CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA HÀN QUỐC

 

Quá trình phát triển: Chính sách dân số Hàn Quốc có thể được chia thành 3 giai đoạn chính:

1962-1996: Giảm gia tăng dân số với trọng tâm là chương trình KHHGĐ

Năm 1962 chương trình KHHGĐ chính thức được triển khai. KHHGĐ, sau khi Chính phủ Hàn Quốc đưa chương trình KHHGĐ vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và Liên đoàn KHHGĐ Hàn Quốc được thành lập vào năm 1961. Đây là một ưu tiên hàng đầu của quốc gia dựa trên lập luận rằng phát triển kinh tế mạnh đòi hỏi phải hạ tỷ lệ sinh. Chương trình KHHGĐ của Hàn Quốc được thực hiện thông qua hệ thống y tế toàn quốc, và hiện tại là một phần của chương trình sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và tăng cường sức khoẻ nhân dân thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi. Trong giai đoạn đầu, chương trình tập trung vào cung cấp thông tin và dịch vụ tránh thai qua các nhân viên KHHGĐ của trung tâm y tế và những bác sỹ tư nhân được phép cung cấp dịch vụ. Lý do huy động nhân lực là để tập trung vào khu vực nông thôn nơi có mức sinh cao và người dân chưa biết sử dụng các biện pháp tránh thai. Đình sản, bao cao su và màng ngăn được đưa vào chương trình. Khẩu hiệu của chương trình là: Sinh ít con và nuôi dạy con tốt.

Năm 1964, vòng tránh thai được đưa vào chương trình. Các đội KHHGĐ lưu động được thành lập tại vùng sâu, vùng xa.

Năm 1968, Liên đoàn KHHGĐ Hàn Quốc tổ chức Câu lạc bộ phụ nữ thực hiện KHHGĐ tại các vùng nông thôn. Thuốc uống tránh thai được đưa vào chương trình.

Năm 1971, thành lập Viện Nghiên cứu KHHGĐ Hàn Quốc; khẩu hiệu của chương trình là: Dù trai hay gái, hãy dừng lại ở 2 con.

Năm 1973, ban hành Luật Sức khoẻ, cho phép nạo thai vì lý do y học.

Năm 1974, đưa giáo dục dân số vào trường học; miễn thuế thu nhập cho các gia đình có không quá 3 con.

Năm 1976, thành lập Uỷ ban Soạn thảo Chính sách Dân số; Các trung tâm y tế cấp quận đều có cán bộ truyền thông.

Năm 1977, miễn thuế thu nhập cho các gia đình có không quá 2 con; miễn thuế dịch vụ KHHGĐ cho những người làm công; sửa đổi Luật Gia đình về vấn đề thừa kế tài sản của phụ nữ.

Năm 1978, ưu tiên cấp nhà công cho những người có không quá 3 con thực hiện đình sản; khẩu hiệu của chương trình: Một con gái khoẻ mạnh bằng 10 con trai.

Năm 1981, phê duyệt chính sách dân số mới tập trung vào các chính sách hỗ trợ xã hội và tăng cường chương trình KHHGĐ.

Năm 1982, đình sản và vòng tránh thai được cung cấp qua hệ thống bảo hiểm y tế; ưu tiên cho những người có không quá 2 con và thu nhập thấp thực hiện đình sản được vay tiền mua nhà; hỗ trợ tiền cho những người có thu nhập thấp thực hiện đình sản.

Năm 1985, mở rộng bảo hiểm y tế cho bố mẹ của những phụ nữ có gia đinh và bố mẹ chồng/vợ của những công nhân đã có gia đình; tại các vùng nông thôn, nhân viên y tế thực hiện 3 nhiệm vụ: KHHGĐ, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, và phòng chống lao.

Năm 1986, chuyển chiến lược tránh thai từ đình sản sang các biện pháp tạm thời đối với nhóm dân số 21-30 tuổi.

Năm 1987, sửa Luật Y học nghiêm cấm xác định giới tính trước sinh.

Năm 1990, chuyển sử dụng tránh thai miễm phí sang tự chi trả có hỗ trợ của Chính phủ thông qua chương trình bảo hiểm y tế.

Năm 1994, sửa Luật Y học nghiêm trị những cá nhân thực hiện xác định giới tính trước sinh (<= 3 năm tù và phạt 12.500 USD)

1996-2004: Cải thiện chất lượng và phúc lợi dân số

Năm 1996, chuyển từ chính sách giảm sinh sang chính sách chất lượng và phúc lợi dân số. Mục tiêu của chính sách dân số mới này là (1) Duy trì mức sinh và mức chết phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội bền vững; (2) Tăng cường sức khoẻ và phúc lợi gia đình; (3) Đảm bảo cân bằng tỷ số giới tính khi sinh; (4) Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong lực lượng lao động và phúc lợi của họ; (5) Nâng cao sức khoẻ và phúc lợi cho người cao tuổi; (6) Phân bố dân số hợp lý.

2004: Khuyến sinh

Năm 2004, chấp nhận chính sách khuyến sinh. Chính phủ thành lập Uỷ ban về Già hoá và Xã hội Tương lai để xây dựng các chính sách nhằm đối phó với vấn đề mức sinh thấp và già hoá dân số. Những giải pháp gồm: hỗ trợ khi sinh, khuyến khich sinh thêm con, ưu đãi thuế đối với các chi phí nuôi và học hành của con cái.

Năm 2005, phê chuẩn Đạo luật về Mức sinh thấp và Xã hội già hoá.

Chính sách khuyến sinh

Để đối phó với mức sinh thấp, chính sách dân số của Hàn Quốc hiện nay tập trung vào cải thiện hệ thống nhằm giảm thiểu các vấn đề kinh tế-xã hội và văn hoá phù hợp với sự thay đổi của cơ cấu dân số như gia tăng dân số cao tuổi để phục hồi mức sinh. Do vậy, chính sách này sẽ làm chậm lại sự giảm gia tăng dân số và duy trì một cơ cấu dân số để phát triển kinh tế-xã hội một cách bền vững. Mục tiêu của chính sách này là nâng TFR lên 1,6 con/phụ nữ vào những năm đầu 2020.

Theo ước tính, nếu duy trì mức sinh thấp của năm 2006 (TFR = 1,26) dân số Hàn Quốc sẽ đạt đỉnh với 49,3 triệu vào năm 2018, từ 48,1 triệu năm 2005. Sau đó sẽ giảm xuống 42,3 triệu vào năm 2050. Trong khi đó, sẽ mất 18 năm để tỷ trọng người cao tuổi (từ 65 trở lên) tăng từ 7%  (xã hội già hoá) lên 14% (xã hội già) và chỉ 8 năm để tỷ trọng của nhóm dân số này tăng từ 14% lên 26% (xã hội rất già).

Như vậy, Hàn Quốc sẽ bước vào xã hội già hoá nhanh hơn các quốc gia phát triển khác. Tác động tiêu cực của già hoá dân số (do mức sinh thấp) tới nền kinh tế vĩ mô sẽ dẫn đến giảm tỷ trọng dân số hoạt động kinh tế, nguồn nhân lực, tỷ lệ tiết kiệm và làm suy yếu nguồn và năng suất vốn. Hàn Quốc đang nỗ lực cải thiện tình hình và triển khai các biện pháp hữu hiệu bởi mức sinh thấp, quá trình già hoá xảy ra khi mạng lưới an sinh xã hội mới bắt đầu mở rộng.

Theo một điều tra gần đây, nguyên nhân của mức sinh thấp là tình trạng kết hôn muộn và sinh ít ở phụ nữ đã lập gia đình. Những thay đổi này gồm việc thích kết hôn muộn, thay đổi giá trị của hôn nhân, giảm số con, gánh nặng nuôi dạy con (chi phí giáo dục, suy thoái kinh tế, việc làm thiếu ổn định, sự tham gia của phụ nữ trong xã hội, và li hôn tăng).

Chính phủ Hàn Quốc nhận thức rõ tính chất nghiêm trọng của mức sinh thấp, đã thành lập Uỷ ban về Già hoá và Xã hội Tương lai - cơ quan tư vấn cho Tổng thống về các chính sách dài hạn, trung hạn và chiến lược thực hiện liên quan tới mức sinh thấp.

Có 15 bộ liên quan tới các vấn đề trên trong đó Bộ Y tế và Phúc lợi xã hội gần đây đã xây dựng kế hoạch chi tiết về 5 lĩnh vực: Tăng cường đầu tư xã hội đối với nuôi dưỡng thế hệ tương lai; đảm báo cơ sở nuôi dưỡng trẻ em; Đảm báo môi trường làm việc hài hoà giữa gia đình và nơi làm việc; Củng cố trách nhiệm xã hội đối với việc mang thai và sinh đẻ; Tạo môi trường xã hội thân thiện với việc sinh con và gia đình.

Chính phủ đặt ra 7 giải pháp để đạt TFR = 1,6 vào những năm đầu 2020:

1. Tăng đầu tư vào thế hệ tương lai (hỗ trợ tài chính cho việc mang thai, sinh đẻ và nuôi dạy con cái);

2. Mở rộng hạ tầng chăm sóc trẻ em, bao gồm tăng cường các cơ sở công chăm sóc trẻ em trước tuổi đến trường;

3. Xây dựng các môi trường làm việc thuận tiện cho các bà mẹ;

4. Trách nhiệm gia đình và công việc (được hưởng lương khi chăm sóc con cái);

5. Tăng trách nhiệm xã hội đối với việc mang thai và khoẻ mạnh khi sinh

6. Đảm bảo môi trường xã hội thân thiện với gia đình nhằm khuyến khích hôn nhân và sinh con;

7. Tạo lập cơ sở hạ tầng ứng phó với mức sinh thấp, bao gồm hỗ trợ khu vực tư nhân, chính quyền địa phương và đánh giá chương trình.

Tác động của chương trình KHHGĐ

Thực hành KHHGĐ: Hiện tại, tỷ lệ sử dụng tránh thai (CPR) ở Hàn Quốc rất cao, khoảng 80% phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sử dụng một biện pháp tránh thai nào đó (2006), từ 44,2% năm 1976. Trong tổng số phụ nữ tuổi 15-49, 11% đình sản nữ, 20% đình sản nam, 16% đặt vòng tránh thai, 10% bao cao su, 1% thuốc uống tránh thai, 1% thuốc diệt tinh trùng, 2% tính lịch, 5% dùng các biện pháp khác và 20% không sử dụng.

Giảm mức sinh:  Trong gần 5 thập kỷ từ 1962 đến 2007, tổng tỷ suất sinh (TFR) của nước này giảm từ 6,0 con xuống 1,26 con/phụ nữ. Hàn Quốc đã đạt mức sinh thay thế vào năm 1982 tức là 20 năm sau khi thực hiện chương trình. Những năm tiếp theo mức sinh tiếp tục giảm, thấp nhất vào năm 2005 (TFR = 1,08). Với các nỗ lực của chính sách khuyến sinh từ năm 2004, mức sinh gần đây đang tăng nhưng vẫn ở mức thấp.

Biểu 1. Tổng tỷ suất sinh của Hàn Quốc, 1960-2007

 

1960

1983

1985

2000

2005

2006

2007

TFR

6,0

2,08

1,60

1,34

1,08

1,13

1,26

Quá độ nhân khẩu học ở Hàn Quốc xảy ra vào thời kỳ nền kinh tế-xã hội phát triển rất nhanh (1960-1990). Các nhà nghiên cứu cho rằng, cùng với các yếu tố quyết định giảm mức sinh như thực hiện KHHGĐ, nạo thai, và tăng tuổi kết hôn, phát triển kinh tế-xã hội cũng có đóng góp vào quá trình này. 

Giảm tốc độ gia tăng dân số: Dân số Hàn Quốc hiện nay xấp xỉ 49 triệu người, tăng gần gấp đôi từ khi bắt đầu chương trình KHHGĐ vào đầu những năm 1960 (25 triệu). Theo ước tính, quy mô dân số nước này sẽ cao nhất vào năm 2018 với 49,3 triệu và bắt đầu giảm từ sau năm 2020.

 

 

Biểu 2. Dân số Hàn Quốc, 1960-2050

Năm

Tổng dân số (000’)

1960

25.000

1970

31.400

1980

37.436

1990

43.411

2000

47.008

2010

48.875

2020

49.326

2030

48.635

2040

46.743

2050

42.343

Nguồn: Cục Thống kê Quốc gia Hàn Quốc.

               THU PHƯƠNG tổng hợp theo tài liệu

Cho Nam-Hoon. New challenges of

 the population policy in KoreaUnited Nations. The population of Korea.