TUYÊN NGÔN CỦA LIÊN HỢP QUỐC

VỀ CÁC QUYỀN CỦA NGƯỜI BẢN ĐỊA

                                                                                                                                                                                                                        VŨ NGỌC BÌNH


            Nhiều quốc gia trên thế giới có người bản địa và theo số liệu ư­ớc tính của Liên Hợp Quốc, có khoảng 5.000 nhóm người bản địa (indigenous peoples) với 370 triệu ng­ười hay 6% dân số toàn cầu (riêng hơn 150 triệu ở châu Á, 30 triệu ở châu Phi, 2,5 triệu ở Bắc Mỹ) ở hơn 90 nư­ớc ở các châu lục. Họ sử dụng khoảng 4.000 ngôn ngữ khác nhau (3/4 trong số hơn 7.000 ngôn ngữ trên thế giới) và sống ở những nơi giầu có và đa dạng về văn hóa, sinh quyển. Tuy nhiên, nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã chính thức công bố rằng họ không có người bản địa hay những vấn đề liên quan đến người bản địa mà chỉ có người thiểu số (minorities) do các lý do nhạy cảm từ các góc độ chính trị, lịch sử, kinh tế, tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc và xã hội. Trong suốt lịch sử thế giới từ tr­ước đến nay, ngư­ời bản địa sống ở những vùng đất trư­ớc khi những ngư­ời định cư­ ở nơi khác đến đã phải chịu nhiều đau khổ và bất hạnh bởi những kẻ thực dân và những ng­ười đi tìm đất đai, của cải. Họ thư­ờng bị xua đuổi, truy bức và môi tr­ường sinh sống bị tàn phá.

            Người bản địa ngày nay là một trong số những nhóm người thiệt thòi, dễ bị tổn thương nhất trong số các nhóm dân cư và quyền của họ thường dễ bị vi phạm nhất vì nhiều lí do bất kể những đóng góp to lớn của họ cho sự phát triển chung của xã hội. Họ thường bị gạt ra ngoài lề của công cuộc phát triển ở cả các nước đang phát triển và những nước phát triển cũng như thường bị tước đi các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hoá. Họ bị phân biệt, miệt thị, bất công, bóc lột, mù chữ và sống trong nghèo khổ ở nhiều nơi (họ chỉ là 6% dân số thế giới song chiếm tới 15% tổng số ngư­ời nghèo toàn cầu hay 1/3 số ng­ười cực nghèo ở nông thôn).

            Nhận thức và hành động về các vấn đề của người bản địa cùng các quyền của họ đã có những thay đổi và bước tiến lớn trong vài thập kỷ qua trên thế giới. Bảo vệ các quyền của người bản địa đã được Liên Hợp Quốc xác định là một ưu tiên cao trong các chương trình hành động của mình ngay từ khi thành lập tới nay. Năm 1993 được thông qua là Năm Quốc tế về ngư­ời bản địa và ngày 9 tháng 8 hàng năm là Ngày Quốc tế về ngư­ời bản địa. Liên Hợp Quốc đã có hai Thập kỷ Quốc tế về ngư­ời bản địa (1995–2004 và 2005-2014)

            Các quyền con người của người bản địa đã được quy định trong nhiều văn bản quốc tế về quyền con người do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua từ năm 1945 tới nay, đặc biệt là Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc về quyền của người bản địa (gọi tắt là Tuyên ngôn), được thông qua theo Nghị quyết 61/295 ngày 13 tháng 9 năm 2007. Gồm Lời mở đầu và 46 điều, Tuyên ngôn là một văn kiện quốc tế hoàn chỉnh về các quyền con người của người bản địa, đồng thời nêu rõ những nghĩa vụ và trách nhiệm tương ứng của các quốc gia để thực hiện những quyền này. Tuyên ngôn cũng nêu trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là c cơ quan chuyên môn và tổ chức của Liên Hợp Quốc phải góp phần vào việc thực hiện đầy đủ những quyền của người bản địa, cũng như khẳng định sự nhất quán, đồng thuận giữa Tuyên ngôn với các văn bản pháp lý và chuẩn mực khác của Liên Hợp Quốc về quyền con người.

Các quyền của người bản địa

Từ Điều 1 đến Điều 40, Tuyên ngôn xác nhận các quyền con người và tự do cơ bản của người bản địa, trong đó có quyền không bị phân biệt đối xử; quyền tự quyết; quyền cá nhân và quyền tập thể được sở hữu, sử dụng và kiểm soát đất đai, lãnh thổ và tài nguyên; quyền nhân phẩm; quyền giữ gìn bản sắc văn hóa; các quyền về giáo dục, sức khỏe, việc làm, ngôn ngữ; quyền được duy trì và phát triển những thiết chế riêng về chính trị, tôn giáo, văn hóa và giáo dục cùng nền văn hóa và các tập tục; quyền được theo đuổi những mục tiêu phát triển riêng với những nhu cầu và ước nguyện trong phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa quốc gia; quyền được bảo vệ sở hữu trí tuệ và văn hóa; quyền tham gia đầy đủ vào tất cả các vấn đề liên quan.

Điều 43 đến Điều 45 khẳng định các quyền nêu trong Tuyên ngôn là áp dụng cho người bản địa và những quyền này là các chuẩn tối thiểu cho sự tồn tại, phúc lợi và quyền của người bản địa trên toàn thế giới.

Trách nhiệm và nghĩa vụ của Nhà nước

Tuyên ngôn cũng nhấn mạnh từ Điều 1 đến Điều 40 là Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện tất cả các quyền của người bản địa. Nhà nước phải trao đổi, tham khảo ý kiến với người bản địa và có sự  tham gia và đồng thuận của họ về bất cứ hoạt động gì có liên quan hay tác động đến người bản địa, tài sản hay lãnh địa của họ.

Tuyên ngôn cũng thiết lập yêu cầu đền bù thỏa đáng và đầy đủ cho những vi phạm quyền được ghi nhận trong Tuyên ngôn cũng như có những đảm bảo chống lại việc thanh lọc sắc tộc và diệt chủng. Nhà nước cần có những cơ chế khách quan công bằng mà người bản địa chấp nhận để giải quyết những xung đột giữa Nhà nước và người bản địa qua thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án hoặc có những cơ chế quốc tế và khu vực cho việc khiếu nại và xem xét các vi phạm quyền con người đối với họ. Tuyên ngôn cũng khuyến khích các mối quan hệ mang tính hợp tác và hài hòa giữa Nhà nước và người bản địa.

Hiện Tuyên ngôn đang được nhiều nước trên thế giới tham khảo và sử dụng trong việc xây dựng luật pháp và chính sách quốc gia liên quan đến người bản địa, thực hiện tốt các quyền của người bản địa sẽ góp phần giữ vững sự ổn định về chính trị và xã hội, đảm bảo sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị quốc gia.

 

Liên kết