TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI QUÍ I NĂM 2006

 


Tình hình sản xuất quí I diễn biến trong điều kiện trong nước và thế giới có những khó khăn. Trong nước, rét đậm và khô hạn ở nhiều tỉnh phía Bắc, mưa lũ ở Bắc Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long; dịch rầy nâu phát triển trên diện rộng ở nhiều tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Thị trường thế giới tiếp tục biến động, nhất là giá dầu thô và một số nguyên liệu vẫn tăng hoặc đứng ở mức cao gây áp lực tăng giá nguyên liệu đầu vào trong nước. Tuy vậy, ngay từ đầu năm, Chính phủ đã có sự điều hành sát sao và có sự nỗ lực của các ngành, các cấp, các địa phương, các doanh nghiệp và toàn dân, tình hình kinh tế- xã hội tiếp tục phát triển và ổn định. Trên cơ sở số liệu thống kê 2 tháng đầu năm và số liệu ước tính tháng 3, Tổng cục Thống kê khái quát tình hình kinh tế-xã hội quí I năm 2006 như sau:

A. Tình hình kinh tế

1. Các chỉ tiêu tổng hợp

Tổng sản phẩm trong nước quí I/2006 ước tính tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 7,3% đã đạt được trong quí I/2005, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,1%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng 4,3% của năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,7%; khu vực dịch vụ tăng 7,4%. Trong 7,2% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,3 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 3,7 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,2 điểm phần trăm.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quí I/2006 có mức tăng trưởng tương đối thấp so với mức tăng 4,3% của quí I/2005, chủ yếu do nông nghiệp  trong quí I tăng không đáng kể, lâm nghiệp tăng thấp; riêng thuỷ sản tăng ở mức 7,7%, nhưng tỷ trọng còn nhỏ nên vẫn không kéo được mức tăng chung cho cả khu vực.

Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng nhẹ so với mức tăng trưởng 8,5% của quí I năm trước, chủ yếu do giá trị sản xuất của công nghiệp chế biến tăng 16%, cao hơn mức tăng của quí I/2005, trong khi ngành công nghiệp khai thác mỏ chỉ tăng 2,6% (Quí I/2005 tăng 4,3%) và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, ga và nước tăng 12,5% (Quí I/2005 tăng 11,8%). Tăng trưởng của ngành xây dựng đạt 8,1%.

Khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng quí I năm nay là 7,4%, cao hơn mức tăng 7,2% của quí I/2005 và mức tăng 6,3% của quí I/2004. Một số ngành dịch vụ kinh doanh có tỷ trọng lớn đều duy trì được mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của khu vực dịch vụ: Thương nghiệp tăng 7,7%; khách sạn, nhà hàng tăng 9,5%; vận tải, bưu điện, du lịch tăng 9,1%; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tăng 9,4%.

Kinh tế tăng trưởng cao và giá dầu thô tiếp tục tăng mạnh trên thị trường quốc tế đã góp phần tích cực vào tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước. Tổng thu ngân sách Nhà nước quí I/2006 ước tính đạt 23,5% dự toán cả năm, trong đó thu nội địa đạt 23%; thu từ dầu thô 24,8%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 23%. Trong các khoản thu nội địa chủ yếu, thu từ kinh tế quốc doanh đạt 23,9% dự toán năm, thu từ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (không kể thu từ dầu thô) 19,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh 25,9%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 27,1%; thu về nhà đất đạt 19,1%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước quí I/2006 ước tính đạt 22,1% dự toán cả năm; trong đó chi thường xuyên đạt 23,9%; chi cho đầu tư phát triển đạt 20,8%. Trong chi thường xuyên, chi sự nghiệp kinh tế đạt 25,2% dự toán cả năm; những khoản chi lớn và quan trọng khác đạt tỷ lệ phổ biến 23-24%. Bội chi ngân sách quí I ước tính bằng 19% mức bội chi dự kiến cả năm, trong đó được bù đắp bằng nguồn vay trong nước là 74% và vay nước ngoài 26%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản

Sản xuất nông nghiệp đầu năm nay gặp một số khó khăn như khô hạn ở một số địa phương phía Bắc, mưa lũ ở Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long và sâu bệnh phát triển ở các tỉnh phía Nam làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản quý I/2006 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 2,4% so với quý I/2005, trong đó nông nghiệp tăng 1,04%; lâm nghiệp tăng 0,2%; thuỷ sản tăng 7,93%.

3. Sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp quí I/2006 ước tính đạt 118,2 nghìn tỷ đồng, giá 1994, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2005, do sản xuất công nghiệp tháng 3 năm nay tăng thấp hơn so với mức tăng của tháng 3 năm trước và thấp hơn mức tăng 2 tháng đầu năm, đã kéo nhịp độ tăng chung của cả quí I giảm xuống, thấp hơn cả mức tăng của hai tháng, trong đó kinh tế Nhà nước tăng 6,9% (các doanh nghiệp Nhà nước do trung ương quản lý tăng 9,9%, trong khi doanh nghiệp Nhà nước do địa phương quản lý giảm 0,2%); kinh tế ngoài Nhà nước tăng 20,4% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,3% (dầu khí giảm 2,2%, các ngành khác tăng 21,3%).

4. Đầu tư

Thực hiện vốn đầu tư quí I/2006 theo giá thực tế ước tính đạt 64,1 nghìn tỷ đồng, bằng 17% kế hoạch năm và tăng 19,8% so với cùng kỳ năm 2005, trong đó vốn Nhà nước thực hiện 32,9 nghìn tỷ đồng, tăng 19%; vốn ngoài Nhà nước 18 nghìn tỷ đồng, tăng 20% và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 13,2 nghìn tỷ đồng, tăng 21,3%.

Tình hình đầu tư trực tiếp của nước ngoài: Trong quí I/2006 có 215 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 1625,2 triệu USD, bình quân vốn đăng ký 1 dự án đạt 7,6 triệu USD. Cũng trong 3 tháng qua, còn có 68 lượt dự án được tăng vốn với số vốn tăng thêm 426 triệu USD, nâng tổng số vốn được cấp mới và tăng thêm lên 2,05 tỷ USD. Trong các dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép trong quí I năm nay, công nghiệp và xây dựng chiếm 76,7% số dự án và 75,5% số vốn đăng ký; dịch vụ 44 dự án với 392,6 triệu USD; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6 dự án với số vốn 5,3 triệu USD.

Trong các địa phương, thành phố Hồ Chí Minh có 75 dự án với 698,2 triệu USD (chiếm 43% tổng số vốn đăng ký); Hà Nội 26 dự án và 455 triệu USD; Hải Dương 6 dự án và 95,9 triệu USD; Hải Phòng 25 dự án và 88,7 triệu USD; Đồng Nai 25 dự án và 57,6 triệu USD; Bình Dương 27 dự án và 38 triệu USD...

Có 21 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép vào Việt Nam trong quí I năm nay, trong đó 5 quốc gia và vùng lãnh thổ đã chiếm tới 95,9% tổng số vốn đăng ký: Hồng Công (Trung Quốc) chiếm 41,4%; Hàn Quốc 23,3%; Nhật Bản 18,4%; Đài Loan 7,3%; Xin-ga-po 5,5%.

5. Thương mại, giá cả và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quí I/2006 theo giá thực tế ước tính tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố tăng giá, còn tăng trên 10%. Biến động của tổng mức so với quí I năm trước của các khu vực kinh tế có xu hướng đồng đều hơn: Khu vực kinh tế Nhà nước tăng 7,3% (năm trước khu vực này giảm), các khu vực kinh tế khác tăng từ 20-25%. Trong các ngành kinh doanh, thương nghiệp và khách sạn nhà hàng có tỷ trọng lớn, tăng xấp xỉ mức tăng chung, trong khi các ngành du lịch lữ hành và dịch vụ tỷ trọng nhỏ nhưng tăng ở mức 27-30%. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quí I/2005 trên địa bàn Hà Nội chiếm 9,7% tổng mức của cả nước, tăng 20,9%; thành phố Hồ Chí Minh chiếm 22,2%, tăng 18%.

Giá tiêu dùng tháng 3/2006 giảm 0,5% so với tháng 2/2006 nên giá tiêu dùng so với tháng 12/2005 chỉ tăng 2,8%, thấp hơn mức tăng 3,7% của tháng 3/2005 so với tháng 12/2004 gần 1 điểm phần trăm. Giá tiêu dùng tháng Ba giảm chủ yếu do cầu giảm, trong khi nguồn cung dồi dào và biến động theo xu hướng tương tự các năm trước với mức tăng giá tháng Hai có xu hướng cao hơn mức tăng giá tháng Một và giá tháng Ba tăng chậm hơn mức tăng giá tháng Hai.

Giá tiêu dùng của các tháng trong quí I so với cùng kỳ năm trước có xu hướng tích cực là giảm dần qua các tháng (giá tháng 1 tăng 8,8%, tháng 2 tăng 8,4% và tháng 3 tăng 7,7%). Tuy nhiên, giá bình quân 12 tháng tại thời điểm tháng 3/2005 vẫn còn tăng đáng kể, tăng 8,1% là điều đáng quan tâm trong thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng.

 Giá vàng tháng 3 chỉ còn tăng 1,8% so với tháng trước, tăng 11,6% so với tháng 12 năm trước và tăng 26,7% so với tháng 3 năm 2005. Giá đô la Mỹ khá ổn định trong quí I/2006, giá tháng 3/2006 giảm 0,1% so với tháng trước, bằng mức giá tháng 12/2005 và chỉ tăng 0,8% so với tháng 3/2005.

Tổng mức lưu chuyển ngoại thương quí I/2006 ước tính đạt 17,08 tỷ USD, tăng 10,4% so với quí I năm trước, trong đó xuất khẩu hàng hoá tăng 20,3% và nhập khẩu hàng hoá tăng 1,9%. Tốc độ tăng xuất khẩu cao hơn nhiều so với tốc độ tăng nhập khẩu, vì vậy quí I đã xuất siêu 56 triệu USD, tuy tỷ lệ xuất siêu so với xuất khẩu khá nhỏ (0,7%) và cũng chỉ có tính chất ước lệ tạm thời, vì nhập khẩu tăng thấp, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu giảm 3,6%, là chưa tương xứng với nhu cầu của một nền kinh tế đang phát triển và cần nhập khẩu nhiều nguyên nhiên vật liệu, máy móc thiết bị từ bên ngoài để phát triển sản xuất trong nước đạt mức tăng trưởng cao .

Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá quí I/2006 ước tính đạt 8,57 tỷ USD, tăng 20,3% so với quí I năm trước và bằng 22,7% kế hoạch năm 2006, trong đó khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 3,54 tỷ USD, tăng 14,1%, đóng góp 6,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; dầu thô gần 2 tỷ USD, tăng 16,1%, đóng góp 3,9 điểm phần trăm và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 3,04 tỷ USD, tăng 31,7%, đóng góp 10,3 điểm phần trăm.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá quí I/2006 ước tính đạt 8,51 tỷ USD, tăng 1,9% so cùng kỳ năm trước và đạt 20% kế hoạch năm 2006, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 3,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 12,3%. Kim ngạch nhập khẩu một số nguyên, nhiên vật liệu chính cho sản xuất trong nước đạt tốc độ tăng cao như xăng dầu tăng 15%, chất dẻo tăng 21,1%; hoá chất tăng 18%; vải tăng 22,7%. Tuy nhiên, trong quí I năm nay nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng; nguyên phụ liệu dệt, da, may; gỗ và nguyên liệu gỗ cũng như lượng nhập khẩu một số nhiên liệu, vật tư như xăng dầu, sắt thép, phân bón, bông đều thấp hơn quí I năm trước là vấn đề cần quan tâm vì sẽ ảnh hưởng đến sản xuất những sản phẩm liên quan ở trong nước quí tới.

B. Một số vấn đề xã hội

1. Đời sống dân cư

Đời sống dân cư những tháng đầu năm nhìn chung ổn định. Các ngành và địa phương đã có nhiều biện pháp thiết thực tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và thực hiện trợ cấp và phát thưởng kịp thời, góp phần cải thiện đời sống của người lao động, nhất là trong dịp Tết Nguyên đán Bính Tuất vừa qua. Ở nông thôn, đời sống dân cư cũng từng bước được cải thiện do giá nông sản, thực phẩm cao người dân đã tập trung vào phát triển các loại cây trồng cho hiệu quả cao hơn, và tăng chăn nuôi gia súc, khôi phục đàn gia cầm; đồng thời nhiều địa phương đã thực hiện hiệu quả công tác xóa đói, giảm nghèo và công tác đền ơn đáp nghĩa, trợ giúp các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội. Thiếu đói trong nông dân 3 tháng đầu năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước: Số lượt hộ thiếu đói giảm 5,8% và số nhân khẩu thiếu đói giảm 5,9%.

2. Tình hình dịch bệnh

Trong 3 tháng đầu năm 2006 có gần 10 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt rét, 6,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết;  1,3 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút và khoảng 180 trường hợp mắc bệnh thương hàn (không có trường hợp nào tử vong). Trong tháng 3/2006 không có trường hợp nào nghi nhiễm bệnh cúm A-H5N1và như vậy tính từ 14/11/2005 đến nay, nước ta không có trường hợp mới nào mắc bệnh. Trong tháng 3/2006 đã phát hiện thêm 952 trường hợp nhiễm mới HIV, nâng tổng số trường hợp nhiễm HIV trong cả nước đến 20/3/2006 lên 105,6 nghìn người, trong đó 17,8 nghìn bệnh nhân AIDS và trên 10,3 nghìn người đã chết do AIDS. Trong 3 tháng đầu năm cũng đã có 1,2 nghìn trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong đó 20 người đã tử vong.

3. Tai nạn giao thông

Trong 2 tháng đầu năm 2006, trên phạm vi cả nước đã xảy ra 2,7 nghìn vụ tai nạn giao thông, làm chết 2,3 nghìn người và làm bị thương 2,2 nghìn người; bình quân 1 ngày xảy ra 45 vụ tai nạn, làm chết 39 người và làm bị thương 37 người. So với 2 tháng đầu năm 2005, số vụ tai nạn 2 tháng đầu năm nay giảm 9,7%; số người bị thương giảm 16%, riêng số người chết tăng 3,9%. Ngoài ra, trong những tháng đầu năm cũng đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng làm chết và bị thương nhiều người.n

Nguồn: Tổng cục thống kê