TÌNH HÌNH BỆNH TẬT CỦA NGƯỜI CAO TUỔI

VIỆT NAM QUA MỘT SỐ NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC

TẠI CỘNG ĐỒNG

PGS. TS. PHẠM THẮNG*

 


*Giới thiệu

Chúng ta đang chứng kiến một cuộc cách mạng về tăng tuổi thọ trên phạm vi toàn thế giới. Trong thế kỷ qua, tuổi thọ trung bình của loài người đã tăng thêm hơn 30 năm. Đây là một trong những thành tựu vĩ đại nhất của loài người. Thành tựu này, cùng với sự tăng nhanh của dân số trong nửa đầu thế kỷ 21 đồng nghĩa với số người cao tuổi trên thế giới sẽ tăng từ 600 triệu người năm 2000 lên 2 tỷ người năm 2025. Tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng từ 10 lên 15%. Các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỷ lệ người cao tuổi tăng cao nhất và nhanh nhất. Mặc dù hiện tại, cấu trúc dân số của nước ta vẫn thuộc loại trẻ, song tỷ lệ người cao tuổi đang có xu hướng tăng nhanh. Theo dự báo sẽ tăng gấp đôi từ 8,1% năm 1999 lên đến 16,6% năm 2029.

Sự già hoá dân số có tác động sâu sắc tới mọi khía cạnh của cá nhân, cộng đồng, quốc gia và cộng đồng quốc tế. Liên quan đến mọi mặt của đời sống con người: xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá, tâm lý và tinh thần.

Ngành y tế cũng sẽ phải đương đầu với những thách thức mới. Cùng với sự gia tăng của tuổi thọ trung bình, mô hình bệnh tật của nước ta cũng đang thay đổi nhanh chóng. Một mặt chúng ta vẫn phải đương đầu với các bệnh lây truyền, thì mặt khác, chúng ta đang phải đối phó với sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh không lây nhiễm. Chi phí y tế cho người cao tuổi sẽ tăng lên nhanh chóng, điều này đặc biệt quan trọng nếu chúng ta biết là bình quân chi phí y tế cho một người cao tuổi cao gấp 7 lần so với một người ở nhóm tuổi trẻ. Một nghiên cứu gần đây cho thấy, chi phí y tế cho nhóm người trên 75 tuổi chiếm tới 30% tổng ngân sách y tế của một quốc gia.

Để tìm hiểu thực trạng người cao tuổi Việt Nam để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi, Viện Lão khoa đã tiến hành một nghiên cứu dịch tễ học có quy mô lớn với tên gọi: “Điều tra dịch tễ học về tình hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc y tế và xã hội của người cao tuổi Việt Nam” với mục tiêu:

- Đánh giá nhu cầu chăm sóc Y tế và xã hội của người cao tuổi;

- Tìm hiểu mô hình bệnh tật của người cao tuổi;

- Đánh giá một số chỉ tiêu sinh học ở người cao tuổi.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 3 xã, phường thuộc ba miền Bắc, Trung, Nam: Phường Phương Mai (Hà Nội), xã Phú Xuân (Huế) và xã Hoà Long (Bà Rịa- Vũng Tàu).

Tổng số đối tượng nghiên cứu là 1305 người cao tuổi. Tuổi thấp nhất là 60, cao nhất là 97, Tuổi trung bình là 70,44+-7,54. Được chia thành hai nhóm tuổi: Nhóm 60-74 tuổi và nhóm >=75 tuổi.

Trong đó nam giới là 509 cụ (39%) và nữ giới là 796 cụ (61%)

Để đánh gia tình hình mắc bệnh, Viện lão khoa đã cử các bác sỹ xuống khám bệnh cho các cụ ngay tại địa phương. Ngoài khám lâm sàng nội khoa thông thường, Viện còn sử dụng các phương tiện như máy điện tâm đồ, sinh hoá máu và nước tiểu, siêu âm... Nội dung khám bao gồm 10 mục lớn: Xác định các chỉ tiêu nhân trắc học (chiều cao, cân nặng, BMI, kích thước các vòng đo, bề dầy lớp mỡ dưới da, cơ lực...), khám tim mạch, tâm thần kinh, nội tiết - chuyển hoá, thận tiết niệu, tiêu hoá, hô hấp, xương khớp, mắt và tai mũi họng.

Kết quả nghiên cứu

Dưới đây trình bày một số kết quả về tình hình mắc bệnh của người cao tuổi tại cộng đồng.

Bệnh tim mạch: Nổi bật là bệnh tăng huyết áp (HA 140/90 mmHg), tỷ lệ mắc bệnh THA là 45,6%. Không có sự khác biệt giữa nam và nữ. Tỷ lệ THA ở nhóm tuổi 75 là 54,6%, cao hơn một cách rõ rệt so với nhóm 60-74 là 42,0%. Tỷ lệ THA tâm thu đơn độc là 24,8%. Có 18,5% người cao tuổi bị tụt huyết áp tư thế. Thứ hai là bệnh mạch vành: 9,9% người cao tuổi có bệnh mạch vành, biểu hiện bằng đau ngực trên lâm sàng và thay đổi trên điện tâm đồ. Tỷ lệ suy tim là 6,7%, chủ yếu ở những người có THA, suy vành, bệnh van tim. Suy tĩnh mạch chi dưới cũng thường gặp: tỷ lệ STMCD là 16,1%.

Bệnh tâm thần kinh: Nổi bật là tình trạng sa sút trí tuệ (dementia). Tỷ lệ SSTT trong nghiên cứu này là 4,9%. Nữ giới có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nam giới, 5,7% so với 3,9%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Nhóm >= 75 tuổi có tỷ lệ SSTT là 9,8%, cao hơn hẳn so với tỷ lệ 3,9 % ở nhóm 60-74. Các bệnh tâm thần kinh khác hay gặp là trầm cảm (1,2%); Bệnh Parkinson (1,3%).

Bệnh nội tiết – chuyển hoá: Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường chung cho toàn bộ mẫu nghiên cứu là 5,3%. Tỷ lệ có rối loạn đường huyết đói (Impaired Fasting Glucose) là 6,8%. Nếu tính gộp cả hai loại này thì tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ là 12,1%. Tỷ lệ có rối loạn lipid máu (bất thường một trong bốn thành phần CT toàn phần, triglycerid, LDL-C và HDL-C) là 45%. Nữ giới có tỷ lệ rối loạn lipid máu cao hơn nam giới, 48,1% so với 40,3%, p< 0,01. Tỷ lệ béo phì (BMI 23) là 18,3%.

Bệnh thận tiết niệu: Tỷ lệ nam giới bị u tuyến tiền liệt (chẩn đoán dựa vào siêu âm) là khá cao: 63,8%. 35,7% có rối loạn tiểu tiện dựa vào thang điểm “Đánh giá triệu chứng u tuyến tiền liệt của hội niệu khoa Hoa kỳ”. 3,3% các cụ có viêm đường tiết niệu, sỏi thận là 3,5%.

Bệnh tiêu hoá hay gặp là: Loét dạ dầy tá tràng: 15,4%, viêm đại tràng: 9,7%; nuốt nghẹn: 10,2% và táo bón: 16,1%, tỷ lệ táo bón ở nhóm tuổi 60-74 là 14,1%, tăng lên 21,3% ở nhóm tuổi 75, p<0,01. Nữ giới hay bị táo bón hơn nam giới, 18,5% so với 12,3%, p<0,01.

Bệnh hô hấp: Hay gặp là bệnh phổi phế quản tắc nghẹn mãn tính (COPD): 12,6%, tỷ lệ nam giới mắc bệnh này cao hơn hẳn so với nữ giới, 16,8% so với 10%, p<0,001. Tuổi càng tăng, tỷ lệ này càng cao: 10,8% ở nhóm tuổi 60-74, tăng lên tới 17,2% ở nhóm tuổi 75, p<0,01. Tỷ lệ mắc bệnh lao phổi là 3,6%, hen phế quản là 2,5%.

Bệnh xương khớp: Bệnh xương khớp hay gặp nhất là thoái khớp : 33,9%. Nữ giới hay mắc bệnh thoái khớp hơn nam giới, 42,2% so với 20,8%, p<0,001. Tỷ lệ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp là 9%. Loãng xương là 10,4%. Nữ giới bị loãng xương nhiều hơn nam giới, 14,4% so với 4,2%.

Bệnh về giác quan: Kiểm tra thị lực cho thấy có tới 76,7% các cụ có giảm thị lực. Tuổi càng cao thì tỷ lệ giảm thị lực càng tăng, 70,3% ở nhóm tuổi 60-74 tăng lên tới 93% ở nhóm tuổi 75, p<0,001. Tỷ lệ đục thuỷ tinh thể là 57,9% (49,3% ở nhóm tuổi 60-74 và 79,6% ở nhóm tuổi 75). Tỷ lệ các cụ có giảm thính lực là 40,1%.

Kết luận

Qua điều tra trên 1305 người cao tuổi tại cộng đồng chúng tôi thấy:

- Tỷ lệ mắc các bệnh mãn tính khá cao. Các nhóm bệnh thường gặp theo thứ tự giảm dần là: Bệnh về giác quan, tim mạch, xương khớp, nội tiết-chuyển hoá, tiêu hoá, tâm thần kinh, hô hấp, thận tiết niệu.

- Người cao tuổi thường mắc nhiều bệnh đồng thời. Trung bình, một người cao tuổi mắc 2,69 bệnh. <




* Viện Lão khoa