TÌNH TRẠNG NHÂN KHẨU HỌC VÀ Y TẾ KHÓ KHĂN Ở TRIỀU TIÊN


Triều Tiên đã tiến hành hai cuộc tổng điều tra dân số vào năm 1993 và 2008. Năm 2008, tổng số dân của Triều Tiên là 24,1 triệu người. Nước này có diện tích là 46.720km², tương đương với Cu Ba (11,2 triệu người), hoặc bang Pennsylvania của Mỹ (12,6 triệu người). Hàn Quốc ước tính đến năm 2010 là 48,9 triệu người, với diện tích nhỏ hơn 38,580km² giống như Hà Lan (16,6 triệu người), hoặc bang Indiana của Mỹ (6,4 triệu người).

Điều tra dân số năm 2008 cho thấy tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe từ đầu những năm 1990 đến thời điểm điều tra. Từ năm 1995 đến năm 2000, có 600 nghìn đến 1 triệu ca tử vong. Theo số liệu điều tra, tuổi thọ trung bình đã giảm đáng kể từ đầu những năm 1990 xuống 65,6 đối với nam và 72,7 tuổi đối với nữ. Tuổi thọ của cả hai giới đều thấp hơn 11 năm so với Hàn Quốc. Tỷ suất chết của trẻ dưới 1 tuổi là 19,3%o và tỷ suất chết mẹ là 77,2 ca trên 100.000 ca sinh. Cả 2 chỉ số trên đều tăng từ đầu những năm 1990, nhưng vẫn thấp hơn so với ước tính của LHQ, Văn phòng Tổng điều tra dân số Hoa Kỳ. Các chỉ báo này cao hơn rất nhiều so với Hàn Quốc.

Tương phản trong mức sinh và tỷ suất sinh

Vào đầu những năm 1990, tổng tỷ suất sinh của Triều Tiên là 2,0 con/1 phụ nữ. Năm 2008, TFR của khu vực thành thị là 1,89 và của nông thôn là 2,19. Tỷ số giới tính khi sinh là 104,2 bé trai trên 100 bé gái, điều đó cho thấy không có sự khác biệt giữa con trai và con gái. Trong khi TFR của Hàn Quốc rất thấp (1,15). Từ quan điểm nhân khẩu học, việc hỗ trợ dân số cao tuổi chưa phải là vấn đề ở Triều Tiên. Hai phần ba số hộ gia đình ở Triều Tiên là những gia đình mở rộng (nhiều thế hệ). 

Tỷ lệ sinh của Triều Tiên dao động trong vòng 30 năm qua. Từ cuối những năm 1970 đến đầu những năm 1980, chính phủ khuyến khích mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con, điều đó được phản ánh trong hình dưới ở độ tuổi 20-34. Trong những năm gần đây, dường như tình trạng kinh tế yếu kém đã không khuyến khích sinh đẻ. Số liệu từ tháp dân số cũng cho thấy một sự thiếu hụt lớn nam giới cao tuổi trong Chiến tranh Triều Tiên 1950-1953.


Tháp dân số Triều Tiên, 2008

                                 Tuổi                           Nam                              Nữ

Nguồn: Tổng điều tra dân số 2008, Trung tâm Thống kê Triều Tiên.


Mức độ kết hôn và giáo dục cao, dinh dưỡng kém

Hôn nhân khá phổ biến ở Triều Tiên. Năm 2008, 25% phụ nữ tuổi 25-29 chưa bao giờ lập gia đình, nhưng con số này giảm xuống 4% đối với phụ nữ tuổi 30-34. Đối với những phụ nữ 30-34 tuổi đã từng kết hôn, 48% kết hôn lần đầu ở tuổi 24 hoặc muộn hơn. Ly hôn là vô cùng hiếm, chỉ có 1,7% phụ nữ tuổi 40-44 được thống kê là “ly thân”. Số người biết chữ chiếm tỷ lệ cao trong cuộc Tổng điều tra kể cả độ tuổi 80 trở lên. Trình độ học vấn tương đối cao, với 77% nam giới và 79% nữ giới độ tuổi 30-34 đã tốt nghiệp trung học. Trong đó có 12% nam, 11% nữ đã tốt nghiệp đại học. Trong lực lượng lao động, 30% nam giới và 38% phụ nữ tham gia nông nghiệp .

Nhà ở tại Triều Tiên không phải trả  tiền, nhưng chật chội và thiếu tiện nghi. Một hộ gia đình trung bình 4,4 người sống trong căn hộ 2 phòng. Có 85% hộ gia đình sử dụng nước máy, chỉ có 58% có nhà vệ sinh. Nhiên liệu nấu ăn chính ở  thành thị là than đá (63%) và gỗ (28%). Còn ở nông thôn thì ngược lại. Rất ít người sử dụng điện để sưởi ấm và nấu ăn. Có 21% hộ gia đình sống trong các chung cư, nhưng chỉ 4% có lò sưởi trung tâm. Phần lớn các hộ gia đình dùng than hay củi để sưởi.

Chính sách “tự lực” của Triều Tiên đã khiến nước này thiếu lương thực triền miên. Địa hình đất đai và khí hậu khắc nghiệt không có lợi cho sản xuất nông nghiệp. Từ năm 1990 đến nay, Triều Tiên liên tục có những khủng hoảng nông nghiệp và đã nhận viện trợ lương thực từ Chương trình Lương thực Thế giới từ giữa những năm 2000. Một nghiên cứu năm 2002 về chế độ dinh dưỡng cho thấy 39% người Triều Tiên bị còi cọc (chiều cao thấp hơn so với tuổi), suy dinh dưỡng mãn tính. Tình hình này đã hầu như không được cải thiện những năm sau đó.

NGUYỄN THU HƯƠNG

Nguồn: http://www.prb.org


 

Liên kết