TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN QUA KẾT QUẢ

ĐIỀU TRA BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ

                                                                                 PHAN ĐẮC LỘC*

 

Trước năm 2005, các câu hỏi được thiết kế nhằm thu thập thông tin về tình trạng hôn nhân của những người từ 13 tuổi trở lên, kết quả cho thấy tỷ trọng người kết hôn thuộc nhóm 13-14 tuổi là không đáng kể. Do vậy, kể từ năm 2006 – 2008, các cuộc điều tra mẫu biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình hàng năm đã thiết kế chuẩn hóa hai câu hỏi để thu thập tình trạng hôn nhân chỉ đối với  những người từ đủ 15 tuổi trở lên: (i) Tình trạng hôn nhân hiện tại của một người và (ii) tháng năm xảy ra sự kiện đó. Tình trạng hôn nhân của những người từ đủ 15 tuổi trở lên thu được từ cuộc điều tra mẫu 1/4/2008 được thể hiện khái quát qua các nội dung: Xu hướng kết hôn, tuổi kết hôn lần đầu, một số tỷ suất kết hôn, kết hôn của nhóm thanh niên trẻ từ 15-19 tuổi.

Xu hướng kết hôn

Phân bố phần trăm dân số từ đủ 15 tuổi trở lên theo tình trạng hôn nhân tại thời điểm điều tra, nhóm tuổi và giới tính được trình bày trong biểu 2. So với năm 2007, tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên hiện đang có vợ hoặc có chồng có xu hướng tăng lên một chút. Cụ thể, 67% nam giới hiện đang có vợ và 63% phụ nữ hiện đang có chồng. Tình trạng kết hôn là khá phổ biến ở nước ta, nhất là đối với nam giới. Ở nhóm tuổi 50-54, có tới 98,6% nam đã từng kết hôn và 94% nữ đã từng kết hôn. 

Nhìn chung, nữ có xu hướng kết hôn sớm hơn nam. Trong khi chỉ có 1,5% nam giới đã từng kết hôn ở tuổi 15-19, thì tỷ trọng nữ đã từng kết hôn ở nhóm tuổi này là 6,2%. Ở nhóm tuổi 20-24, phần trăm đã từng kết hôn của nữ cao gấp hơn 2 lần của nam (47,2 % so với 22%) và tăng hơn so với năm 2005 (năm 2005: tỷ trọng tương ứng là 42% so với 20%). Dưới 35 tuổi, tỷ trọng chưa từng kết hôn của nữ thấp hơn của nam. Ngược lại, sau tuổi 35, tỷ trọng chưa kết hôn của của nữ cao hơn của nam (Hình 1).

Đối với độ tuổi 15-49, tỷ trọng hiện đang có vợ là 60%, còn tỷ trọng đang có chồng là 65% và đều tăng so với năm 2005 (năm 2005: tỷ trọng tương ứng là 57% và 62%).

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Biểu 1: Phân bổ phần trăm tình trạng hôn nhân của dân số từ 15 tuổi trở lên theo nhóm tuổi và giới tính, Việt Nam 2008.

Nhóm tuổi

Tình trạng hôn nhân

Chưa vợ/chồng

Có vợ/chồng

Góa

Ly hôn

Ly thân

Nam

 

 

 

 

 

15-19

98,5

1,4

0,0

0,0

0,0

20-24

78,0

21,5

0,1

0,2

0,2

25-29

38,6

60,3

0,2

0,6

0,3

30-34

13,5

84,9

0,2

0,9

0,4

35-39

6,4

91,6

0,4

1,1

0,5

40-44

3,4

94,7

0,5

1,0

0,4

45-49

2,1

95,6

0,9

1,0

0,4

50-54

1,4

95,8

1,7

0,8

0,3

55-59

1,0

95,0

2,9

0,7

0,4

60+

0,6

84,1

14,5

0,4

0,4

Tổng số nam 15-49

38,7

60,1

0,3

0,6

0,3

Tổng số nam 15+

29,8

67,1

2,1

0,6

0,3

Nữ

 

 

 

 

 

15-19

93,8

6,0

0,1

0,1

0,1

20-24

52,8

45,9

0,2

0,6

0,4

25-29

20,1

77,4

0,7

1,2

0,5

30-34

9,1

87,3

1,4

1,6

0,5

35-39

6,9

87,7

2,7

2,0

0,7

40-44

6,4

86,1

4,4

2,3

0,8

45-49

6,2

82,8

7,4

2,7

0,9

50-54

5,9

78,3

12,4

2,4

1,0

55-59

5,7

70,6

20,6

2,1

0,9

60+

2,1

43,0

53,5

0,8

0,6

Tổng số nữ 15-49

30,8

65,0

2,2

1,4

0,5

Tổng số nữ 15+

23,3

63,0

11,7

1,4

0,6

 Chung

 

 

 

 

 

Tổng số 15-49

34,7

62,6

1,3

1,0

0,4

Tổng 15+

26,4

65,0

7,1

1,1

0,5

Hôn nhân ở nước ta vẫn có đặc thù là: Tỷ trọng nữ hiện đang có chồng giảm dần ngay sau tuổi 40, còn tỷ lệ nam hiện đang có vợ chỉ bắt đầu giảm sau  tuổi 55.

Hình 1. Phân bố phần trăm chưa vợ, chưa chồng theo nhóm tuổi và giới tính, Việt Nam 2008

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê. Điều tra biến động DS-KHHGĐ, 2008

Tỷ trọng góa có quan hệ tỷ lệ thuận với tuổi, tỷ trọng này tăng lên khi tuổi càng cao. Tỷ trọng góa của nữ tăng theo tuổi nhanh hơn so với của nam. Đối với tất cả các nhóm tuổi, tỷ trọng góa của nữ cao gấp 5 lần con số đó của nam (11,7% so với 2,1%). Với cả 2 giới, tỷ trọng góa của nhóm sau 50 tuổi lớn hơn hai lần so với nhóm tuổi nhỏ hơn liền kề. Chỉ có 17,4% nam giới từ 55 tuổi trở lên là góa vợ, nhưng có đến ba phần tư (74,1%) phụ nữ góa chồng ở cùng nhóm tuổi này.

Kết quả ở biểu 2 cho thấy, có sự khác biệt về xu hướng kết hôn giữa thành thị, nông thôn và các vùng kinh tế - xã hội. Với dân số từ 15 tuổi trở lên, tỷ trọng chưa từng có vợ hoặc có chồng ở khu vực thành thị cao hơn ở nông thôn (28,9% so với 25,4%) và ngược lại, tỷ trọng hiện đang có vợ, có chồng ở nông thôn cao hơn thành thị (66% so với 62,5%). So với năm 2005, tỷ trọng góa của nông thôn cao gấp 2 lần của thành thị (11% so với 6%), số liệu điều tra năm 2008 phản ánh, tỷ lệ góa của nông thôn đã giảm, nhưng vẫn cao hơn thành thị (7,4% so với 6,5%). Mặc dù tỷ lệ ly hôn thấp, song những năm gần đây từ 2005-2007 và kể cả năm 2008, tỷ lệ ly hôn của thành thị cao gấp hai lần của nông thôn (1,6% so với 0,8%). Một trong những nguyên nhân mà người phụ nữ ở thành thị dễ chấp nhận ly hôn hơn do tính độc lập về kinh tế cao hơn so với phụ nữ ở nông thôn. Trong 3 năm qua, tỷ trọng ly thân là không đáng kể và không có khác biệt giữa thành thị và nông thôn (khoảng 0,5%). Con số đó là dưới 1%  đối với cả nam và nữ .

Biểu 2: Phân bổ phần trăm tình trạng hôn nhân của Dân số từ 15 tuổi trở lên theo vùng, thành thị, nông thôn và giới tính, Việt nam 2008.

 

Nơi cư trú/Vùng

Tình trạng hôn nhân

Chưa vợ/chồng

Có vợ/chồng

Góa

Ly hôn

Ly thân

Chung

26,4

65,0

7,1

1,1

0,5

Thành thị

28,9

62,5

6,5

1,6

0,5

Nông thôn

25,4

66,0

7,4

0,8

0,5

Đồng bằng sông Hồng

23,6

67,6

7,5

0,8

0,4

Miền núi và trung du phía Bắc

23,3

69,0

6,4

0,9

0,3

Bắc bộ và duyên hải miền Trung

26,8

63,9

8,3

0,6

0,4

Tây Nguyên

27,3

65,8

5,7

0,8

0,4

Đông Nam bộ

32,7

58,9

6,0

1,8

0,7

Đồng bằng sông Cửu Long

26,2

64,8

7,0

1,4

0,6

Nam

29,8

67,1

2,1

0,6

0,3

Thành thị

31,6

65,0

2,0

1,0

0,3

Nông thôn

29,1

67,9

2,2

0,5

0,3

Đồng bằng sông Hồng

26,8

70,3

2,2

0,5

0,2

Miền núi và trung du phía Bắc

26,8

70,7

1,9

0,4

0,2

Bắc bộ và duyên hải miền Trung

30,7

66,3

2,3

0,4

0,2

Tây Nguyên

31,3

66,5

1,6

0,4

0,2

Đông Nam bộ

35,4

61,3

1,7

1,1

0,5

Đồng bằng sông Cửu Long

29,7

66,5

2,4

0,9

0,5

Nữ

23,3

63,0

11,7

1,4

0,6

Thành thị

26,3

60,1

10,7

2,2

0,6

Nông thôn

22,0

64,2

12,1

1,1

0,6

Đồng bằng sông Hồng

20,7

65,2

12,4

1,1

0,5

Miền núi và trung du phía Bắc

20,2

67,4

10,6

1,4

0,4

Bắc bộ và duyên hải miền Trung

23,3

61,7

13,6

0,9

0,5

Tây Nguyên

23,5

65,0

9,6

1,2

0,6

Đông Nam bộ

30,1

56,6

10,0

2,4

0,9

Đồng bằng sông Cửu Long

23,0

63,2

11,2

1,8

0,7

Nguồn: Tổng cục Thống kê. Điều tra biến động DS-KHHGĐ, 2008.

Trong 6 vùng, vùng Đông Nam bộ là vùng thu hút nhiều lao động trẻ không chỉ của vùng mà của những vùng lân cận. Phần lớn lao động trẻ này chưa kết hôn để muốn có việc làm ổn định, vì vậy tỷ lệ chưa vợ, chưa chồng của vùng này là cao nhất (32,7%), với 35,4% nam giới chưa có vợ và 30,1% nữ giới chưa chồng. Tiếp đến là vùng Tây Nguyên và vùng Bắc bộ và duyên hải miền Trung. Đồng thời, vùng Đông Nam bộ cũng là vùng có tỷ lệ ly hôn cao nhất, tỷ lệ ly hôn của nữ ở vùng này cao hơn 2 lần so với của nam (2,4% so với 1,1%).

Số liệu của biểu 3 trình bày các đặc tính hôn nhân của dân số nước ta thời kỳ 1999-2008, bao gồm phần trăm đã từng kết hôn ở các nhóm tuổi 15-19, 20-24, 45-49 và tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SMAM). Tuổi kết hôn trung bình lần đầu cho biết số năm trung bình của một thế hệ giả định đã sống độc thân trước khi kết hôn lần đầu. Chỉ tiêu này thường được tính riêng cho từng giới. Phần trăm đã từng kết hôn đối với nam giới ở nhóm tuổi trẻ 15-19 có xu hướng giảm nhẹ. Số liệu năm 2008 cho thấy phần trăm đã từng kết hôn đối với nam giới ở nhóm tuổi 20-24 và đối với nữ giới ở cả hai nhóm 15-19 và 20-24 có xu hướng tăng lên so với 5 năm trước đây.

Tuổi kết hôn trung bình lần đầu

BIểu 3:  Tuổi kết hôn trung bình lần đầu, tỷ trọng đã từng kết hôn của các nhóm tuổi 15-19, 20-24, 45-49 chia theo giới tính và chênh lệch SMAM, VIệt Nam 1999-2008

 

Năm     Điều tra

Nam

Nữ

Chênh lệch SMAM (Nam-nữ)

SMAM (năm)

Phần trăm đã từng kết hôn

SMAM (năm)

Phần trăm đã từng kết hôn

15-19

20-24

45-49

15-19

20-24

45-49

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1999

25,4

2,5

30,4

98,5

22,8

9,3

54,3

94,2

2,6

2000

25,7

1,8

28,0

98,5

22,9

7,2

51,9

93,4

2,8

2001

25,7

1,9

28,5

98,6

22,8

8,0

52,6

93,4

2,9

2002

26,0

1,6

24,9

98,2

22,8

7,0

48,3

91,7

3,1

2003

26,2

1,6

23,4

98,5

23,1

6,6

46,2

93,1

3,1

2004

26,7

1,4

20,1

98,0

23,4

6,4

42,7

93,4

3,3

2005

26,8

1,5

19,4

98,2

23,5

6,2

42,1

93,4

3,3

2006

26,6

1,6

21,1

98,0

23,2

6,1

45,4

93,7

3,4

2007

26,6

1,7

21,4

98,0

23,3

6,0

44,9

93,7

3,3

2008

 26,6 

1,5 

 22,0 

97,9 

 23,1 

 6,2 

47,2 

93,8 

 3,4 

Nguồn: Điều tra BĐDS và KHHGĐ 1/4/2006, 2007, 2008. Số liệu điều tra mẫu hàng năm 2007, 2008.

 

Trên toàn quốc, tuổi kết hôn trung bình lần đầu trong những năm qua khá ổn định, khoảng  26,6 - 26,8 đối với nam và  23,1 - 23,5 đối với nữ. Sự khác chênh lệch về SMAM giữa nam và nữ vào khoảng 3,3 - 3,4 năm.

Đối với khu vực thành thị, nông thôn và các vùng kinh tế - xã hội, tuổi kết hôn trung bình lần đầu theo giới tính thể hiện ở biểu 4 dưới đây:

 

Biểu 4: Tuổi kết hôn trung bình lần đầu của nam và nữ, chênh lệch của SMAM giữa nam và nữ chia theo 6 vùng kinh tế-xã hội, Việt Nam 2008

 

Vùng và nơi cư trú

SMAM

Chênh lệch SMAM (Nam-nữ)

Nam

Nữ

TOÀN QUỐC

26,4

23,1

3,3

Thành thị

28,4

24,8

3,6

Nông thôn

25,9

22,5

3,4

Đồng bằng sông Hồng

26,4

22,8

3,6

Miền núi và trung du phía Bắc

24,6

21,8

2,8

Bắc bộ và duyên hải miền Trung

27,2

23,4

3,8

Tây Nguyên

26,0

22,5

3,5

Đông Nam bộ

28,1

24,7

3,4

Đồng bằng sông Cửu Long

26,4

23,0

3,4

            Nguồn: Tổng cục Thống kê. Điều tra biến động DS-KHHGĐ, 2008.

 

Tuổi kết hôn trung bình lần đầu có sự khác biệt theo nơi cư trú. Với cả 2 giới, SMAM của thành thị đều cao hơn của nông thôn. Từ 2006 -2008, SMAM của nam thành thị cao hơn của nam nông thôn là 2,5 năm. SMAM nữ thành thị năm 2006 cao hơn của nữ nông thôn là 2,1 năm và sự khác biệt đó đã tăng lên 2,3 năm vào năm 2008. Chênh lệch của SMAM giữa nam và nữ ở thành thị cao hơn ở nông thôn (3,6 so với 3,4 năm). Điều này phản ánh nam giới thành thị có xu hướng kết hôn muộn hơn nam giới ở nông thôn và nam thành thị chọn vợ kém hơn mình nhiều tuổi hơn so với nam nông thôn.

Số liệu năm 2008 cho thấy, Đông Nam bộ là vùng có tuổi kết hôn trung bình lần đầu cao nhất trong cả nước (28,1 năm đối với nam và 24,7 năm đối với nữ), tiếp sau là vùng Bắc bộ và Duyên hải miền Trung. Vùng có SMAM thấp nhất là vùng Miền núi và trung du Bắc bộ (24,6 năm đối với nam và 21,8 năm đối với nữ), tiếp sau là Tây Nguyên. Các vùng có SMAM thấp là nơi tập trung đông tỷ trọng dân số thuộc các dân tộc ít người. Số liệu cho thấy, vùng nào có SMAM của nam cao thì ở đó SMAM của nữ cũng cao. Nhìn chung, ở đâu có mức độ đô thị hóa cao hơn hoặc kinh tế phát triển hơn thì ở đó người dân kết hôn muộn hơn. 

Về chênh lệch SMAM giữa nam và nữ theo cấp tỉnh, vào năm 1999, chỉ có 5 tỉnh có giá trị từ 3,5 năm trở lên, đến năm 2006, có 8 tỉnh có giá trị này là từ 4 năm trở lên. Năm 2008, có tới 16 tỉnh, thành phố có giá trị này từ 4 năm trở lên, trong đó có 2 tỉnh là: Quảng Trị và Quảng Nam có chênh lệch SMAM giữa nam và nữ đạt 5,1 năm. Điều đó cho thấy rằng, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của cả nam và nữ ở nước ta có xu hướng ngày càng tăng, ngày càng có nhiều nam giới chọn vợ kém hơn mình nhiều tuổi.

Một số tỷ suất hôn nhân

Đối với hôn nhân, người ta thường tính các số đo: (i) Tỷ suất kết hôn (hay còn gọi là tỷ suất kết hôn thô) là số đám cưới trên một nghìn dân vào một năm nào đó và (ii) Tỷ suất ly hôn (hay còn gọi là tỷ suất ly hôn thô) là số vụ ly hôn trên một nghìn dân trong năm.

Cuộc điều tra mẫu về Biến động Dân số - Kế hoạch hóa gia đình và Nguồn lao động 1/4/2008 không thu thập được thông tin về số đám cưới và số vụ ly hôn mà chỉ thu thấp thông tin về năm xảy ra sự kiện dẫn đến tình trạng hôn nhân hiện tại đối với cả nam và nữ. Nếu coi một nửa số người báo cáo kết hôn (hoặc ly hôn) vào năm nào đó là số đám cưới (hoặc số vụ ly hôn), ta có thể tính được các tỷ suất hôn nhân đề cập ở trên.

Một số tỷ suất hôn nhân của các năm 2003, 2004, 2005 được trình bày ở biểu 5. Số liệu cho thấy, tỷ suất kết hôn thô giảm dần từ 6,5 %0 (phần nghìn) năm 2003 xuống 5,7 %0 năm 2005.

Biểu 5: Tỷ suất kết hôn và tỷ suất ly hôn, Việt Nam 2003, 2004 và 2005

Năm

Số người (nghìn người)

Dân số trung bình

(Nghìn người)

Tỷ suất kết hôn (%o)

Tỷ suất ly hôn  (%o)

Kết hôn

Ly hôn

2003

1.049,1

37,5

80.902,4

6,5

0,2

2004

1.038,3

40,2

82.031,7

6,3

0,2

2005

949,3

29,0

83.119,9

5,7

0,2

Nguồn: Điều tra Biến động Dân số-Kế hoạch hóa gia đình 1/4/2006.

Kết hôn tuổi vị thành niên (15 – 19 tuổi)

Số liệu của các cuộc Tổng điều tra Dân số 1999 và các cuộc điều tra mẫu hàng năm đều cho thấy có hiện tượng kết hôn ở tuổi vị thành niên. Biểu 6 đưa ra phần trăm kết hôn ở các độ tuổi từ 15 đến 19 và tuổi kết hôn trung bình lần đầu của vị thành niên năm 2008. Trên phạm vi cả nước, tỷ trọng kết hôn đối với nam giới ở nhóm tuổi 15-19 có xu hướng giảm nhẹ xuống còn 1,5%, đối với nữ con số đó ổn định là 6,2%. Với cả nam và nữ, tỷ trọng kết hôn vị thành niên của nông thôn cao hơn hai lần so với của thành thị. Phần trăm đã từng kết hôn của nữ vào tuổi 18 ở nông thôn là 11,2%, con số đó tăng gấp đôi ở độ tuổi 19 (22,1%). Các con số tương ứng của phụ nữ sống ở thành thị là 5,8% và 11,6%. Mức kết hôn của dân số tuổi 15-19 cũng có sự khác biệt khá rõ theo vùng. Tỷ trọng đã từng kết hôn của cả nam và nữ ở vùng Miền núi và trung du phía Bắc là cao nhất, tiếp theo là Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Biểu 6: Phần trăm đã từng kết hôn của dân số tuổi 15-19 ở từng độ tuổi chia theo vùng, nơi cư trú và giới tính, Việt Nam 2008

Vùng và nơi cư­ trú

Tuổi

SMAM

15

16

17

18

19

15-19

NAM

 

 

 

 

 

 

 

Toàn quốc

0,2

0,3

1,1

2,2

4,6

1,5

19,92

Thành thị

0,0

0,1

0,5

1,0

2,8

0,8

19,96

Nông thôn

0,2

0,4

1,3

2,6

5,3

1,7

19,90

Vùng kinh tế - xã hội

 

 

 

 

 

 

 

Đồng bằng sông Hồng

0,0

0,2

0,3

0,5

1,5

0,4

19,98

Miền núi và trung du phía Bắc

0,8

1,3

3,1

5,4

11,0

3,9

19,78

Bắc bộ và duyên hải miền Trung

0,0

0,1

0,8

1,4

2,6

0,8

19,95

Tây Nguyên

0,4

0,3

1,6

3,3

7,9

2,3

19,87

Đông Nam bộ

0,2

0,0

0,8

1,1

2,9

1,0

19,95

Đồng bằng sông Cửu Long

0,1

0,3

1,0

3,1

6,0

2,0

19,89

NỮ

 

 

 

 

 

 

 

Toàn quốc

0,3

1,2

4,2

9,9

19,2

6,2

19,65

Thành thị

0,1

0,6

2,3

5,8

11,6

3,9

19,80

Nông thôn

0,4

1,4

4,7

11,2

22,1

6,9

19,60

Vùng kinh tế - xã hội

 

 

 

 

 

 

 

Đồng bằng sông Hồng

0,2

0,4

1,4

7,5

16,5

4,4

19,74

Miền núi và trung du phía Bắc

1,2

2,8

7,3

16,2

28,3

10,0

19,44

Bắc bộ và duyên hải miền Trung

0,1

0,8

3,4

6,7

14,5

4,1

19,74

Tây Nguyên

0,8

2,2

5,7

14,1

25,8

8,1

19,51

Đông Nam bộ

0,0

0,6

3,6

7,1

14,0

5,3

19,75

Đồng bằng sông Cửu Long

0,2

1,5

5,8

12,0

23,1

8,1

19,57

 

 

 

 

 

 

 

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê. Điều tra biến động DS-KHHGĐ, 2008

 

Miền núi và trung du phía Bắc, Tây Nguyên là hai vùng có tỷ trọng người dân tộc thiểu số sinh sống khá cao, phong tục tập quán lạc hậu hơn và kinh tế của hai vùng này kém phát triển hơn so với các vùng khác nên điều đó có thể là nguyên nhân dẫn đến mức kết hôn ở tuổi vị thành niên còn tương đối cao. Tỷ trọng đã từng kết hôn ở tuổi 15-19 thấp nhất là ở vùng Đồng bằng sông Hồng đối với nam (0,4%) và ở Bắc bộ và duyên hải miền Trung đối với nữ (4,1%)./.

 



* Vụ Thống kê Dân số-Lao động, Tổng cục Thống kê