DÂN SỐ VIỆT NAM:

NHỮNG THÁCH THỨC TRONG TƯƠNG LAI

VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ CHÍNH SÁCH

                                                          PGS-TS NGUYỄN ĐÌNH CỬ*


*Để xây dựng được một chính sách dân số hợp lý và hữu hiệu, trước hết cần phát hiện, nắm bắt chính xác và phân tích sâu sắc tình hình hiện tại và dự báo dân số của đất nước trong tương lai.

Dưới đây, xin trình bày một số đặc điểm dân số nước ta hiện nay, dự báo những thách thức trong tương lai và đề xuất những khuyến nghị nhằm góp phần phần xây dựng và thực hiện  chính sách dân số Việt Nam, giai đoạn từ  2007 đến 2025.

Thách thức 1: Quy mô dân số nước ta rất lớn và vẫn đang phát triển mạnh

 Theo Tổng cục Thống kê, năm 2005, Việt Nam có khoảng 83,12 triệu người, là nước đông dân thứ 13 trên thế giới. Năm 2005  chỉ có 4 nước (Ấn Độ, Nhật Bản, Băng-la-đét, Phi-líp-pin) có dân số đông hơn và mật độ dân số cao hơn nước ta.

Theo Liên Hợp quốc, để cuộc sống thuận lợi, bình quân trên 1km2, chỉ nên có từ 35 đến 40 người. Như vậy, ở Việt Nam, mật độ dân số đã gấp khoảng  6 - 7 lần “mật độ chuẩn”. So với mật độ dân số Trung Quốc (136 ngư­ời/km2, năm 2005) cũng gần gấp đôi còn so với các nước đã phát triển thì gấp trên 10 lần! Căn cứ vào chỉ báo này, có thể khẳng định rằng: Việt Nam là quốc gia có quy mô dân số rất lớn. Mặc dù vậy, dân số nước ta vẫn tăng  mạnh (Bảng 2).


Bảng 1: Những nước có dân số và mật độ dân số lớn hơn Việt Nam, năm 2005

 

Nước

Số dân  (triệu  người)

Mật độ (ng­ười/km2)

GDP bình quân đầu người (đô-la)

Băng-la-đét

144

1.001

404,6

Nhật Bản

127,7

338

36.186,9

Ấn Độ

1.103,6

336

640,8

Phi-lip-pin

84,8

283

1041,5

Việt Nam

83,12

252

553,0

Nguồn: Niên giám Thống kê. NXB Thống kê,. Hà Nội, 2005

 


Bảng 2: Số dân tăng thêm trung bình hàng năm,1945-2005

                                                                                          Đơn vị: Triệu người

Thời kỳ

1945-

1955

1955-

1965

1965-

1975

1975-

1985

1985-

1995

1995-

2005

Số dân tăng thêm

0,40

0,99

1,26

1,23

1,21

1,11

Nguồn: Tác giả tự tính toán từ các  số liệu thống kê dân số

 


 Chi tiết hơn, trong 3 năm gần đây: Năm 2003  dân số nước ta tăng thêm: 1.189. 265 người, năm 2004 tăng thêm: 1.148.452 người, năm 2005 tăng thêm 1.087.700 người, nghĩa là bằng dân số một tỉnh loại trung bình (nước ta có 39 tỉnh có dân số từ 1,1 triệu trở xuống).

Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, năm 2024 nước ta sẽ vượt 100 triệu dân, đạt 100,5 triệu người! Mật độ dân số lên tới 335 người/km2! Tuy nhiên, cần chú ý rằng dân số tăng lên hiện nay là do đà tăng dân số chứ không phải do mức sinh cao (hiện Việt Nam đã đạt được mức sinh thay thế).

Quy mô dân số rất lớn, mật độ dân số cao và vẫn đang tăng mạnh như trình bày ở trên, bên cạnh việc tạo ra thị trường lớn, nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, có sức hấp dẫn đầu tư, cũng góp phần không nhỏ làm trầm trọng thêm những khó khăn trong giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện tình trạng y tế, giáo dục, nhà ở, xoá bỏ tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông. Về tác động này cần có chuyên đề riêng về tác động của dân số đến sự phát triển bền vững ở nước ta.

Khuyến nghị 1:

- Nâng cao chất lượng dịch vụ KHHGĐ là một nội dung ưu tiên hàng đầu trong chính sách dân số nói riêng và chính sách kinh tế-xã hội nói chung ở nước ta. Cụ thể là cần có những  chính sách, luật pháp điều chỉnh vấn đề sinh sản, đẩy mạnh tuyên truyền, đảm bảo dịch vụ, phương tiện có chất lượng cao nhằm đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu của người dân. Coi kỹ thuật KHHGĐ là một trong những lĩnh vực kỹ thuật hàng đầu của nước ta.

- Các chính sách phát triển phải h­ướng mạnh đến tạo việc làm, đa dạng hoá ngành nghề, chuyển đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.

- Thực hiện tốt việc điều chỉnh quy mô dân số trên phạm vi toàn quốc/tỉnh cũng như từng vùng, miền, bao gồm KHHGĐ,  di cư  và đẩy mạnh xuất khẩu lao động.

Thách thức 2: Dân số trẻ nhưng đang bước vào thời kỳ quá độ chuyển sang dân số già và sẽ phải đối mặt với xã hội già hoá trong tương lai gần.

Dân số nước ta trẻ. Năm 2005, tỷ lệ trẻ em từ 14 tuổi trở xuống là  26,4%. Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em giảm khá nhanh còn tỷ lệ người cao tuổi lại đang tăng lên (Bảng 3).


Bảng 3: Cơ cấu dân số Việt Nam theo nhóm tuổi, 1979-2024

Năm

Tỷ trọng từng nhóm tuổi trong tổng số dân (%)

Tổng số

0-14

15-59

60+

1979

1989

1999

2005

2024

41,7

39,2

33,0

26,4

22,0

51,3

53,7

59,0

64,6

65,0

7,0

7,1

8,0

9,0

13,0

100

100

100

100

100

Nguồn:

Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và nhà ở Trung ương: Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam 1979; 1989; 1999.

TCTK, Dự án VIE97/P14: Báo cáo kết quả Dự báo Dân số Việt Nam 1994-2024. Hà Nội 5-1999

TCTK. Điều tra biến động dân số 1-4-2005

 


Tỷ lệ ng­ười cao tuổi (60 tuổi trở lên) hiện có khoảng 9%, sẽ tăng lên nhanh, do sự già hoá của thế hệ sau và mức sinh giảm, đạt tới mức thay thế.

Đến năm 2024, người cao tuổi ước đạt 12,8 triệu, chiếm tỷ lệ 13% trong tổng dân số, vượt mức đạt tiêu chuẩn xã hội già hoá. Đó là một thách thức lớn đối với hệ thống bảo hiểm xã hội.

 Tỷ lệ phụ thuộc (tổng số trẻ em và ngư­ời già bình quân cho 100 ngư­ời trong độ tuổi lao động, từ 15 đến 59) không ngừng giảm xuống: Năm 1979 là  95, năm 1989: là 86 và năm 1999 là 70. Theo dự báo, tỷ lệ này đến năm 2014, chỉ còn khoảng 48. Ng­ười ta nói rằng, đây là “cơ cấu dân số vàng” hay “Dư  lợi dân số “ tức là mỗi người lao động gánh nhẹ dần số người ăn theo, tạo điều kiện tốt cho kinh tế quốc dân, kinh tế gia đình có tiết kiệm để đầu tư­ phát triển.

Đến năm 2024, tỷ lệ phụ thuộc lại tăng lên 54 và sẽ tiếp tục tăng do già hoá. Dư lợi dân số giảm dần.

Thực tế nói trên cho thấy, Việt nam không chỉ đổi mới nhanh chóng về kinh tế – xã hội mà còn đang đổi mới nhanh chóng các thế hệ dân số. Điều này là do một thời gian dài sau chiến tranh, mức sinh cao và tuổi thọ thấp .

Khuyến nghị 2:

-  Các yếu tố: Tỷ lệ trẻ em giảm, tỷ lệ người cao tuổi tăng phải đưa vào quá trình lập kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội.

- Kế hoạch phát triển giáo dục, nhất là bậc tiểu học và phổ thông cơ sở,  cần chú ý đến yếu tố tỷ lệ trẻ em giảm nhanh. Cần chú trọng nghiên cứu hoạch định chính sách xã hội đối với ng­ười cao tuổi, tận dụng cơ hội “cơ cấu dân số vàng” để phát triển kinh tế.

- Khuyến khích sự sáng tạo, khát vọng phát triển đất nước, gia đình ở tuổi trẻ, đồng thời làm tốt giáo dục truyền thống, nhanh chóng phát hiện và phê phán các giá trị tiêu cực trong giới trẻ. 

- Cần tuyên truyền để gia đình, cộng đồng, xã hội quan tâm đến các vấn đề của người già, như: Việc làm, thu nhập, đời sống, sức khoẻ, tình trạng hôn nhân....Tuyên truyên nhân rộng những mô hình tốt về bảo vệ, chăm sóc, tạo việc làm thích hợp cho người cao tuổi.

Thách thức 3: Sự mất cân đối giới tính, nhìn chung đã dần dần thu hẹp. Tuy nhiên, đối với trẻ em và trẻ sơ sinh, sự mất cân đối giới tính lại có dấu hiệu gia tăng, có thể tạo nên sự thiếu hụt nữ thanh niên trong tương lai.

Theo luật tự nhiên, khi sinh ra, nếu tính trên số lượng lớn thì tỷ lệ trẻ em trai và tỷ lệ trẻ em gái khá cân bằng. Mặt khác, Luật Hôn nhân và gia đình của nước ta quy định chế độ "một vợ, một chồng". Do vậy, bên cạnh việc quan tâm sự cân bằng nam nữ nói chung, người ta đặc biệt chú ý tính cân bằng nam, nữ  ở nhóm tuổi trẻ.

Để đánh giá mức độ cân bằng giữ số nam và số nữ, người ta dùng chỉ tiêu: "Tỷ số giới tính", tức là "Số nam tương ứng với 100 nữ". Việt Nam là một trong những nước có tỷ số giới tính thấp và không ổn định (Bảng 4).


Bảng 4: Tỷ số giới tính, 1939-1999

Năm

1939

1943

1951

1960

1970

1979

1989

1999

Tỷ số giới tính

97,2

96,5

96,1

95,9

94,7

94,2

94,7

96,7

Nguồn: Nguyễn Thiện Trưởng (Chủ biên) Dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội,-2004


Bảng 5: Tỷ số giới tính nhóm (0-4) tuổi

Năm

1979

1989

1999

Tỷ số giới tính

104,8

106,5

109,0

Nguồn:

Ban chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và nhà ở Trung ương;

Tổng điều tra Dân số và nhà ở Việt Nam 1979; 1989; 1999.

Tuy nhiên, đối với nhóm từ 0 đến 4 tuổi, tỷ số giới tính lại không ngừng tăng lên, nghĩa là trẻ em trai ngày càng nhiều hơn trẻ em gái cùng nhóm tuổi, (Bảng 5).

Đặc biệt, theo kết quả Tổng điều tra 1999, xử lý trên mẫu 3%, tỷ số giới tính của trẻ sơ sinh ở nhiều tỉnh rất cao, ở mức không bình thường, như: An Giang: 128; Kiên Giang: 125; Kontum: 124; Sóc Trăng: 124; Trà Vinh: 124; Ninh Thuận: 119; Bình Phước: 119; Quảng Ninh: 118; Thanh Hoá: 116; Lai Châu: 116...

Vùng Đồng bằng sông Hồng, theo Điều tra mức sống dân cư năm (1997 - 1998), tỷ số giới tính của trẻ em từ 1 đến 4 tuổi cao nhất n­ước: 116, nghĩa là trong độ tuổi từ 1 đến 4, cứ có 100 cháu gái thì có tới 116 cháu trai! Còn theo kết quả Tổng điều tra Dân số năm 1999: Tỷ số giới tính khi sinh ở hầu hết các tỉnh ĐBSH đều có biểu hiện cao một cách trái quy luật: Hà Nội (thành thị) là 110, Hải Phòng (thành thị): 118, Hà Tây (thành thị):114, Hải D­ương: 120, Hà Nam: 113, Nam Định (nông thôn): 111, Thái Bình: 120, Ninh Bình: 113.

Một số thống kê gần đây cho thấy, tỷ số giới tính khi sinh vẫn còn cao. Chẳng hạn, ở Hà Tây, tỷ số này năm 2002 là 116,7 ở khu vực thành thị và 111,9 ở khu vực nông thôn (năm 2003).

Từ những số liệu trên và kết quả của nhiều cuộc điều tra khác có thể nêu giả thiết đáng tin cậy rằng: Đã có sự lựa chọn của cha mẹ, sự can thiệp của y tế để sinh đ­ược con trai. Sự lựa chọn này, ở một vài nơi trên thế giới diễn ra rất tàn khốc, như nạo bỏ thai nhi gái, vứt bỏ sơ sinh gái để dành tiêu chuẩn đẻ con trai. Hậu quả của tình trạng "lựa chọn" này sẽ dẫn đến sự mất cân bằng giới tính nghiêm trọng trong thế hệ trẻ. Do vậy, tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả xã hội rất nặng nề.

Khuyến nghị 3:

- Cần nghiên cứu thẩm định lại tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về giới tính của trẻ khi sinh, xác định nguyên nhân của tình trạng này.

- Chú ý khía cạnh bình đẳng giới khi xây dựng các chính sách kinh tế -xã hội.

- Cần tuyên truyền, phổ biến thực hiện nghiêm khoản 2, Điều 7 Pháp lệnh Dân số về việc cấm lựa chọn giới tính thai nhi d­ưới mọi hình thức (tư vấn, chẩn đoán giới tính của thai nhi, phá thai...). Cần có giải pháp đồng bộ nhằm phòng, chống nạn buôn bán phụ nữ.

- Cần tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới. Phê phán mạnh mẽ những hủ tục biểu hiện trọng nam khinh nữ.

Thách thức 4: Dân số phân bố không đều. Di dân ngày càng sôi  động

Sự phân bố dân cư trên các vùng lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng trên các mặt kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Trong 8 vùng, 42,8% dân số tập trung ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi đó, diện tích đất đai của hai vùng này chỉ chiếm 16,6%! Mật độ dân số ở các tỉnh rất khác nhau. Năm 1999, trung bình trên mỗi km2 đất ở Thái Bình có 1194 người, trong khi đó ở Kon Tum chỉ có 32 người/km2, tức là hơn kém nhau đến gần 40 lần! Mặt khác, vốn đầu tư nước ngoài, giai đoạn 1988-1998 vào Đồng bằng Sông Hồng gấp 176 lần Tây Nguyên, còn Đông Nam Bộ thì gấp 307 lần! Thực trạng này chứa đựng tiềm năng di cư lớn. Những đặc trưng của di dân hiện nay, đã khác so với trước đây:

Về động lực: việc làm, thu nhập (không nhất thiết là đất canh tác), hôn nhân và đoàn tụ gia đình; Hướng: Nông thôn - đô thị, Bắc - Nam; Hình thức đa dạng: Di dân kinh tế mới, di dân định canh, định cư, di dân ổn định biên giới và di dân tự phát; Quy mô di chuyển ngày càng lớn: Riêng giai đoạn 1961-1997, đã có 5,9 triệu dân di chuyển tới các vùng theo dự án. Ở thành phố Hồ Chí Minh, luồng di dân tự do đến không ngừng tăng lên. Thí dụ, giai đoạn 1981-1985, bình quân mỗi năm thành phố tăng thêm 130.000 người; giai đoạn 1986-1990: 185.000 giai đoạn 1991-1996: 213.000 người... Từ 1999 đến 2005, dân số Tây Nguyên đã tăng gấp hơn 3 lần, chủ yếu do dân nhập cư. Tây Nguyên trở thành nơi hội tụ dân cư từ  nhiều tỉnh thành, nhiều dân tộc và nhiều tôn giáo. 

Hướng di dân cũng đã thay đổi đáng kể, từ nông thôn- nông thôn phía Bắc trước năm 1975 đến di dân Bắc-Nam rồi chuyển sang hướng di dân nông thôn-đô thị và trong nước ra nước ngoài những năm gần đây. Khoảng 10 năm trở lại đây, số phụ nữ lấy chồng nước ngoài khá lớn và có xu hướng tăng lên, đặc biệt là các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Chỉ tính đến đầu năm 2004, riêng số phụ nữ lấy chồng Đài Loan đã lên đến gần 80.000 người. Kết hôn với người nước ngoài là một nguyên nhân mới, đáng kể của di dân và đang gây ra những hậu quả phức tạp về các mặt dân số, pháp lý, tâm lý xã hội.

Khuyến nghị 4:

- Cần có chính sách phân bố dân số cân đối với tài nguyên môi trường của các vùng kinh tế - sinh thái. Đẩy mạnh bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản của người di cư nói chung và di dân tự do nói riêng, đặc biệt phòng chống các bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục. Thực hiện việc phân bố dân c­ư hợp lý giữa các khu vực, vùng địa lý kinh tế và các đơn vị hành chính để khai thác tốt nhất tiềm năng đất đai, tài nguyên, giải toả sức ép dân số quá lớn ở Đồng bằng sông Hồng.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đăng ký dân cư, tách chức năng kinh tế, xã hội ra khỏi "Sổ hộ khẩu". Chú trọng bảo vệ sức khoẻ sinh sản cho ngư­ời di cư­ tạm thời hoặc vĩnh viễn bằng cách đẩy mạnh tuyên truyền, tư vấn và phát triển mạng l­ưới dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản. Xây dựng kịp thời những chính sách về quốc tịch, hộ tịch, hộ khẩu... và tư vấn đầy đủ cho những người kết hôn với người nước ngoài.

- Tuyên truyền về lợi ích và thách thức của di cư. Đặc biệt là về sức khoẻ nói chung và sức khoẻ sinh sản nói riêng để người di cư tránh xa mại dâm, ma tuý và các tệ nạn xã hội khác.

- Tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ của người lao động, người di cư.

- Những kiến thức cần thiết khi di cư (đăng ký hộ khẩu, tìm việc, ký kết hợp đồng lao động, bảo vệ sức khoẻ, tiết kiệm,...)

- Nêu những tấm gương di cư xoá đói, giảm nghèo và làm giàu chân chính.

Thách thức 5:  Tỷ lệ dân đô thị hiện còn thấp nhưng  sẽ tăng mạnh trong tương lai

Tỷ lệ dân đô thị phản ảnh trình độ phát triển của quốc gia. Năm 2005, tỷ lệ dân đô thị của thế giới là 47%. Nếu tính theo các châu, thì châu Âu có tỷ lệ đô thị 74%, châu Á: 38%, châu Phi thấp nhất cũng đạt 36%. Trong khi đó, theo Tổng cục Thống kê, đến năm 2004, tỷ lệ dân đô thị nước ta mới chỉ đạt 26,3%. Ngay vùng Đồng bằng sông Hồng có hai thành phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng, như­ng tỷ lệ dân đô thị lại chỉ có 23,8%. Nhiều tỉnh, tỷ lệ dân đô thị chỉ ch­ưa đến 10% như­: Thái Bình: 7,2%, Hà Nam: 9,6%, Hà Tây: 9%…

Như vậy, về đại thể, Việt Nam vẫn là mảnh đất “tam nông“: Nông thôn, nông nghiệp và nông dân. Đây là cơ sở vật chất xã hội hình thành nên nhu cầu nhiều con và cần có con trai. Quá trình công nghiệp hoá và di dân sẽ kéo theo đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, đô thị sẽ mở rộng và dân số tích tụ trong khu vực đô thị sẽ tăng lên. Bộ mặt lãnh thổ, không gian sẽ thay đổi mạnh mẽ.

Khuyến nghị 5:

- Cần có kế hoạch mở rộng phát triển các đô thị lớn để chủ động đón dòng di cư ­đến, đồng thời kết hợp xây dựng đô thị vừa và nhỏ, tạo điều kiện phân bố dân c­ư hợp lý. Tính đến các dự báo dân số trong quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế xã hội, nhất là quy hoạch xây dựng các công trình như đường sá, cầu cảng, nghĩa trang… để tránh những tổn thất do quy hoạch sai lầm gây nên.

- Tuyên truyền về nếp sống đô thị ở những vùng mới chuyển xã thành phường và cả những vùng đô thị cũ.

Thách thức 6:  Mức sinh đã giảm mạnh nhưng chưa ổn định và còn khác nhau giữa các vùng

Tỷ suất sinh thô của Việt Nam có xu hướng giảm, đặc biệt giảm nhanh từ năm 1993 trở lại đây (Bảng 6).


Bảng 6: Tỷ suất sinh thô (CBR) ở Việt Nam, 1957-2006                                                                                            

Đơn vị : Phần nghìn

Năm

CBR

Năm

CBR

Năm

CBR

Năm

CBR

1957

44,0

1992

30,04

1997

22,8

2002

18,2

1969

36,3

1993

25,8

1998

21,5

2003

17,5

1974

34,5

1994

25,2

1999

19,9

2004

18,7

1979

32,5

1995

23,9

2000

19,2

2005

18,6

1989

30,1

1996

22,8

2001

18,6

2006

17,4

Nguồn: Uỷ ban các vấn đề xã hội của Quốc hội: Vấn đề dân số hôm nay, 1998

TCTK: Kết quả điều tra DS-KHHGĐ 1-4 hoặc 1-10 hàng năm

 


Bảng 7: Số con trung bình của một phụ nữ (TFR), 1969 - 2005

Giai đoạn

TFR

Giai đoạn

TFR

Năm

TFR

1969-1974

6,1

1991-1992

3,9

2002

1,90

1974-1979

4,8

1992-1993

3,5

2003

2,12

1986-1987

4,2

1993-1994

3,1

2004

2,23

1987-1988

4,0

1992-1996

2,7

2005

2,21

1988-1989

3,8

1999

2,3

2006

2,09

Nguồn:

 Nguyễn Thiện Trưởng (Chủ biên) Dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội,-2004

TCTK: Kết quả điều tra DS-KHHGĐ 1-4 hoặc 1-10 hàng năm


Chỉ tiêu thứ hai cũng thường được sử dụng để phản ảnh mức sinh là Tổng tỷ suất sinh, ký hiệu TFR (Total fertility Rate) hay Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49). Tương tự  như tỷ suất sinh thô, số con trung bình của mỗi phụ nữ Việt Nam cũng không ngừng giảm xuống (Bảng 7).

Việc mỗi phụ nữ, từ chỗ sinh đẻ 6-7 con đến chỉ đẻ 2 con, chắc chắn có ảnh hưởng rất lớn  không chỉ đến sức khoẻ, học vấn, việc làm, thu nhập địa vị xã hội của họ mà còn ảnh hưởng tích cực tới việc nuôi, dạy con cái, hạnh phúc gia đình, sự phát triển của cộng đồng và xã hội.

Năm 2004, có khoảng 75,7% các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ đang sử dụng biện pháp tránh thai. Ở mức này, nói chung đã có thể đạt được mức sinh “thay thế”, nghĩa là trung bình mỗi người phụ nữ khi hết tuổi sinh đẻ có 2 con. Nhu cầu phương tiện, dịch vụ tránh thai sẽ ngày càng lớn.

Số liệu Bảng 6 và Bảng 7 cũng cho thấy xu hướng giảm sinh không ổn định. Từ năm 2003 đến nay, mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 "nhích lên" đôi chút. Đã có nhiều lý giải nguyên nhân của hiện tượng "gia tăng dân số trở lại", trong đó có tác động của Điều 10 Pháp lệnh Dân số. Tuy nhiên, thời gian còn ngắn để đánh giá tác động này (quy mô, đối tượng, nhất thời hay lâu dài….), và lại tỷ lệ tăng dân số vẫn tiếp tục giảm: Năm 2003: 1,47%, năm 2004: 1,44%, năm 2005: 1,33%. 

Mặt khác, mức sinh có sự khác biệt lớn giữa nông thôn, thành thị, giữa các vùng địa lý kinh tế, các tỉnh và giữa các nhóm xã hội.

Khuyến nghị 6:

- Tôn trọng quyền tự quyết của các cặp vợ chồng đồng thời tác động mạnh thông qua tư vấn, dịch vụ và các chính sách khuyến khích.

- Chú trọng chất lượng tư vấn và dịch vụ để giữ vững tỷ lệ tránh thai, mức sinh đã đạt được, tức là Chương trình KHHGĐ đi vào chiều sâu hơn là bề rộng.

- Cung ứng đầy đủ và liên tục phương tiện và dịch vụ KHHGĐ có chất lượng cao.

- Chương trình KHHGĐ cần có sự tập trung, ưu tiên trước hết cho Tây Nguyên, Tây Bắc, Duyên hải miền Trung nói riêng và nông thôn nói chung.

Thách thức 7:  Mức chết thấp và ổn định nhưng có sự khác nhau đáng kể giữa các vùng

Năm 2006, tỷ suất chết thô (số người chết tính trên 1000 dân trong năm) của toàn quốc là 5,3 phần nghìn - vào loại thấp trên thế giới. Tuy nhiên, ở Tây Bắc, tỷ lệ này cao gấp 1,5 lần Đông Nam Bộ. Đặc biệt là tỷ lệ chết trẻ sơ sinh rất khác nhau giữa các vùng. Nếu như tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 8 phần nghìn thì ở Tây Bắc là 30 phần nghìn! Tuổi thọ trung bình ở nước ta không ngừng được nâng cao, hiện đã đạt khoảng 71 tuổi.

Khuyến nghị 7:

- KHHGĐ ở miền núi phải đồng thời với việc ưu tiên xây dựng và thực hiện chính sách bảo vệ và chăm sóc trẻ em, giảm thấp tỷ lệ tử vong sơ sinh nói riêng và tỷ lệ tử vong trẻ em nói chung.

- Tuyên truyên bảo vệ môi trường, giữ cho đất  sạch, nước sạch, không khí sạch.

- Tuyên truyền, hướng dẫn cách bảo vệ, chăm sóc thai sản, trẻ sơ sinh và trẻ em, đặc biệt ở miền núi.

- Phát hiện, đấu tranh, phê phán hủ tục có hại cho sức khoẻ, đặc biệt là sức khoẻ bà mẹ, trẻ em.

Thách thức 8:  Chất lượng dân số có cải thiện nhưng vẫn chưa cao.

Chỉ số phát triển con người (The Human Development Index - HDI) có thể coi là một chỉ báo về chất lượng dân số. Chỉ số này cao nhất là 1, thấp nhất là 0.

Như vậy, HDI của nước ta không ngừng tăng lên, tuy nhiên so với thế giới, thứ hạng vẫn còn rất thấp.

Chất lượng dân số cũng còn biểu hiện qua thể lực, trí lực và tâm lực  của con người.

Bảng 8. Chỉ số phát triển con người (HDI) của nước ta hàng năm, như sau

Năm

Giá trị HDI

Thứ hạng

1992

0,539

120/174

1993

0,540

121/174

1994

0,557

121/174

1995

0,560

121/174

1996

0,664

110/174

1998

0,671

108/174

1999

0,682

101/162

2000

0,688

109/173

2001

0,688

109/175

2003

0,704

108/177

2004

0,709

109/177

UNDP, “ Báo cáo phát triển con người”, 1995-2006

 

Về thể lực: Trên phạm vi toàn quốc, theo Điều tra y tế quốc gia 2002: Tỷ lệ trẻ sơ sinh nặng dưới 2500 gram là 5,6%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thuộc diện thấp còi (thấp hơn so với lứa tuổi): 33%; Trẻ em có cân nặng theo tuổi thấp 25,7%, béo phì: 1,3%. Năm 2004, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi vẫn còn cao, ở mức 26,6%, đặc biệt là ở khu vực Tây Nguyên, Tây Bắc. Ngược lại, ở khu vực thành thị lại có tỷ lệ trẻ em béo phì. Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng, có 4,9% số trẻ từ 4-6 tuổi tại Hà Nội và 6% trẻ dưới 5 tuổi, 22,7% trẻ đang học cấp I ở thành phố Hồ Chí Minh bị thừa cân, béo phì.

Ngoài ra, năm 2005, cả nước còn 5,3 triệu người  tàn tật, bị mắc bệnh bẩm sinh, bị ảnh hưởng chất độc màu da cam, chiếm 6,34% dân số, ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi.

Về trí lực: 1,5% dân số thiểu năng về thể lực và trí lực. Năm 2003, lao động của Việt Nam có: 4,5% mù chữ, 47% mới chỉ có trình độ Tiểu học, 30% tốt nghiệp THCS và 18,5% tốt nghiệp THPT. 79% lao động từ 15 trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Khu vực nông thôn, tỷ lệ này lên tới 87%, trong khi đó những lao động có trình độ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 1,58%.

Về tâm lực: Tội phạm, tiêu cực xã hội có xu hướng gia tăng. Trong đó, trẻ em làm trái pháp luật tăng lên - Nỗi nhức nhối của gia đình và xã hội. Theo thống kê, trên cả n­ước, số trẻ em vào tr­ường giáo dư­ỡng và số bị khởi tố hình sự  có xu h­ướng không ngừng tăng lên. Cụ thể là:


Năm                                                                    

1994

1996

1998

2000

Số trẻ em vào tr­ường giáo dưỡng                    

120

533

1.360     

1.467


Số bị khởi tố hình sự, giai đoạn 1990-1994, trung bình mỗi năm có 2.500 ng­ười chưa thành niên bị khởi tố chiếm 3,4% trong tổng số tội phạm bị khởi tố, thì giai đoạn 1995-1998, những con số t­ương ứng là 4.600 và 11,3%! Đó là ch­ưa kể số trẻ em h­ư và hàng vạn trẻ em lang thang, nghiện hút, mại dâm…

Khi trong gia đình có trẻ em h­ư, trẻ em vào trường giáo dư­ỡng, bị khởi tố hình sự thì gia đình đâu còn hạnh phúc và đâu còn sự phát triển bền vững? Rõ ràng, KHHGĐ và kinh tế phát triển thì số con ít đi, mức sống tăng lên, nhiệm vụ trọng tâm và khó khăn nhất của các gia đình đã chuyển từ nuôi con sang dạy con, từ chăm sóc thể chất chuyển sang chăm sóc về trí tuệ, tinh thần.

Khuyến nghị 8:

Cần xây dựng chính sách dân số hiệu quả nhằm cải thiện nòi giống Việt Nam, thông qua yêu cầu về sức khoẻ khi kết hôn, tư vấn, kiểm soát về gen, trước hết đối với nhóm có nguy cơ cao.

Nên bổ xung mục tiêu “mỗi gia đình có 2 con” (đã đạt đ­ược) như “2 con chất l­ượng cao” hay “2 con khoẻ mạnh, có giáo dục và được đào tạo”. Cần tuyên truyền cho các bậc cha mẹ thấy đ­ược ý nghĩa của b­ước chuyển này và t­ư vấn cho họ có kỹ năng thực hiện việc nuôi, dạy con cái. Đây cần đ­ược coi là nhiệm vụ mới của các cộng tác viên dân số – gia đình và trẻ em. Sớm nghiên cứu, phổ biến, triển khai thực hiện Điều 21 Pháp lệnh dân số: “ Biện pháp nâng cao chất  l­ượng dân số”.

Thách thức 9:  Quy mô gia đình nhỏ hơn nhưng phức tạp và dễ “vỡ” hơn.

Gia đình là tế bào của xã hội. Mỗi gia đình thịnh vượng, hạnh phúc góp phần làm cho xã hội thịnh vượng, ổn định và phồn vinh. Quy mô trung bình của một gia đình Việt Nam đã giảm từ 5,2 người (1979) xuống 4,8 người (1989) và 4,5 người (2001). Năm 1994, gia đình hạt nhân, tức là gia đình chỉ có vợ chồng hoặc bố mẹ và các con chiếm tới 67,4% tổng số gia đình. Kế hoạch hoá gia đình và hạt nhân hoá gia đình là nguyên nhân chính làm cho quy mô gia đình ngày càng nhỏ đi.

Quy mô gia đình nhỏ góp phần đáng kể vào việc phát triển kinh tế gia đình, tạo điều kiện xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Thực tế này đã được kiểm định thông qua các cuộc Điều tra mức sống dân cư.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường và xã hội, sự hội nhập quốc tế và giao l­ưu văn hoá ­diễn ra mạnh mẽ đang đặt gia đình tr­ước những thách thức mới mà hậu quả là tính ổn định, tính bền vững giảm đi. Những hiện tượng quan hệ tình dục trước hôn nhân, đồng tính luyến ái, hôn nhân thử nghiệm, kết hôn muộn, sống độc thân, ly thân đặc biệt l số cặp vợ chồng ly hôn hàng năm không ngừng tăng lên và mang tính “đột biến”, tức là gia đình dễ “vỡ” hơn. Theo thống kê của Toà án nhân dân tối cao, giai đoạn 1977 - 1982, trung bình mỗi năm có 5.672 vụ ly hôn. Trong khi đó, chỉ riêng năm 1991 đã có  22.000 vụ, năm 1994: 34.376 vụ, năm 1995: 35.684 vụ, năm 1996: 44.063 vụ, năm 2000: lên tới 51.361 vụ,  năm 2002: 56.478 vụ, gấp 10  lần so với giai đoạn 1977 – 1982.

Ngay ở một tỉnh thuần nông như Hà Tây nhưng năm 1998 có 11.890 cặp kết hôn thì có 2.017 cặp ly hôn và 902 cặp đ­ược hoà giải. Điều này có nghĩa cứ 100 cặp kết hôn thì có khoảng 17 cặp ly hôn và 8 cặp đư­ợc hoà giải hay 25% gia đình tan vỡ hoặc mâu thuẫn nghiêm trọng.

Chúng ta hãy xem bức tranh gia đình thành phố Hồ Chí Minh năm 1998:

Kết hôn: Cứ 8 người kết hôn thì có 1 người lấy người nước ngoài!

Ly hôn: Cứ 5 người kết hôn lại có hơn 1 người ly hôn.

Cứ 3 đứa trẻ được sinh ra thì 1 đứa là con ngoài giá thú.

Các số liệu khác: 10% ông bố bà mẹ không quan tâm đến sở thích của con, 5,4% hoàn toàn bỏ bê “giọt máu” của mình, 5% không biết quan hệ bạn bè của con!... (Nguồn: Uỷ ban Các vấn đề xã hội của quốc hội. Các vấn đề dân số hôm nay. Số 2/1999).

Thành phố Hồ Chí Minh là biểu tượng của Hội nhập, mở cửa và phát triển kinh tế thị trường, nơi có mức sống cao nhất. Phải chăng càng phát triển, thì gia đình càng phức tạp hơn (có yếu tố nước ngoài, “con anh, con em, con chúng ta”, chỉ có ông bà và các cháu, có người sa vào tệ nạn xã hội, sự khác biệt về giá trị giữa các thế hệ...), và càng mong manh, “dễ vỡ ” hơn? Có thể dự báo rằng, cùng với nạn khan hiếm phụ nữ ở các nước láng giềng, sự gia tăng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, du lịch, di cư lao động quốc tế... hôn nhân có yếu tố nước ngoài sẽ tăng lên ở nước ta. Rõ ràng, tính phức tạp, tính không bền vững của gia đình là thách thức đi cùng sự phát triển kinh tế-xã hội.

Khuyến nghị 9:

- Đẩy mạnh phát triển kinh tế gia đình. Đồng thời tăng cư­ờng cơ sở pháp lý, tư vấn, giáo dục văn hoá kết hôn, văn hoá gia đình và văn hoá  ly hôn. Chú trọng cơ sở pháp lý, chính sách đối với gia đình có yếu tố nước ngoài.

Tăng c­ường tuyên truyền, t­ư vấn, h­ướng dẫn, giáo dục về cuộc sống gia đình để gia đình ngày càng bền vững, hạn chế ly hôn.

Tuyên truyền những giá trị của gia đình hiện đại, phê phán những “thói hư, tật xấu” của gia đình gia trưởng để gia đình Việt Nam có thể chuyển đổi từ gia đình gia trưởng sang gia đình hiện đại mà không đổ vỡ.

Thách thức 10: Sức khoẻ sinh sản đang đứng trước những thách thức mới, gay gắt

Khi nói đến sức khoẻ sinh sản, người ta muốn đề cập các nội dung sau:

(1) KHHGĐ, (2) Làm mẹ an toàn (3) Phòng tránh nạo phá thai, nạo phá thai  an toàn;

(4) Các bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS, (5) SKSS vị thành niên;

(6) Ung thư cơ quan sinh dục, (7) Vô sinh.

Sự phát triển kinh tế, du lịch, di dân, xã hội cởi mở hơn, các sản phẩm văn hoá độc hại, thanh niên xây dựng gia đình muộn hơn,...cũng tạo ra những thách thức đối với SKSS.

Ở nước ta cần chú ý một số tình trạng SKSS sau:

-          Nạo phá thai:

Chuyên gia Bộ Y tế đánh giá số ca nạo phá thai hàng năm bằng số ca sinh. Riêng số ca nạo phá thai tại các cơ sở y tế Nhà nước như sau: Năm 1992: 1,33 triệu; 1993: 1,20 triệu; 1994: 1,25 triệu; 1995: 1,20 và 1996: 1,22 triệu... (Nguồn: Nguyễn Thiện Trưởng (Chủ biên) Dân số và phát triển bền vững ở Việt Nam. NXB Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2004; trang 23). Nước ta được xếp vào nhóm nước có mức nạo phá thai cao nhất trên thế giới. Những năm gần đây số ca nạo phá thai tại các cơ sở y tế nhà nước đã giảm. Chẳng hạn, tỷ lệ nạo phá thai ở phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ năm 2003 là 1,7%, năm sau đã giảm xuống còn 1,2%. Tuy nhiên, cần chú ý rằng tỷ lệ sinh của nước ta cũng giảm. Vì vậy, tỷ số  giữa số ca nạo phá thai và số ca sinh vẫn cao, đặc biệt là số ca nạo phá thai ở tuổi vị thành niên và thanh niên trẻ.

-          Viêm nhiễm đường sinh sản khá phổ biến

Tỷ lệ viêm nhiễm đường sinh sản ở nữ nông thôn, dao động từ 32,8% đến 70,56% (Dân số và Phát triển số 2/2005, trang 41). Một nghiên cứu mới đây tại Bệnh viện phụ sản tỉnh Thanh Hoá cho thấy: 66% phụ nữ đến khám và quản lý thai nghén ở đây bị viêm đường sinh dục dưới. Tỷ lệ này ở Bệnh viện phụ sản Trung ương là 72%. (Nguồn: Tin nhanh Việt Nam, 14/7/2005). 

Đặc biệt là số nhiễm HIV/AIDS lớn và đang tăng nhanh.

Trong điều kiện mại dâm, ma tuý phát triển, các bệnh lây theo đường tình dục, trong đó có HIV/AIDS là một hiểm hoạ lớn cho đất nước. Hầu hết những người nhiễm HIV/AIDS trong độ tuổi lao động. Vì vậy, đây là tổn thất lớn về cả phương diện kinh tế và xã hội.

-          Tỷ lệ vô sinh ở nước ta khá cao

Theo GS Nguyễn Khắc Liêu, tỷ lệ này tới 13%! (Sức khoẻ và Đời sống, số 27, trang 28, năm 1998). Theo kinh nghiệm thế giới, vô sinh tăng dần theo quá trình phát triển.

Khuyến nghị 10:

- Cần chuyển từ KHHGĐ sang chăm sóc sức khoẻ sinh sản toàn diện. Điều này có nghĩa là xây dựng chính sách quốc gia về sức khoẻ sinh sản lấy KHHGĐ làm cốt lõi, đồng thời giải quyết theo thứ tự ưu tiên các nội dung cấp bách khác của sức khoẻ sinh sản mà tr­ước hết là giảm phá thai, ngăn chặn các bệnh lây nhiễm qua đ­ường tình dục, HIV/AIDS, đáp ứng nhu cầu kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Các cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ  của mình đẩy mạnh việc cung cấp dịch vụ dân số với nội dung nh­ư khoản 13 Điều 3 Pháp lệnh dân số quy định.

- Tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản (KHHGĐ; Làm mẹ an toàn; Phòng tránh phá thai, phá thai an toàn; Phòng ngừa các bệnh lây truyên qua đường tinh dục, trong đó có HIV/AIDS; Sức khoẻ sinh sản vị thành niên; Vô sinh)

- Quyền được chăm sóc sức khoẻ sinh sản.

Như vậy, sau nhiều năm thực hiện Chương trình Dân số-KHHGĐ, tình hình dân số nước ta đã có nhiều chuyển biến tích cực: Mức sinh giảm mạnh, hiện đã gần đạt mục tiêu "mỗi cặp vợ chồng 2 con" tạo cơ hội ổn định dân số. Quy mô gia đình nhỏ góp phần phát triển kinh tế, cải thiện địa vị phụ nữ; "Cơ cấu dân số vàng" đã xuất hiện, chất lượng dân số nâng cao liên tục, mức chết giảm thấp, mức chết trẻ em giảm nhanh....Tuy nhiên, lại nảy sinh một số xu hướng mới: Sự mất cân đối giới tính của trẻ em; ly hôn, nạo phá thai; HIV/AIDS tăng lên; chất lượng dân số chưa cao... Phát hiện đầy đủ những đặc điểm, những xu hướng biến đổi dân số ở nước ta là cơ sở để hoạch định chính sách dân số hữu hiệu trong thời gian tới góp phần phát triển bền vững đất nước.<




* Viện trưởng Viện dân số và các vấn đề xã hội (Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nôị)