

5,3

4,7

5,6

2008

5,3

4,8

5,5

2009

6,8

5,5

7,4

2010

6,8

5,5

7,3

2011

6,9

5,8

7,4

 


Mức độ chết của trẻ em dưới 1 tuổi

Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (IMR) đã giảm từ năm 2006 đến 2011. Ở khu vực thành thị, IMR giảm từ 10 (năm 2006) xuống 8,5 trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống (năm 2011), trong khi đó ở nông thôn IMR lại tăng thêm chút ít từ 18 (năm 2006) lên 18,1 trẻ em dưới 1 tuổi tử vong/1000 trẻ sinh sống (năm 2011).


Biểu 8. Tỷ suất chết trẻ em < 1 tuổi (%o) theo thành thị/nông thôn, 2006-2011

Năm

Toàn quốc

Thành thị

Nông thôn

2006

16,0

10,0

18,0

2007

16,0

9,8

18,8

2008

15,0

10,0

15,0

2009

16,0

9,4

18,7

2010

15,8

9,2

18,2

2011

15,5

8,5

18,1

 


Mặc dù mức độ chết sơ sinh của cả nước đã giảm đáng kể, song sự khác biệt giữa các vùng vẫn còn rất lớn. IMR của Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, hai vùng khó khăn nhất của nước ta, vẫn còn khá cao, tương ứng là 23 và 24,3 trẻ em dưới 1 tuổi tử vong trên 1000 trẻ sinh sống trong năm 2011.

Mức độ chết của trẻ em dưới 5 tuổi

            Mặc dù mức độ chết của trẻ em dưới 5 tuổi giảm đáng kể (năm 1999 là 58 giảm xuống còn 24 vào năm 2009 và đến nay năm 2011 là 23,3), song sự khác biệt giữa các vùng vẫn còn rất lớn. Tỷ suất chết trẻ em dưới năm tuổi giữa thành thị và nông thôn có sự khác biệt rõ nét, con số này ở thành thị là 12,8 trong khi của nông thôn là 27,2. Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi của Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, hai vùng khó khăn nhất, vẫn còn khá cao, tương ứng là 34,9/1.000 và 37/1.000.

Nguyên nhân chết

Phần lớn các trường hợp chết là do bệnh tật (85,1%). Tỷ trọng chết vì các loại tai nạn chiếm 7,2%. Trong số các trường hợp chết do tai nạn, tai nạn giao thông chiếm tỷ trọng lớn nhất, cao hơn ba lần so với tai nạn lao động (tương ứng là 4,0% và 1,2%). Tỷ trọng chết vì các loại tai nạn của nam giới cao gấp gần 3 lần so với nữ giới (9,7% so với 3,6%). Ở khu vực thành thị, nông thôn và các vùng kinh tế - xã hội đều có xu hướng tương tự. Đông Nam Bộ có tỷ trọng các trường hợp chết vì tai nạn giao thông lớn nhất (6,0%).

DI CƯ VÀ CÁC ĐẶC TRƯNG CỦA NGƯỜI DI CƯ

Di cư giữa các vùng

Năm 2011, chỉ có 2 vùng nhập cư thuần là Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ, 4 vùng còn lại là xuất cư thuần. Đông Nam Bộ tiếp tục là nơi thu hút dân cư. Đông Nam Bộ, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương, nơi đến hấp dẫn của lao động cả nước. Cũng cần lưu ý rằng, trong luồng di cư đến Đông Nam Bộ, có thể có một lượng không nhỏ là những người đến đây để học tập, đào tạo nâng cao tay nghề. Sau khi học xong họ ở lại làm việc theo nhu cầu tuyển dụng của các cơ quan, tổ chức, công ty, doanh nghiệp sở tại, nơi đang cần những lao động có tay nghề cao mà địa phương thiếu. Nếu Tây Nguyên là vùng nhập cư thuần trong 5 năm trước Tổng điều tra 2009, thì vùng này lại bắt đầu có hiện tượng xuất cư thuần (-0,3‰) vào năm 2010 và tăng lên (-2,4‰) vào năm 2011. Ngược lại, Đồng bằng sông Hồng là vùng xuất cư thuần trong 5 năm trước Tổng điều tra 2009, thì nay đã bắt đầu có hiện tượng nhập cư thuần (0,5‰) và tăng lên (0,9‰) năm 2011. Trong khi tỷ suất xuất cư ở hầu hết các vùng đều giảm (trừ Tây Nguyên), thì tỷ suất nhập cư ở vùng Đồng bằng sông Hồng lại tăng, điều đó chứng tỏ Đồng bằng sông Hồng, trong đó lớn nhất là Hà Nội có một sức hút lớn đối với những người di cư.

Di cư giữa các tỉnh

Hơn một phần tư số tỉnh (17/63 tỉnh) có tỷ suất di cư thuần dương (số lượng người nhập cư lớn hơn người xuất cư), số còn lại có tỷ suất di cư thuần âm (số lượng người xuất cư lớn hơn người nhập cư). Một số tỉnh có di cư thuần dương cao nhất là Bình Dương (43 người di cư/1000 dân), Đồng Nai (22 người di cư/1000 dân), tiếp theo là Đà Nẵng (15 người di cư/1000 dân). Những địa phương có tỷ suất nhập cư cao, cần quan tâm để có biện pháp phù hợp và hiệu quả nhằm đảm bảo các điều kiện sống cho người nhập cư, như nhà ở, việc làm, trường học… Các tỉnh có tỷ suất di cư thuần âm cao nhất là An Giang (-12 người/1000 dân), tiếp đến là Cà Mau, Ninh Thuận và Vĩnh Phúc.

Di cư nông thôn - thành thị

Trong các luồng di cư thì luồng di cư lớn nhất là nông thôn - nông thôn (chiếm 40,2%). Trong những năm trở lại đây sự mất cân đối trong phát triển kinh tế đã giảm dần giữa nông thôn và thành thị, thay vì phải đến các thành phố để tìm kiếm việc làm, người lao động có thể tìm việc làm ở các khu vực nông thôn nơi có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất. So với năm  2010 luồng di cư thành thị - nông thôn luôn đã tăng từ 10,2% năm 2010 lên 13,7% năm 2011. Điều này cũng chứng tỏ sức hấp dẫn của khu vực nông thôn với những người di cư ngày càng tăng lên. Trong tất cả các luồng di cư cả về tỷ lệ và số lượng của nữ đều lớn hơn nam.  

Đối với luồng di cư nông thôn - thành thị, số người nhập cư của thành thị chính là số người xuất cư của nông thôn, và ngược lại. Tỷ suất nhập cư của khu vực nông thôn (hay là tỷ suất xuất cư của khu vực thành thị) cao nhất trong năm 2007 (2,8‰) và giảm dần từ năm 2007 đến năm 2010. Tuy nhiên, tỷ suất nhập cư vào khu vực nông thôn của năm 2011 là 3,2‰ cao hơn cả năm 2007. Nguyên nhân của vấn đề này không phải là do kinh tế suy thoái mà do từ cuối năm 2010 đến đầu năm 2011 tốc độ tăng giá của các mặt hàng phục vụ sinh hoạt tăng quá nhanh khiến cho người lao động có xu hướng quay trở về tìm kiếm việc làm ở quê nhà. Tương ứng với tỷ suất nhập cư ở khu vực nông thôn tăng thì tỷ suất suất nhập cư ở khu vực thành thị đã có xu hướng giảm xuống.

Các đặc trưng cơ bản của người di cư

Tỷ suất di cư của những người trong độ tuổi từ 20-24 là cao nhất, tiếp đến là những người trong nhóm tuổi từ 25-29 và 15-19 điều này cũng dễ hiểu vì độ tuổi 15 đến 29 là độ tuổi mà người dân phải di chuyển cho các lý do đi học, làm việc và xây dựng gia đình, còn  với các độ tuổi nhỏ từ 0-14 thường sự di chuyển là theo gia đình, ở độ tuổi từ 30 trở lên phần lớn dân số đã có sự ổn định nên mọi người ít di chuyển hơn. Ở nhóm tuổi lao động chính (30-39), tỷ suất di cư của nam cao hơn của nữ. Ngược lại, ở các nhóm thanh niên còn đang tuổi đi học (10-24) thì tỷ suất di cư của nữ lại cao hơn của nam. Điều này khẳng định nam chủ yếu di chuyển vì lý do tìm kiếm việc và nữ thanh niên chủ yếu di chuyển vì lý do đi học.

Những người có trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông có tỷ suất di cư cao nhất (26,3‰), trong đó tỷ suất của nữ cao hơn của nam 6,3 điểm phần nghìn (29,6‰ so với 23,3‰), khoảng cách này đã giảm so với năm 2010 (10,3‰). Tỷ suất di cư của nhóm dân số tốt nghiệp phổ thông trung học cao vì đây là giai đoạn mà họ bắt đầu phải di chuyển để theo học ở các bậc học cao hơn hoặc bắt đầu một công việc mới. Nhìn chung, trình độ học vấn thấp thì tỷ suất di cư thấp. Phần lớn những người di cư là chưa vợ/chưa chồng, tỷ suất di cư của những người chưa vợ/chưa chồng là cao nhất (25,7‰). Những người góa có tỷ suất di cư thấp nhất (3,1‰). Tỷ suất di cư của tất cả các nhóm đều tăng, trừ nhóm “góa”.

HẢI YẾN tổng hợp

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2011.

 

 

Liên kết