5 NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
DÂN SỐ VIỆT
NAM 2001 - 2010

NGUYỄN HỒNG NGỌC*


*Chiến lược Dân số Việt Nam 2001 - 2010, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 147/2000/QĐ-TTg ngày 22/12/2000; đến nay sau 5 năm triển khai thực hiện, đã đạt được một số kết quả như sau:

1. Quy mô dân số và mức sinh

Text Box: Năm	Tỷ lệ tăng dân số theo mục tiêu của chiến lược (%)	Tỷ lệ tăng dân số thực tế qua các năm (%)	Tổng tỷ 
suất sinh 
(con)	Tỷ lệ sinh con   thứ ba trở lên 
(%)
	(1)	(2)	(3)	(4)
2000	1,32	1,36	2,28	
2001	1,26	1,35	2,25	
2002	1,20	1,32	2,28	21,7
2003	1,19	1,47	2,12	21,5
2004	1,18	1,40	2,23	20,2
2005	1,16	1,33	2,11	20,8
Nguồn: Cột (1): Uỷ ban Quốc gia DS-KHHGĐ. Chiến lược dân số Việt Nam 2001-2010., Hà Nội - 2000 trang 61.
     Cột (2): TCTK. Niên giám thống kê tóm tắt 2005. Trang 14
     Cột (3), (4) : TCTK. Điều tra biến động DS-KHHGĐ 1/4/2005.Dân số trung bình vào năm 2000 là 77,6 triệu người, đến năm 2005 là 83,12 triệu người. Như vậy bình quân mỗi năm, quy mô dân số nước ta tăng khoảng 1,1 triệu người. Với mức tăng này chúng ta đã đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội IX đề ra là quy mô dân số đến năm 2005 khoảng 83 triệu người, nhưng vẫn cao hơn so với mức dự báo của chiến lược 700.000 người (dự báo là 82,4 triệu người).

Kết quả giảm sinh trong giai đoạn 2001-2005 mặc dù đã tiệm cận mức sinh thay thế (Tổng tỷ suất sinh-TFR: 2,11 con) nhưng kết quả đạt được là chưa vững chắc, nhiều chỉ báo nhân khẩu học vẫn chưa đạt mục tiêu chiến lược dân số giai đoạn 2001-2005, vẫn còn tiềm ẩn việc dân số tăng nhanh trở lại.

- Tính chung cả giai đoạn 5 năm 2001-2005, tỷ lệ tăng dân số, tổng tỷ suất sinh tiếp tục giảm nhưng giảm rất chậm, cách xa mục tiêu đề ra.

- Vẫn còn 5/8 vùng của cả nước chưa đạt mức sinh thay thế, trong đó mức sinh của Tây Nguyên, Tây Bắc và Bắc Trung bộ còn cao (tổng tỷ suất sinh tương ứng là 3,07 con, 2,48 con và 2,45 con). Năm 2005, Tổng cục Thống kê công bố đã đạt mức sinh thay thế (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 2,11 con) nhưng nếu xem xét trong cả giai đoạn thì ngay từ năm 2003, Tổng cục Thống kê đã công bố đã đạt mức sinh thay thế (2,12 con), nhưng trong hai năm 2003 và 2004 mức sinh lại tăng lên và số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 2,23 con. Như vậy, rõ ràng kết quả đạt được là rất “bấp bênh”.

- Tỷ suất sinh thô giảm rất chậm từ 19,2‰ (1/7/2000) xuống còn 18,6‰ (1/4/2005), chưa tương ứng với mức sinh đạt được (tính toán khoa học cho thấy muốn đạt mức sinh thay thế thì tỷ suất sinh thô phải duy trì ở mức 15-16‰), bình quân mỗi năm chỉ giảm được 0,12‰, không đạt chỉ tiêu Quốc hội giao là giảm 0,4‰ mỗi năm. Mức giảm tỷ suất sinh thô bình quân hàng năm của giai đoạn 2001-2005 chỉ bằng 1/10 so với giai đoạn 1991-2000.

- Tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giảm chậm trong 4 năm gần đây và vẫn còn khá cao, từ 21,7% năm 2002 xuống còn 20,8% năm 2005, chưa tương ứng với kết quả của tổng tỷ suất sinh (tính toán khoa học cho thấy tỷ suất sinh đạt ở mức thay thế thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên phải dưới 10%). Khu vực nông thôn có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên gấp hơn hai lần so với khu vực thành thị (2005: 23,7% và 11,6%). Trung bình hàng năm, số trẻ sinh ra là con thứ 3 trở lên vẫn bằng số dân của tỉnh Lai Châu (khoảng 260000-270000 trẻ).

Quy mô dân số nước ta khá lớn, mật độ dân số rất cao, tiếp tục gây sức ép lớn, là yếu tố cản trở những nỗ lực phát triển kinh tế-xã hội, cản trở việc giảm khoảng cách tụt hậu so với các nước.

Dân số nước ta hiện nay đã hơn 83 triệu người. Theo dự báo, đến năm 2050 xếp thứ 15, với số dân 117 triệu người và Việt Nam trở thành một trong 16 nước có trên 100 triệu dân; lúc đó dân số Việt Nam đông hơn Nhật Bản (101 triệu dân) và gần bằng Nga (119 triệu dân). Trong khu vực Đông Nam Á, dân số Việt Nam xếp thứ 3 (sau Indônêxia và Phi-líp-pin). Đến năm 2050 trật tự này vẫn không thay đổi1. Hiện nay, mật độ dân số nước ta đã là 252 người/km2, gần gấp đôi mật độ dân số của Trung Quốc (140 người/km2) - nước có dân số 1,3 tỉ người.

Khi đã tiệm cận hoặc đạt mức sinh thay thế, xu hướng sinh thường dao động tăng hoặc giảm, mục tiêu là phải giữ cho mức sinh dao động ở trong khoảng cho phép, nếu không chúng ta sẽ phải trả giá khắc phục bằng nhiều năm. Bài học kinh nghiệm cho thấy, theo số liệu chính thức của Cục Thống kê nhà nước Trung Quốc, năm 1980 Trung Quốc đã đạt và tiệm cận mức sinh thay thế với tổng tỷ suất sinh là 2,3 con, nhưng sau đó tỷ lệ sinh tăng trở lại và do không khắc phục được trong một thời gian ngắn nên phải mất 10 năm sau, tức năm 1990 mới đạt lại mức tổng tỷ suất sinh là 2,3 con2. Nếu chúng ta lại rơi vào trường hợp như Trung Quốc thì quy mô dân số ổn định sẽ là 140-150 triệu người hoặc cao hơn. Điều này cho chúng ta hình dung đến tác động của quy mô và tốc độ tăng dân số của nước ta đến phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ môi trường, khai thác và sử dụng tài nguyên.

So với hai nước trong khu vực là Thái Lan và Hàn Quốc, có điều kiện kinh tế-xã hội và thời gian làm công tác dân số gần giống ta vào những năm 1960, cho thấy sự tụt hậu về kinh tế-xã hội của chúng ta có nguyên nhân về sự tụt hậu trong kết quả thực hiện công tác DS-KHHGĐ.

Những kết quả trên cho thấy để đạt mức sinh thay thế đã khó nhưng duy trì mức sinh thay thế thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực nhiều hơn nữa của toàn xã hội.

2. Cơ cấu dân số

Text Box: Quốc gia	Dân số 1960	Thời gian bắt đầu công tác dân số	Thời gian đạt mức sinh thay thế	Dân số trung bình
(2005)	Dự kiến quy mô dân số ổn định	Tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu nguời tính theo sức mua tương đương (PP) (2004)
(1)	(2)	(3)	(4)	(5)	(6)	(7)
Việt Nam	30 triệu người
TFR khoảng 6 con
GDP/người khoảng 70-80USD	1961	Khoảng 2010	83,3 triệu	115-120 triệu	Khoảng 2700 USD
Thái Lan	25 triệu người
TFR khoảng 6 con
GDP/người khoảng 70-80USD	1970	Khoảng 1990	65 triệu	78-80 triệu	8020 USD
Hàn Quốc	24 triệu người
TFR = 6 con
GDP/người khoảng 70-80USD	1962	Khoảng 1983	48,3 triệu	50-51 triệu	20.400 USD
Nguồn: - Báo cáo của Uỷ ban DSGĐTE với Thủ tướng Chính phủ kết quả bảo vệ dự án pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Dân số tại phiên họp 38 của UBTVQH.
- Cột 5 và cột 7: PRB. 2005 World Population Data SheetCơ cấu dân số theo độ tuổi đã thay đổi dần theo chiều hướng tích cực. Tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi giảm mạnh, từ 33,5% (1/4/1999) còn 27,1% (1/4/2005). Tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên chỉ tăng từ 8,1% (1/4/1999) lên 9% (1/4/2005). Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng từ 58,4% (1/4/1999) lên 63,9% (1/4/2005). Tỷ lệ phụ thuộc của dân số giảm từ 71% năm 1999 xuống còn 58,63% năm 2004, mà trong đó hầu hết là do giảm tỷ lệ phụ thuộc trẻ em (tỷ lệ phụ thuộc trẻ em 0-14 tuổi đã giảm từ 57% năm 1999 xuống còn 44,4% năm 2004, tỷ lệ phụ thuộc của nhóm người già không thay đổi, vẫn ở mức 14%). Với cơ cấu này, dân số Việt Nam đã bước vào giai đoạn "cơ cấu vàng" với số lao động tăng lên và tỷ lệ phụ thuộc giảm.

Cơ cấu dân số thành thị - nông thôn cũng có thay đổi đáng kể với mức tăng dân số thành thị mỗi năm là 2,55%, đưa tỷ lệ dân thành thị đạt 26,97% vào năm 2005.

3. Chất lượng dân số

Trong thập kỷ qua, chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta đã được nâng lên đáng kể. Theo “Báo cáo phát triển con người năm 2005” của Chương trình phát triển Liên Hợp quốc (UNDP), Việt Nam đã đạt được tiến bộ rõ rệt với chỉ số phát triển con người tăng liên tục: 0,617 năm 1990; 0,660 năm 1995; 0,695 năm 2000 và 0,704 năm 2003, xếp thứ 108 trong số 177 nước năm 2003.

Tuổi thọ bình quân của nước ta khá cao và tiếp tục tăng từ 66 tuổi năm 1989, lên 68 tuổi năm 1999, 71,3 tuổi năm 20023.

Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em đạt khá cao, vượt mục tiêu Chiến lược đề ra cho năm 2005, nhưng bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS là rất đáng lo ngại. Tỷ suất tử vong mẹ giảm từ 95/100.000 trẻ đẻ sống năm 2000 xuống còn 80/100.000 năm 2005. Tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi giảm rất nhanh từ 36,7‰ năm 1999 xuống còn 17,8‰ năm 2005. Công tác tuyên truyền, tư vấn đã giúp phụ nữ thực hiện các biện pháp phòng ngừa, điều trị thông thường các bệnh viêm nhiễm. Đặc biệt là việc tư vấn và hỗ trợ điều trị các bệnh viêm nhiễm đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục rất được chú ý trong các đợt chiến dịch truyền thông lồng ghép với cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ ở cộng đồng. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi còn 25,2%, gần đạt được mục tiêu kế hoạch 5 năm 2001-2005. Tầm vóc, thể lực của người Việt Nam đã được cải thiện, đã xuất hiện quy luật gia tăng về tầm vóc cơ thể của người Việt Nam. Chiều cao trung bình của người trưởng thành ở nam giới là 163,7cm, tăng 3,7cm so với năm 1975; ở nữ giới là 154cm, tăng 4cm4.

Một số dự án, mô hình nâng cao chất lượng dân số như mô hình nâng cao chất lượng dân số cộng đồng (9 tỉnh); mô hình cung cấp thông tin và dịch vụ về dân số, SKSS/KHHGĐ cho vị thành niên và thanh niên (10 tỉnh); mô hình kiểm tra sức khoẻ và tư vấn tiền hôn nhân (6 tỉnh); đề án sàng lọc sơ sinh để phát hiện và can thiệp sớm bệnh suy giáp trạng bẩm sinh và thiếu hụt EnGym G67A đã được triển khai và có những kết quả nhất định. Tuy nhiên, việc xây dựng các mô hình nâng cao chất lượng dân số chưa được trung ương hướng dẫn cụ thể cho địa phương thực hiện nên các địa phương đều lúng túng trong việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, tự xây dựng mô hình, không bám sát với tình hình thực tế của địa bàn triển khai.

Như vậy, trong giai đoạn 2006-2010 mục tiêu nâng cao chất lượng dân số về cả thể lực và trí lực cần phải được chú ý nhiều hơn nữa.

4. Các mục tiêu cơ bản của chiến lược dân số giai đoạn 2006-2010

a) Giảm tỉ lệ sinh trung bình 0,25‰ hàng năm, duy trì vững chắc tổng tỉ suất sinh đã đạt được để tỉ lệ tăng dân số là 1,14% và quy mô dân số dưới 89 triệu người vào năm 2010.

b) Kiểm soát có kết quả việc mất cân bằng về cơ cấu giới tính khi sinh trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ hiện tượng này, đề xuất và thực hiện các biện pháp thích hợp.

c) Nâng cao một bước chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, đưa chỉ số HDI đạt mức trung bình tiên tiến vào năm 2010. Thực hiện đăng kí dân số, xử lý và cung cấp các thông tin, tư liệu về dân số đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội.

5. Các giải pháp thực hiện chiến lược dân số

- Tiếp tục Quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết 47/NQ-TW của Bộ Chính trị và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 47/NQ-TW của Chính phủ, thực hiện có kết quả chương trình mục tiêu quốc gia DSGĐTE giai đoạn 2006-2010.

- Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ, nâng cao nhiệt tình và năng lực cán bộ từ Trung ương đến cơ sở, làm tốt công tác tham mưu, xây dựng và hoạch định chính sách, điều hành, tổ chức phối hợp và thực hiện công tác DS - KHHGĐ ở các cấp.

- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, giáo dục và vận động nhằm tạo sự ủng hộ mạnh mẽ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền; sự hưởng ứng và tham gia tích cực của các lực lượng xã hội, gia đình, cộng đồng; từng bước nâng cao nhận thức và chuyển đổi hành vi về DS - KHHGĐ.

- Tập trung củng cố, mở rộng các dịch vụ chăm sóc SKSS, KHHGĐ của nhà nước, tạo điều kiện về pháp lý, chính sách để các tổ chức xã hội và tư nhân tham gia, đảm bảo đáp ứng đầy đủ các dịch vụ này một cách an toàn, thuận tiện, chất lượng ngày càng được nâng cao. Tăng cường chiến dịch lồng ghép tuyên truyền, vận động, tư vấn và cung cấp dịch vụ SKSS, KHHGĐ cho vùng đông dân có mức sinh cao, vùng khó khăn. Đảm bảo hậu cần và đẩy mạnh tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai.

- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện luật pháp, chính sách DS-KHHGĐ, đảm bảo quản lý nhà nước về lĩnh vực DS - KHHGĐ trên cơ sở luật pháp ngày càng hoàn thiện, đồng thời đẩy mạnh phong trào nhân dân thực hiện tốt công tác này.

- Đẩy mạnh xã hội hoá công tác DS - KHHGĐ. Thường xuyên trao đổi, rút kinh nghiệm, tiếp tục phát huy có hiệu quả sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể nhân dân và tổ chức xã hội trên cơ sở chương trình phối hợp thực hiện công tác đến năm 2010 đã kí kết với 10 bộ, ban, ngành, đoàn thể, đồng thời triển khai các chương trình phối hợp với các bộ, ngành khác. Triển khai có kết quả đề án xã hội hoá hoạt động DSGĐTE.

- Nâng cao chất lượng hệ thông tin quản lý chuyên ngành. Cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác dữ liệu về dân số đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành chương trình, hoạch định chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Chuẩn bị điều kiện để triển khai công tác đăng kí dân số.

- Nâng cao chất lượng dân số của cộng đồng bằng việc huy động cộng đồng phát triển hệ thống dịch vụ xã hội, bảo đảm khả năng cơ bản của cộng đồng đáp ứng việc thực hiện chức năng xã hội và hỗ trợ các gia đình khi quy mô gia đình thu nhỏ lại. Khuyến khích và tạo điều kiện cho nam, nữ kiểm tra sức khoẻ trước khi đăng ký kết hôn, xét nghiệm gen đối với người có nguy cơ bị khuyết tật về gen, nhiễm chất độc hoá học; tư vấn về gen di truyền; giúp đỡ về vật chất và tinh thần đối với người bị khuyết tật về gen, nhiễm chất độc hoá học, nhiễm HIV/AIDS; tiến hành sàng lọc, lưu trữ tinh trùng, tạo phôi trong ống nghiệm để giúp đỡ những người có tinh trùng yếu, những người vô sinh .

- Kiểm soát chặt chẽ việc duy trì cân bằng giới tính khi sinh, bảo đảm cho sự cân đối giới tính giữa nam và nữ theo quy luật tự nhiên của sinh sản. Có biện pháp phát triển các dịch vụ xã hội phù hợp với cơ cấu dân số già trong tương lai. Tổ chức tốt việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò của người già.

- Lồng ghép tốt việc giải quyết các vấn đề DS-KHHGĐ và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; thực hiện bình đẳng giới trong phạm vi xã hội và gia đình.n



* Phó chánh văn phòng, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em

 

1.        PRB. 2003 World Population Data Sheet

2.        TS. Nguyn Quc Anh. Kết qu thc hin chương trình DS - KHHGĐ năm 2005: Thách thc và trin vng. Tp chí Dân sn, s 1(58)/2006. và Phát tri

3 Tng cc Thng kê: Tng điu tra dân s các năm 1989, 1999; Điu tra biến động dân s và KHHGĐ 2002

4 Báo Thanh niên, 12/3/2006.