ĐỂ DÂN SỐ TRỞ THÀNH NGUỒN LỰC

 CHO PHÁT TRIỂN Ở TRUNG QUỐC

Báo cáo nghiên cứu kết quả thực hiện Chiến lược phát triển dân số quốc gia lần thứ nhất đã khẳng định chính sách kế hoạch hoá gia đình của Trung Quốc trong vòng 30 năm qua đã tránh được trên 400 triệu ca sinh. Trong 30 năm tới dân số Trung Quốc tiếp tục tăng khoảng 200 triệu người và sẽ đạt đỉnh diểm vào năm 2033 với quy mô 1,5 tỷ người.

Theo báo cáo, Trung Quốc đã đạt mức sinh thấp, mức chết thấp, dân số vẫn gia tăng ở mức cao. Để chuyển đổi từ một nước đông dân nhất thế giới sang một nước có nguồn nhân lực có chất lượng vẫn đang là vấn đề nan giải đối với Trung Quốc.

Tăng trưởng bền vững

Vào giữa thập niên 90 thế kỷ XX, Trung Quốc đã đạt mức sinh TFR = 1,8 và vẫn duy trì ở mức này trong nhiều năm qua. Dự báo dân số Trung Quốc sẽ đạt 1,36 tỷ vào năm 2010, 1,45 tỷ vào năm 2020 sau đó đạt mức cao nhất vào năm 2033 với quy mô 1,5 tỷ người. Năm 2000, quy mô dân số trong độ tuổi 15-64 là 860 triệu người và dự kiến sẽ đạt mức cao nhất vào năm 2016 vớii quy mô 1,01 tỷ người. Con số này vượt xa tổng dân số cùng độ tuổi của tất cả các nước phát triển cộng lại. Trong tương lai, còn lâu Trung Quốc mới phải lo thiếu lao động. Tuy nhiên vấn đề nan giải chính là chất lượng và tay nghề của lực lượng lao động khiến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu việc làm còn kéo dài.

Lo ngại về chất lượng nguồn nhân lực

Cần nâng cao chất lượng dân số về mặt thể chất, khoa học và văn hoá. Hàng năm có khoảng từ 200 đến 300 nghìn trẻ sơ sinh bị dị tật bẩm sinh. Số trẻ em sinh ra bị khuyết tật hàng năm vào khoảng 0,8-1,2 triệu chiếm tỷ lệ 4-6% số sinh hàng năm. Trong những năm gần đây, con số này thực tế đang tăng lên, tăng cả số người bị khuyết tật về thể chất và tâm thần ở tất cả các nhóm tuổi của cha mẹ. Tổng số người bị khuyết tật về tâm thần đã tăng lên 5,44 triệu người. HIV và các loại vi rút khác đang lây lan rộng.

Năm 2000 người Trung Quốc trên 15 tuổi có số năm đi học trung bình là 7,85 năm. Cứ 1 triệu người dân thì có 545 người đang học tập và nghiên cứu. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động ở nông thôn đạt trình độ tiểu học, thậm chí chưa tốt nghiệp tiểu học là khá cao, 47,6%. Vấn đề đặt ra là nền giáo dục của Trung Quốc quá chú trọng giáo dục phổ thông mà không chú trọng dạy nghề.

Có một số ít người mất niềm tin và lý tưởng sống. Những hành vi phi đạo đức ngày càng phổ biến. Nhiều người thiếu trách nhiệm công dân. Chất lượng dân số về mặt thể chất, khoa học, văn hoá và đạo đức của người Trung Quốc đã trở thành những yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh và sự nghiệp hiện đại hoá đất nước.

Dân số già hoá nhanh

Dân số già hoá với tốc độ rất nhanh. Cứ 3-4 người dân Trung Quốc thì có 1 người già. Nhóm dân số già có quy mô lớn hơn ở các vùng nông thôn. Trung Quốc là quốc gia có số người già nhiều nhất thế giới. Hiện tại có khoảng 143 triệu người trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ 11% dân số cả nước. Vào năm 2020, quy mô dân số già trên 80 tuổi sẽ là 22 triệu và vào năm 2050 sẽ là 83 triệu người.

Dân số già hoá nhanh ở Trung Quốc sẽ tạo áp lực lớn đối với an sinh xã hội và các dịch vụ công cũng như ảnh hưởng đến sự hài hoà các mối quan hệ giữa các thế hệ. Trung Quốc đang phải đối mặt với tình cảnh thiếu một hệ thống phúc lợi hưu trí cho dân cư nông thôn và lớp trẻ di cư ồ ạt ra thành phố.

Mất cân bằng giới tính khi sinh

Số nam giới tuổi từ 20 đến 45 đã nhiều hơn số nữ cùng độ tuổi là 30 triệu. Sự mất cân bằng này đe doạ vấn đề hôn nhân. Kết quả điều tra mẫu 1% năm 2005 cho thấy cứ 100 đứa bé gái được sinh ra thì có 118 bé trai chào đời. Tỷ lệ giới tính khi sinh cả ở khu vực thành thị và nông thôn ngày càng trầm trọng.

Vào năm 2020, nam giới tuổi 20-45 sẽ nhiều hơn so với nữ giới cùng độ tuổi khoảng 30 triệu người. Trong giai đoạn này, số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sẽ rất lớn dẫn đến làm tăng số trẻ em sinh ra hàng năm. Ngoài ra có gần 100 triệu người là con một được sinh ra từ khi Trung Quốc áp dụng chính sách 1 con nay bước vào độ tuổi sinh đẻ. Với chính sách ”mềm” hơn của Trung Quốc, gia đình của hai vợ chồng đều là con một có thể sinh hai con. Những yếu tố này sẽ làm tăng mức sinh của dân số Trung Quốc.

Mức sinh thấp hiện nay của Trung Quốc chưa bền vững. Còn khoảng cách khá xa giữa số con mong muốn và chính sách hiện hành của Chính phủ. Ở hầu hết các vùng, mức gia tăng dân số cho thấy mức sinh có thể tăng trở lại bất cứ lúc nào. Do có sự chuyển đổi chức năng của Chính phủ, những diễn biến xã hội diễn ra nhanh, việc sử dụng nguồn nhân lực ngày một nhiều hơn nên các biện pháp quản lý hành chính trước đây không còn thích ứng. Ở nhiều vùng người dân không nhận thức được tính khó khăn phức tạp và lâu dài của chính sách kế hoạch hoá gia đình. Hệ thống quản lý toàn diện dân số chưa được kiện toàn. Những thiếu xót cũng như tác động trở lại của môi trường quốc tế có thể dẫn đến mức sinh tăng trở lại.

Chiến lược phát triển dân số

Trong báo cáo, nhóm nghiên cứu đánh giá kết quả thực hiện chiến lược dân số quốc gia đã chỉ rõ các mục tiêu chiến lược phát tiển dân số quốc gia là kiểm soát dân số và nâng cao chất lượng dân số. Chiến lược thực hiện theo 3 bước:

            - Vào năm 2010: Cải thiện đáng kể chất lượng dân số; Bảo đảm mọi người dân được sử dụng các dịch vụ y tế cơ bản; Phổ cập chính sách 9 năm giáo dục phổ thông bắt buộc; Giảm tỷ lệ đói nghèo; Kiểm tra sự mất cân bằng giới tính đang tăng; Thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn đang có xu hướng ngày càng tăng; Cải thiện điều kiện sống.

            - Vào năm 2020: Cải thiện cơ bản chất lượng dân số; Bảo đảm chăm sóc sức khoẻ tốt hơn; Giảm quy mô dân số nghèo và cận nghèo; Đưa tỷ lệ giới tính khi sinh về mức tự nhiên; Xoá bỏ khoảng cách giữa thành thị và nông thôn; Cải thiện cơ bản điều kiện sống của người dân.

            - Vào năm 2050: Chấm dứt gia tăng dân số và giảm dần quy mô dân số; Bảo đảm bình quân thu nhập đầu người của người dân Trung Quốc đạt mức của nước phát triển trung bình. Nâng cao chất lượng và sức khoẻ của người dân Trung Quốc, phân bố dân cư hợp lý và tạo được cơ cấu việc làm hợp lý; Bảo đảm thực hiện những tiến bộ chung và phát triển đồng đều ở cả thành thị và nông thôn; Tạo môi trường thân thiện và môi trường sống hiện đại; Về cơ bản là một quốc gia hiện đại hoá.

                                                                                                THANH HẰNG lược dịch

                                                                        Nguồn: People’s Daily Online