QUYẾT ĐỊNH CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC VÀ QUỐC VỤ VIỆN TRUNG QUỐC VỀ

TĂNG CƯỜNG TOÀN DIỆN CHƯƠNG TRÌNH DÂN SỐ VÀ KHHGĐ


Ngày 17/12/2006 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện Trung Quốc cùng ban hành Quyết định tăng cường chương trình Dân Số và Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ) (dưới đây gọi tắt là “Quyết định”). Quyết định này là một tài liệu có ý nghĩa chiến lược chỉ đạo chương trình DS-KHHGĐ trong thời đại mới, đánh dấu chương trình DS-KHHGĐ của Trung Quốc (TQ) bước vào giai đoạn mới ổn định mức sinh thấp, giải quyết các vấn đề dân số (DS) một cách toàn diện và thúc đẩy sự phát triển con người toàn diện. Quyết định có 9 phần, dưới đây tóm tắt nội dung chính.

I. Nhận thức rõ tầm quan trọng và tính bức thiết của việc tăng cường toàn diện công tác DS-KHHGĐ ở Trung Quốc.

       Từ khi thực hiện chương trình KHHGĐ đến nay, TQ đã ngăn được hơn 400 triệu trường hợp sinh, thực hiện sớm quá độ nhân khẩu học mang tính lịch sử làm giảm bớt áp lực của DS đối với tài nguyên và môi trường, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội.

Hiện nay, nhìn chung chương trình DS-KHHGĐ TQ là rất tốt. Tuy nhiên tình hình DS TQ đang lộ ra một cục diện hết sức phức tạp chưa từng có, mức sinh thấp đang có nguy cơ hiện thực không giữ được. Nửa đầu thế kỷ 21 sẽ chứng kiến các kỷ lục về tổng số dân, DS trong độ tuổi lao động và DS già. Trong hàng chục năm tới, do đà dân số vẫn tăng mạnh, mỗi năm dân số vẫn tăng khoảng 8 đến 10 triệu người; chất lượng DS nói chung vẫn ở mức thấp khó đáp ứng được yêu cầu cạnh trạnh quyết liệt; Dân số trong độ tuổi lao động to lớn gây áp lực về việc làm, DS già hoá ngày càng nặng nề gây áp lực cho hệ thống an sinh xã hội chưa từng có; tỷ số giới tính lúc sinh luôn ở mức cao, dẫn đến tiềm năng đe dọa sự ổn định xã hội; dân số lưu động (dân di cư – N.D.) vẫn liên tục gia tăng là một thách thức to lớn đối với sự phân bổ nguồn lực; DS nghèo đa dạng hoá tiếp tục gây khó khăn cho sự phát triển xã hội cân bằng. Tóm lại, tình trạng DS đông, nguồn lực tính theo đầu người có hạn, áp lực nặng nề của DS đối với sự phát triển kinh tế và xã hội, quan hệ căng thẳng giữa DS và tài nguyên/môi trường là những những mâu thuẫn căn bản mà công cuộc xây dựng xã hội phồn vinh toàn diện, xây dựng xã hội hài hoà, xã hội chủ nghĩa phải đối mặt.

II. Kiên trì đi theo con đường giải quyết các vấn đề DS mang mầu sắc Trung Quốc.

Chương trình DS-KHHGĐ của TQ trong 30 năm qua đã tích luỹ được rất nhiều kinh nghiệm thực tiễn, đó là: Cần kiên trì thực hiện lâu dài quốc sách căn bản của KHHGĐ, ổn định và hoàn thiện chính sách DS và chính sách sinh đẻ; Kiên trì chính sách lồng ghép giữa DS và phát triển, thực hiện vai trò chủ đạo của Đảng và chính quyền trong công tác DS-KHHGĐ; Kiên trì nguyên tắc kết hợp giữa sự chỉ đạo của chính quyền và quần chúng tự nguyện, kết hợp thông tin-giáo dục-truyền thông (IEC) và lợi ích; Kết hợp quản lý hành chính và quần chúng tham gia, kết hợp thúc đẩy chung và chỉ đạo. Tăng cường và hoàn thiện chương trình DS-KHHGĐ, thúc đẩy phát triển con người toàn diện; Tiếp tục đổi mới lý luận, đổi mới thể chế, đổi mới quản lý, đổi mới khoa học/kỹ thuật, không ngừng nâng cao trình độ hành chính của công tác DS-KHHGĐ, trình độ quản lý xã hội và dịch vụ công; Tiếp tục kiên trì mở cửa học hỏi để triển khai trao đổi và hợp tác quốc tế về DS và phát triển, xây dựng hình tượng một nước đông dân nhưng có trách nhiệm.

Trọng điểm và khó khăn của công tác DS-KHHGĐ là ở nông thôn. Sức sản xuất ở nông thôn chưa phát triển, dịch vụ công còn lạc hậu, hệ thống an sinh xã hội chưa kiện toàn, quan niệm sinh con của nhân dân vẫn chưa thay đổi căn bản, cơ sở hạ tầng phát triển không đồng đều, quản lý di chuyển nhân khẩu thiếu những phương pháp hiệu quả, ổn định mức sinh thấp phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, những vấn đề cơ bản về cơ cấu của DS ngày càng nổi cộm. Do vậy, cần phải tiếp tục triển khai phát triển kinh tế và xã hội ở cả thành thị và nông thôn, coi nông thôn là ưu tiên hàng đầu trong việc ổn định mức sinh thấp, giải quyết các vấn đề DS toàn diện, đưa công tác DS-KHHGĐ ở nông thôn vào chương trình tổng thể xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa.

III. Nỗ lực ổn định mức sinh thấp

Ổn định mức sinh thấp là nhiệm vụ quan trọng nhất của công tác DS-KHHGĐ trong giai đoạn mới. Phân tích tổng hợp xu thế phát triển kinh tế, xã hội và DS của TQ, đến cuối kế hoạch 5 năm lần thứ 11, tổng DS của TQ (không bao gồm Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan) phải khống chế ở mức dưới 1,36 tỷ dân; đến năm 2020, tổng DS phải khống chế khoảng 1,45 tỷ dân với tổng tỷ suất sinh ổn định ở mức thấp hơn mức sinh thay thế.

Do vậy, cần phải kiên trì quốc sách về KHHGĐ, ổn định chính sách sinh đẻ hiện hành; Đảng và Nhà nước phải trực tiếp lãnh đạo, chịu trách nhiệm chính, ổn định cơ cấu, đội ngũ công tác DS-KHHGĐ, không ngừng sáng tạo thể chế, cơ chế, biện pháp và phương pháp của công tác DS-KHHGĐ.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách hướng lợi ích đối với công tác DS-KHHGĐ do Chính phủ chỉ đạo cùng nỗ lực của toàn xã hội. Các gia đình thực hiện KHHGĐ đem lại lợi ích cho quốc gia, nhà nước cần ưu tiên cho các gia đình được hưởng thành quả của cải cách và phát triển. Triển khai toàn diện chế độ hỗ trợ xã hội cho các gia đình ở nông thôn chấp nhận KHHGĐ và chương trình “Sinh ít con, nhanh giầu”. Thực hiện chế độ khen thưởng cho cha mẹ chỉ sinh một con và chế độ dịch vụ KHHGĐ cơ bản nên miễn phí. Tích cực thăm dò xây dựng chế độ trợ giúp gia đình con một không may bị tàn tật hoặc tử vong, khen thưởng những người sử dụng biện pháp tránh thai lâu dài, bảo hiểm phẫu thuật tránh thai, khen thưởng phụ nữ ở thành phố dùng biện pháp tránh thai 1 lần. Giúp đỡ các cặp thực hiện KHHGĐ phù hợp với điều kiện cứu trợ xã hội thông qua các chế độ bảo hiểm mức sống thấp nhất và cứu trợ y tế ở thành phố và nông thôn, chăm sóc người già, chế độ cứu trợ sinh hoạt cho các gia đình đặc biệt khó khăn ở nông thôn. Về phương diện đào tạo và việc làm, kết hợp y tế, xoá đói giảm nghèo, phân chia đất đai, nước sạch vệ sinh, ứng dụng khí ga mêtan, thúc đẩy áp dụng kỹ thuật mới, các bộ ngành liên quan phải ban hành và hoàn thiện các chính sách ưu tiên ưu đãi đối với các hộ thực hiện KHHGĐ đặc biệt là đối với các gia đình sinh con một ở nông thôn.

Kiên trì quản lý theo pháp luật; nghiêm túc xử lý các hành vi vi phạm luật DS, bất cứ ai vi phạm đều bị phạt; Nếu gây ảnh hưởng nghiêm trọng sẽ bị công khai xử lý; Nếu là Đảng viên, cán bộ thì càng bị xét xử nặng hơn.

IV. Chú trọng nâng cao chất lượng dân số khi sinh

Mỗi năm TQ có khoảng 1 triệu ca trẻ sơ sinh khuyết tật, tỷ lệ vào khoảng 4%-6%. Tỷ lệ trẻ khuyết tật tăng cao không những làm cho khuyết tật khi sinh và tàn tật ngày càng trở thành vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng dân số, đồng thời cũng đưa đến gánh nặng trầm trọng cho gia đình và xã hội.

Nhằm nâng cao chất lượng dân số, cơ cấu dịch vụ kỹ thuật DS-KHHGĐ phải kết hợp chặt chẽ trên mọi lĩnh vực với cơ cấu y tế chăm sóc sức khoẻ, tích cực tuyên truyền và phổ cập kiến thức khoa học về dự phòng khuyết tật khi sinh, thực hiện KHHGĐ an toàn, tăng cường tư vấn và hướng dẫn trước hôn nhân, tích cực triển khai công tác chăm sóc sức khoẻ trước hôn nhân, trước và trong khi mang thai, khám và chẩn đoán trước và sau khi sinh, kiểm tra bệnh tật và hồi phục của trẻ sơ sinh; khuyến khích sinh tại bệnh viện và nuôi con bằng sữa mẹ, cung cấp các thiết bị y tế thiết yếu và đỡ đẻ an toàn cho các bà mẹ nghèo.

Tăng cường kiểm tra sức khoẻ trước kết hôn, phòng tránh các bệnh xã hội và bệnh AIDS, dự phòng truyền bệnh AIDS từ mẹ sang con.Tiến hành nghiên cứu, đánh giá và can thiệp vào các nguy cơ ảnh hưởng đến khuyết tật khi sinh như nhân tố di truyền, hoàn cảnh xã hội, lối sống không lành mạnh. Tăng cường phổ cập kiến thức khoa học về chăm sóc trẻ sơ sinh và giáo dục gia đình; triển khai giáo dục sớm cho trẻ; chú trọng giáo dục và bồi dưỡng hành vi xã hội cho trẻ là con một.

V. Giải quyết triệt để vấn đề chênh lệch giới tính khi sinh quá cao

Tỷ số giới tính khi sinh quá cao trong thời gian quá dài sẽ ảnh hưởng đến ổn định xã hội, quan hệ đến lợi ích thiết thực của đa số người dân. Phải giải quyết những vấn đề hiện hành và nguyên nhân sâu xa của tỷ số giới tính khi sinh không bình thường. Triển khai sâu rộng các hoạt động “Chăm sóc trẻ em gái”, “Tuyên truyền các quan niệm mới về hôn nhân và sinh đẻ tới mọi gia đình”. Trọng tâm là xoá bỏ phân biệt giới tính, tuyên truyền sâu rộng quan niệm hôn nhân văn minh như bình đẳng nam nữ, sinh ít, sinh tốt, phổ cập kiến thức pháp luật về bảo vệ quyền lợi bà mẹ trẻ em. Ban hành các chính sách kinh tế, xã hội có lợi cho sự trưởng thành khoẻ mạnh của các em gái và sự phát triển của phụ nữ, thực hiện nam nữ bình đẳng trong việc làm và tham gia các hoạt động kinh tế, xã  hội. Khen thưởng cho các gia đình thực hiện KHHGĐ sinh con gái và có sự ưu tiên trong các hoạt động xoá đói giảm nghèo, cứu trợ từ thiện, vay vốn ưu đãi, sắp xếp việc làm... Nghiêm cấm hành vi xác định giới tính thai nhi và phá thai lựa chọn giới tính phi pháp. Xây dựng chế độ quản lý siêu âm, đăng ký phá thai, khám thai và quá trình sinh đẻ. Hoàn thiện chế độ quản lý chứng nhận chứng chỉ hành nghề và siêu âm. Quản lý theo đơn các loại thuốc tránh thai khẩn cấp và thuốc phá thai.

VI. Không ngừng hoàn thiện hệ thống quản lý và cung cấp dịch vụ cho dân số di cư

Quy mô dân số lưu động của Trung Quốc rất lớn. Làm tốt công tác quản lý và dịch vụ cho dân số lưu động, thực hiện di dân có trật tự và phân bố hợp lý là rất quan trọng đối với cải cách, phát triển, ổn định đất nước và ổn định mức sinh thấp lâu dài. Cần cải cách thể chế quản lý và cung cấp dịch vụ cho dân số lưu động. Xây dựng chế độ đăng ký nhân khẩu thống nhất cả thành thị và nông thôn, kiện toàn chế độ đăng ký dân số và thống kê hộ tịch, thực hành chế độ thẻ cư trú đối với dân số lưu động. Đưa công tác quản lý và dịch vụ cho dân số lưu động vào chương trình phát triển kinh tế và xã hội ở địa phương, thúc đẩy sự hoà nhập dân số lưu động vào cuộc sống thành thị. Giải quyết khó khăn thực tế của dân số lưu động về các mặt như việc làm, chăm sóc y tế, định cư, con cái đi học, dần dần hoà nhập những người ra thành phố tìm việc vào hệ thống an sinh xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.

Xây dựng thể chế mới quản lý thống nhất và dịch vụ có chất lượng cho công tác sinh đẻ có kế hoạch của dân số lưu động. Dân số lưu động được tính vào tổng số dân của địa phương đến, thực hiện chế độ kiểm tra cả ở nơi đi và nơi đến, lấy mục tiêu quản lý chính là nơi đến. Hoàn thiện cơ chế quản lý và mạng lưới dịch vụ sinh đẻ có kế hoạch của dân số lưu động, phân bố nhân viên chuyên trách hoặc kiêm nhiệm tới các khu dân cư. Nơi đến cần áp dụng nguyên tắc phục vụ bình đẳng giữa dân số lưu động và dân số thường trú, đưa quản lý dịch vụ sinh đẻ có kế hoạch của dân số lưu động vào công việc hàng ngày, cung cấp các dịch vụ miễn phí bình đẳng như người thường trú. Đưa kinh phí quản lý dịch vụ sinh đẻ có kế hoạch của dân số lưu động vào dự toán tài chính các cấp. Tăng cường chế độ đăng ký dân số lưu động ở khu vực dân cư.

VII. Tích cực ứng phó với tình trạng già hoá dân số

Hiện nay, Trung Quốc đã bước vào xã hội có DS già, số dân từ 60 tuổi trở lên đã lên đến 144 triệu người, chiếm 11,03 % tổng số dân. Cần phải xây dựng các chính sách và quy hoạch chiến lược cho người cao tuổi, từng bước xây dựng và phổ biến viện dưỡng lão ở thành thị cũng như nông thôn làm trọng điểm để xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội, hệ thống phục vụ dưỡng lão lấy chăm sóc tại nhà làm cơ sở, lấy dịch vụ trong cộng đồng làm điểm tựa.

Thành phố phải từng bước hoàn thiện chế độ an sinh tuổi già với sự kết hợp giữa xã hội và cá nhân, hình thành hệ thống bảo hiểm tuổi già đa cấp ở thành thị. Tích cực phát triển ngành nghề phục vụ phù hợp với người già, tạo cơ hội cho người già tham gia các hoạt động xã hội theo khả năng. Nâng cao tỷ trọng cơ cấu phục vụ dưỡng lão trong quy hoạch thành phố, bố trí địa điểm và thiết bị cho người già trong khu dân phố vui chơi, ban hành chính sách ưu đãi, khích lệ xã hội tham gia xây dựng các loại hình dưỡng lão.

Tiến tới xã hội hoá phục vụ như tình nguyện chăm sóc người già, tích lũy về già, bảo hiểm nhân thọ... Tích cực biểu dương truyền thống tốt đẹp như con cái chăm sóc ông bà, dưỡng lão tại gia, hàng xóm tương trợ. Tăng cường giám sát qua dư luận, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi từ chối chăm sóc hoặc ngược đãi cha mẹ. Tích cực phát triển các ngành nghề phục vụ người già, phát triển thị trường sản phẩm và dịch vụ thoả mãn nhu cầu đặc biệt của người già.

VIII. Đảm bảo tăng đầu tư có hiệu quả cho công tác DS-KHHGĐ

Sự nghiệp DS-KHHGĐ là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của chính phủ thực hiện chức năng quản lý xã hội và dịch vụ công cộng. Đầu tư của nhà nước cho sự nghiệp DS-KHHGĐ là sự đầu tư cơ bản bảo đảm sự ổn định, thúc đẩy phát triển. Cần phải tăng cường đầu tư  về các mặt như tài chính, cơ sở hạ tầng, nhân lực và khoa học/kỹ thuật, bảo đảm cho sự nghiệp DS-KHHGĐ phát triển bền vững. Xây dựng cơ chế bảo đảm đầu tư tăng trưởng ổn định. Tốc độ tăng trưởng đầu tư tài chính vào công tác DS-KHHGĐ phải cao hơn tốc độ tăng trưởng thu nhập tài chính hiện hành, đảm bảo giải ngân kinh phí để xây dựng chính sách khen thưởng ưu đãi, xây dựng cơ bản cơ cấu dịch vụ kỹ thuật DS-KHHGĐ ở xã, huyện, xây dựng đội ngũ công tác sinh đẻ hoạt động bình thường. Tài chính đầu tư của các cấp phải gia tăng theo từng năm. Kinh phí bình quân đầu người cho công tác DS-KHHGĐ từ cơ sở trong cả nước sẽ tăng từ 10 nhân dân tệ (NDT) ở cuối thời kỳ 5 năm lần thứ 10 tăng lên 22 NDT năm 2010, tiếp tục áp dụng như thời kỳ 5 năm lần thứ 10 là trích ra bình quân đầu người 8 NDT trong kinh phí chi cho công tác DS-KHHGĐ từ tài chính của các cấp, khi đó nguồn tài chính của các cấp dành cho công tác DS-KHHGĐ bình quân đầu người sẽ là 30 NDT. Khích lệ các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và các cá nhân đầu tư vào chương trình DS-KHHGĐ. Tích cực vận dụng cơ chế thị trường, áp dụng các phương thức gây quỹ, phát triển các loại bảo hiểm mới, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Tăng cường kiểm tra và giám sát, nghiêm khắc xử lý các hành vi phạm pháp trong công tác giải ngân quỹ khen thưởng ưu đãi, thu chi, quản lý và sử dụng phí bảo trợ xã hội. 

Thúc đẩy xây dựng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) cho ngành DS-KHHGĐ, phát huy tối đa tác dụng của hệ thống mạng thông tin DS-KHHGĐ từ trung ương đến tỉnh, thành, huyện, xã, thôn; triển khai và vận dụng hệ thống ứng dụng tổng hợp như quản lý vĩ mô chương trình DS-KHHGĐ, dự doán xu thế tăng DS, dự báo cảnh báo an toàn DS, phục vụ quản lý cơ sở, quản lý tổng hợp DS lưu động, quản lý thông tin ưu đãi khen thưởng, hoàn thiện xây dựng và triển khai vận dụng nguồn thông tin quan hệ đến các vấn đề trọng đại phát triển kinh tế, xã hội như số lượng, chất lượng, cơ cấu, phân bố, dân số di cư, việc làm và tình trạng nghèo của DS, nâng cao tính khoa học của quyết sách DS-KHHGĐ và quản lý xã hội, chất lượng phục vụ công cộng.

IX.Tăng cường công tác lãnh đạo chương trình DS-KHHGĐ

Công tác DS-KHHGĐ trong thời kỳ mới là hết sức quan trọng. Cán bộ lãnh đạo Đảng và chính quyền các cấp phải nhận thức rõ tính lâu dài và gian nan trong việc ổn định mức sinh thấp, nhận thức rõ tính phức tạp và tính bức thiết trong giải quyết vấn đề DS, nhận thức rõ cơ hội chiến lược và điều kiện có lợi do sự phát triển kinh tế xã hội đem lại cho DS-KHHGĐ, kiên quyết khắc phục tư tưởng lạc quan mù quáng và buông lỏng quản lý, thiết thực tăng cường tính kiên định, chủ động, sáng tạo để làm tốt công tác DS-KHHGĐ.

Kiện toàn quyết sách giải quyết vấn đề DS và cơ chế điều phối. Chính quyền và Đảng uỷ các cấp phải đưa công tác DS-KHHGĐ vào chương trình nghị sự hàng ngày, nghiên cứu giải quyết vấn đề trọng đại, hoàn thành nhiệm vụ quan trọng, tăng cường tính toán hài hoà và đốc thúc kiểm tra. Đưa các chiến lược DS và phát triển lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế và xã hội. Đưa công tác DS-KHHGĐ vào những vấn đề thuộc phạm vi giám sát của Trung ương Đảng. Chính quyền, Đảng uỷ các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc hàng năm phải làm báo cáo về DS-KHHGĐ của địa phương mình gửi lên trung ương.

Tăng cường xây dựng hệ thống pháp luật về DS-KHHGĐ toàn diện, hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành, nghiêm túc thực hiện “Luật DS-KHHGĐ”.

Ổn định, kiện toàn cơ cấu và đội ngũ công tác ở cơ sở. Đảm bảo sự ổn định cơ cấu và nhân viên công tác DS-KHHGĐ trong chương trình cải cách tổng hợp ở nông thôn và quy hoạch hành chính ở thành thị, không được tự ý huỷ bỏ hoặc thay đổi tính chất cơ cấu. Nhanh chóng cải cách thể chế quản lý DS-KHHGĐ. Căn cứ quy mô dân số thường trú để bố trí cán bộ DS-KHHGĐ. Cương vị công tác DS-KHHGĐ ở cấp huyện, xã là đặc thù và nhiệm vụ nặng nề gian khó, phải thực hiện chế độ tiền lương và đãi ngộ xã hội cho nhân viên DS-KHHGĐ ở cơ sở theo đúng quy định. Cơ cấu phục vụ kỹ thuật DS-KHHGĐ là phục vụ công ích nên kinh phí được bảo đảm từ tài chính địa phương. Tuyển chọn nhân viên ưu tú có cả đức cả tài, đào tạo nguồn cán bộ cho ban DS-KHHGĐ, đối với những cán bộ ưu tú nổi bật cần chú ý đào tạo và sử dụng.

Tăng cường công tác thông tin-giáo dục-truyền thông về DS-KHHGĐ. Các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, phát thanh, truyền hình, Internet, đặc biệt là các phương tiện truyền thông chính cần phải ban hành quy hoạch, áp dụng các hình thức linh hoạt đa dạng, sinh động để tuyên truyền sâu rộng phương châm và chính sách DS-KHHGĐ, tổng kết kinh nghiệm tiên tiến và điển hình, mở rộng tính phổ biến và sức ảnh hưởng của công tác tuyên truyền. Các trường trung học và cao đẳng phải đưa DS-KHHGĐ, sức khoẻ sinh sản vào nội dung chương trình hoặc mở các buổi toạ đàm chuyên đề. Sử dụng sự kiện văn hoá và tuyên truyền ở cơ sở nông thôn hoặc khu dân cư ở thành thị, triển khai các hoạt động văn hoá có liên quan đến dân số để phát động phong trào.

Tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực DS-KHHGĐ, mở rộng đối thoại giữa các nước giầu và nghèo (Bắc-Nam), xúc tiến hợp tác giữa các nước nghèo (Nam-Nam), xây dựng quan hệ đối tác tôn trọng lẫn nhau cùng nhau phát triển, tranh thủ sự quan tâm và ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Tích cực tham gia hỗ trợ quốc tế và tham gia ban hành các quy tắc quốc tế trong lĩnh vực DS và phát triển. Tuân thủ Chương trình hành động của Hội nghị quốc tế về DS và Phát triển (ICPD) và tinh thần Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của LHQ, đẩy mạnh phát triển quyền con người, nâng cao trình độ bảo đảm quyền con người.

Quân giải phóng nhân dân TQ và Công an Nhân dân dựa trên tinh thần Quyết định này để ban hành riêng các quyết định về chương trình Dân số và KHHGĐ cho ngành dựa trên quyết định này.<

Đức Hiến biên dịch theo bản gốc Trung văn

và tham khảo bản tiếng Anh