CẦN NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

VÀ TIẾN BỘ PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA

                                                                                                            THẢO VÂN*

Bình đẳng giới là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển của xã hội. Đó vừa là mục tiêu của sự phát triển, vừa là yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng kinh tế đất nước. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm, tạo mọi điều kiện để phụ nữ nâng cao trình độ về mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trong xã hội. Tính pháp lý về bình đẳng giới ngày càng được hoàn thiện với sự ra đời của Nghị quyết 11/NQ/TƯ của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Luật Bình đẳng giới; Luật phòng, chống bạo lực gia đình và các chương trình phối hợp liên ngành nhằm đảm bảo quyền của phụ nữ và thúc đẩy bình đẳng giới. Bên cạnh đó, bộ máy Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới đang được kiện toàn.

Theo báo cáo về khoảng cách giới toàn cầu năm 2008 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, tỷ lệ phụ nữ tham gia Quốc hội nước ta xếp thứ 31 trên thế giới và dẫn đầu các nước ASEAN có Nghị viện, đồng thời, khoảng cách giới trong lĩnh vực giáo dục đã ngày càng được thu hẹp, đạt 0,894 so với mức độ bình đẳng được quy định là 1; Chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số giới (GDI) lần lượt đứng vị trí 105 và 109 trong số 177 nước… Với những  thành tựu trên, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh nhất về xoá bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Nam á.

Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn không ít người, trong đó có cả một bộ phận lãnh đạo vẫn chưa hiểu đúng/hiểu hết về khái niệm, mục tiêu và ý nghĩa của bình đẳng giới dẫn đến những tồn tại, hạn chế trong quá trình triển khai thực hiện Kế hoạch hành động quốc gia (KHHĐ QG) vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam như sau:

Vấn đề bình đẳng giới trong lao động, việc làm

Mặc dù, tỷ lệ lao động nữ trong tổng số lao động mới được giải quyết việc làm tăng lên và có khả năng vượt chỉ tiêu Kế hoạch hành động quốc gia là 50% lao động nữ trong tổng số người được tạo việc làm mới, nhưng lao động nữ chủ yếu vẫn chiếm số đông ở những lĩnh vực không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp và việc làm bấp bênh, độ rủi ro cao.

Hiện nay, trong các ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu lao động, nhưng sự chuyển dịch này vẫn còn những bất bình đẳng. Mặc dù số lao động trong lĩnh vực nông – lâm - ngư nghiệp có chiều hướng giảm, nhưng xét về cơ cấu giới tính, thì số lao động nữ được giải quyết việc làm mới chiếm tỷ lệ cao trong khu vực nông – lâm nghiệp, thủy sản, còn trong khu vực công nghiệp – xây dựng là 36% và khu vực thương mại – dịch vụ chiếm 56,4%.

Điều tra lao động việc làm 1/7/2007 của Tổng cục Thống kê cho thấy thu nhập giữa lao động nam và nữ vẫn chênh lệch rất lớn. Trong tất cả ngành nghề, lĩnh vực, thu nhập của nữ chỉ bằng 74,5% so với thu nhập của nam giới.

Vấn đề bình đẳng giới trong giáo dục – đào tạo

Sự chênh lệch về cơ hội học tập của trẻ em gái và phụ nữ nông thôn và dân tộc thiểu số đang là những thách thức luôn phải đối mặt trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo. Tại các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vẫn còn nhiều trẻ em đi học không không đúng tuổi thích hợp. Chất lượng giáo dục tại nhiều trường tiểu học vẫn chưa tốt. Nếu như, trẻ em gái tốt nghiệp tiểu học ở khu vực đồng bằng, thành thị hiện nay được vào trung học cơ sở không còn là mối lo ngại thì ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vẫn còn là vấn đề phải quan tâm. Công tác xóa mù chữ cho phụ nữ lứa tuổi từ 15 đến dưới 40 hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số. Báo cáo của các địa phương cho thấy một số tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nam Bộ chỉ tiêu xóa mù chữ cho phụ nữ dưới 40 tuổi chỉ đạt khoảng 70-75%, nhiều địa phương không đánh giá được tỷ lệ xóa mù chữ của địa phương mình.

Theo Bộ Giáo dục – Đào tạo (Báo cáo thiên niên kỷ 2008 của Việt Nam), trình độ học vấn của phụ nữ so với nam giới ở bậc học càng cao, càng có sự chênh lệch. Ở các cấp học hàm, học vị như giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ thì sự tham gia của phụ nữ lại càng ít ỏi. Số liệu năm 2007 của Bộ Giáo dục – Đào tạo cho thấy, nếu so sánh nam – nữ trong học hàm phó giáo sư thì nam giới chiếm 88,33% và phụ nữ là 11,67%; ở học hàm giáo sư, nam giới chiếm 94,9% và phụ nữ chỉ có 5,1%; học vị tiến sĩ khoa học nam giới chiếm 90,22% và nữ giới là 9,78%; học vị tiến sĩ nam giới chiếm 82,98% nữ giới 17,2%. Trình độ thạc sĩ với 69,47% nam và 30,53% nữ.

Vấn đề bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe

Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khỏe sinh sản vẫn đang tiếp tục được thực hiện và thực hiện Chiến lược chăm sóc sức khỏe toàn dân, nâng tuổi thọ lên 72 tuổi.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là tỷ lệ tử vong bà mẹ giảm chưa mạnh. Ở nhiều địa phương đã không đánh giá tỷ suất chết mẹ liên quan đến thai sản và giảm tỷ lệ nạo phá thai. Thực tế thống kê y tế cho thấy số phụ nữ mắc và chết do 5 bệnh tai biến sản khoa vẫn có xu hướng gia tăng. Phụ nữ dân tộc thiểu số còn chịu ảnh hưởng bởi phong tục lạc hậu, không đi khám thai, không đẻ tại các cơ sở y tế mà đẻ tại nhà, tại rừng, dẫn đến tử vong cao. Công tác giáo dục sức khỏe chưa được sâu rộng đến các đối tượng, nên chưa thay đổi được ý thức và hành vi của các bà mẹ trong chăm sóc trước, trong và sau sinh.

Trong công tác phòng chống HIV/AIDS, tuy tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV hiện thấp hơn nam giới, nhưng đang có xu thế tăng dần (năm 2005 là 19,5%; 2006 là 20,3% và năm 2007 là 23,5%). Phụ nữ mang thai nhiễm HIV còn chiếm tỷ lệ khá cao ở một số tỉnh trọng điểm (Quảng Ninh 1,31%; Điện Biên 1,13%; Thành phố Hồ Chí Minh là 1%).

Vấn đề nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Đến nay, suy nghĩ và quan niệm về bình đẳng giới còn bị ràng buộc khá nhiều bởi những khuôn mẫu về giới: Phụ nữ vẫn là người đảm nhận chính các công việc nội trợ, chăm sóc, còn nam giới vẫn được xem là người giữ vai trò trụ cột trong gia đình và tham gia vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Mặc dù có nhiều tiến bộ, nhưng nhìn chung tỷ lệ cán bộ lãnh đạo, quản lý n còn thấp về số lượng và chất lượng so với cán bộ quản lý, lãnh đạo nói chung. Theo số liệu của Bộ Nội vụ, ở cấp trung ương, số bộ trưởng nữ và tương đương từ 12% khóa 2002-2007 giảm xuống cong 4,45% khóa 2007-2011; thứ trưởng và tương đương giảm từ 9% xuống 8,41%; vụ trưởng và tương đương giảm từ 6% xuống 5,53%.

Tại thời điểm 31/12/2007, ngành giáo dục không có lãnh đạo nữ cấp Bộ; nữ Vụ trưởng và tương đương chiếm 10%; Phó Vụ trưởng và tương đương chiếm 15,9%; trưởng phòng và tương đương 23%; Phó trưởng phòng và tương đương là 50%. Ngay Bộ Y tế là cơ quan được đánh giá thực hiện khá tốt công tác vì sự tiến bộ của phụ nữ, đã đề cao vai trò lãnh đạo, quản lý của phụ nữ; đến tháng 6 năm 2008, tỷ lệ cán bộ lãnh đạo nữ các cấp của ngành y tế chiếm 37,0%; trong đó tỷ lệ nữ đảng viên là 34,7%. Tuy nhiên, cán bộ nữ thường chỉ giữ cương vị lãnh đạo cấp thấp hơn so với nam giới. Đối với cấp phòng, tỷ lệ nữ cấp trưởng thấp hơn nữ cấp phó; đối với các chức vụ cao hơn như giám đốc và phó giám đốc, tỷ lệ nữ còn thấp hơn (giám đốc nữ chỉ chiếm 12,7%; Phó giám đốc n chiếm tỷ lệ 24%). Các bộ ngành khác cũng rơi vào tình trạng tương tự. Báo cáo của các địa phương cũng cho thấy đa số phụ nữ chỉ giữ cương vị phó, tức là có nhiệm vụ giúp việc cho cấp trưởng mà không có vai trò quyết định.

Mặc dù đã thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ, quyết liệt trên mặt trận phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em nhưng tình hình vẫn có những diễn biến phức tạp, có chiều hướng gia tăng và quốc tế hóa. Các vụ điều tra, khám phá chưa phản ánh được tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em gái nên tác dụng ngăn chặn tệ nạn này chưa cao. Ngoài ra, tình trạng ngược đãi phụ nữ trong gia đình còn tồn tại ở cả thành thị và nông thôn, trong tất cả các nhóm xã hội. Năm 2006, ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội đã tiến hành khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố và kết quả cho thấy có 2,3% các gia đình có hành vi bạo lực về thể chất; 25% gia đình có hành vi bạo lực tinh thần và 30% cặp vợ chồng xảy ra hiện tượng ép buộc tình dục. Hình thức bạo lực phổ biến nhất là bạo lực của chồng đối với vợ.

Về năng lực công tác vì sự tiến bộ phụ nữ (VSTBPN) của UBQG và hệ thống Ban VSTBPN Bộ, ngành và địa phương

Bộ máy hoạt động VSTBPN tuy đã được kiện toàn nhưng chất lượng hoạt động còn hạn chế, còn mang tính hình thức; việc triển khai KHHĐ chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Việc đào tạo, nâng cao nhận thức giới cho cán bộ chủ chốt, đặc biệt là các nhà hoạch định chính sách chưa được chú trọng đầy đủ. Các cơ quan truyền thông đại chúng chưa phát huy hiệu quả vai trò giáo dục truyền thông để tạo nên sự chuyển đổi hành vi, thái độ và nhận thức về bình đẳng giới của đại bộ phận công chúng. Về cơ chế tài chính cho hoạt động của Ban VSTBPN, theo UBQG vẫn còn 11% Bộ, ngành và 4,9% tỉnh, thành phố cho rằng không được bố trí kinh phí hoạt động. Còn tới 22% Bộ, ngành không trả lời được câu hỏi được bố trí bao nhiêu kinh phí, mặc dù các đơn vị này đều cho rằng có lập dự toán kinh phí hàng năm. Ngoài ra, kinh phí hoạt động VSTBPN ở đơn vị cấp dưới, trực thuộc chưa được quan tâm bố trí hoặc bố trí ở mức thấp, nên nhiều nơi để thực hiện chương trình công tác phải dựa vào hoạt động của Hội phụ nữ hoặc ban Nữ công.

Một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ ở nước ta

1. Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, Chính quyền đối với công tác VSTBPN. Thực tế cho thấy, sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, Chính quyền là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, nơi nào các cấp ủy Đảng, Chính quyền có nhận thức đúng đắn về vấn đề bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ, nơi đó triển khai và thực hiện tốt các mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ. Vì vậy, cần tăng cường nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, các cấp lãnh đạo Chính quyền, đoàn thể về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ.

2. Tiếp tục lồng ghép có hiệu quả mục tiêu VSTBPN và bình đẳng giới vào các hoạt động chuyên môn của các Bộ, ngành hoặc kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là lồng ghép giới vào các chương trình, chính sách cụ thể - từ việc hoạch định, xây dựng cho đến việc thực thi chính sách.

3.  Tuyên truyền về bình đẳng giới cần được đưa vào kế hoạch, chương trình hoạt động thường xuyên của Ban tuyên giáo/tuyên huấn các ngành, các cấp.

4. Tăng cường công tác thu nhập và xử lý thông tin về giới – cơ sở quan trọng cho việc thực hiện bình đẳng giới. Gắn việc thực hiện công tác VSTBPN và bình đẳng giới với trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, các ngành.

5. Kịp thời tiếp nhận những thông tin mới về giới trong và ngoài nước để có sự cập nhật, đổi mới nội dung tuyên truyền giới phù hợp với thời đại và thực tế.

6. Các Bộ, ngành, địa phương nghiêm túc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới, đặc biệt là việc thực hiện lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong chương trình công tác chuyên môn.

7. Đề nghị Nhà nước cần ban hành cơ chế, chính sách cụ thể về cơ cấu, quy hoạch, đào tạo, đề bạt đối với cán bộ nữ để các ngành, địa phương thực hiện thống nhất.



* Tp chí Gia đình và Tr em