VÌ SAO PHỤ NỮ LUÔN LÀ ĐỐI TƯỢNG SAU CÙNG

 TRONG CÁC VẤN ĐỀ VỀ SỨC KHOẺ GIỚI VÀ GIỚI TÍNH

 

Trên thế giới, sự tương tác tự nhiên, sinh học và xã hội đã tạo ra những khác biệt về sức khoẻ giữa nam và nữ. Mặc dù nữ thọ hơn nam nhưng họ lại phải chịu nhiều bệnh tật và khuyết tật hơn trong cuộc sống. Sức khoẻ yếu dẫn tới tình trạng bất bình đẳng giới, đặc biệt trong nhóm dân nghèo ở các quốc gia đang phát triển. Cho đến nay, các nghiên cứu và chương trình y tế thường ít chú ý tới những cách thức theo đó phụ nữ và nam giới phải chịu đựng khác nhau về cùng một loại bệnh. Do vậy, để nâng cao sức khoẻ của phụ nữ cần nhận biết và giải quyết sự khác biệt cũng như bất bình đẳng của họ và trẻ em gái ở mọi nhóm tuổi.

Sự nhầm lẫn giữa giới và giới tính

Giới tính chỉ sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ còn giới chỉ vai trò xã hội và văn hoá cũng như sự khác biệt về năng lực và khả năng của họ. Giới và giới tính thường bị nhầm lẫn nhưng chúng lại có những ảnh hưởng khác nhau tới cuộc sống của mỗi người.

Thành kiến về giới tại các quốc gia nơi mà cha mẹ thích con trai hơn con gái có thể dẫn tới tình trạng nạo phá thai lựa chọn giới tính, giết trẻ sơ sinh gái hoặc chối bỏ trẻ em gái và hậu quả là sự thiếu hụt hàng triệu trẻ em gái tại Châu Á cũng như sự lệ thuộc của phụ nữ vào người chồng. Và những thiệt thòi mà họ phải trải qua khi còn trẻ sẽ dẫn tới hậu quả khi trung niên và sẽ còn tiếp tục dai dẳng tới thế hệ con cái sau này. Phụ nữ khi mang thai không đủ dinh dưỡng cần thiết sẽ có nguy cơ thai nhi kém phát triển, trẻ sinh ra nhẹ cân, suy dinh dưỡng và yếu ớt khi trưởng thành.

Giới và giới tính quan trọng như thế nào đối với sức khoẻ?

Khi sinh thì số lượng con trai thường sẽ nhiều hơn con gái nhưng mức tỷ vong của nam giới cao hơn so với nữ và phụ nữ thường sống thọ hơn nam giới. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là sức khoẻ của họ sẽ tốt hơn vì phụ nữ dành 15% thời gian sống trong điều kiện sức khoẻ kém so với 12% ở nam giới.

Cả giới và giới tính đều quan trọng đối với sức khoẻ. Chúng có thể độc lập hoặc tương tác với nhau từ đó tạo ra các dạng bệnh khác nhau giữa nam và nữ giới. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng cơ chế sinh học của phụ nữ (di truyền, sinh lý hoặc hocmon) có tác động nhiều hơn tới bệnh tật. Tuy nhiên, sự khác biệt về giới trong xã hội ảnh hưởng tới việc phụ nữ có nhận thức được hay không về các triệu chứng của họ cũng như làm gì để điều trị các bệnh đó, họ có tìm kiếm hay không các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có chất lượng và họ tuân thủ như thế nào các liệu pháp điều trị đó. Bệnh tật đối với phụ nữ thường liên quan tới vấn đề sinh sản, ví dụ, hơn một nửa triệu phụ nữ chết vì các nguyên nhân liên quan tới mang thai và sinh nở hàng năm và 99% trong số các ca tử vong này ở các nước đang phát triển. Nguy cơ chết của trẻ sơ sinh tại các khu vực đang phát triển cao hơn gần 100 lần so với các nước phát triển. Sự khác biệt này cho thấy một khoảng cách lớn giữa các nước giàu và nghèo trên thế giới.

Thông thường, giới và giới tính tương tác với nhau và làm gia tăng gánh nặng bệnh tật của phụ nữ trong đó trầm cảm là một trong những căn bệnh hay gặp phải. Các yếu tố nguy cơ dẫn đến trầm cảm gồm gen, thay đổi thất thường về hóc môn của người phụ nữ... Bên cạnh đó, các yếu tố xã hội như nghèo đói, thiếu dinh dưỡng và giáo dục, cuộc sống căng thẳng và không được đảm bảo, bạo lực gia đình...cũng là các nguyên nhân cốt lõi của bệnh trầm cảm.

Phụ nữ trải nghiệm các vấn đề về sức khoẻ không xuất phát từ nguyên nhân sinh học mà bắt nguồn từ xu hướng về giới. Từ 15 đến 71% phụ nữ trưởng thành đã trải qua bạo lực gia đình ở các mức độ khác nhau (ở một số quốc gia tỷ lệ này là từ 30 đến 60%) gây nguy hiểm tới sức khoẻ thể chất, tinh thần và tình dục, sinh sản của phụ nữ. Hơn 100 triệu phụ nữ và trẻ em gái ở Châu Phi và Trung Đông bị cắt âm đạo, một tục lệ truyền thống nguy hiểm. Những hủ tục khác như thiêu sống cô dâu hay chết vì tín ngưỡng vẫn xảy ra tại một số nước nhưng những hậu quả của chúng lại không được coi là gánh nặng bệnh tật. Chỉ có tục giết người vì của hồi môn ở khu vực Nam á là được xem như gánh nặng toàn cầu. Tại những khu vực này, phụ nữ bị hành hạ nhưng những trường hợp của họ lại không được báo cáo dẫn đến thiếu hụt lớn về dữ liệu sức khoẻ của quốc gia đó.

Đo lường gánh nặng bệnh tật quá mức của phụ nữ

Gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2001 được đo lường bằng số năm mất mát do khuyết tật và kết quả cho thấy con số của nam cao hơn so với nữ giới bởi nam giới có tỷ lệ tử vong cao hơn. Chỉ có duy nhất một khu vực có tỷ lệ gánh nặng bệnh tật của nữ cao hơn so với nam là khu vực Nam Á.

Tại các quốc gia đang phát triển, tử vong mẹ và khuyết tật là một gánh nặng lớn về bệnh tật của phụ nữ trong khi gánh nặng này là rất nhỏ ở các nước phát triển.  Do vậy, mặc dù nam giới có tỷ lệ gánh nặng bệnh tật cao hơn so với nữ giới nói chung nhưng tình hình lại ngược lại đối với trẻ em gái và phụ nữ tại các quốc gia đang phát triển.

Những can thiệp nhằm nâng cao sức khoẻ của phụ nữ

Các điều kiện sức khoẻ cụ thể đối với phụ nữ

Các điều kiện về sức khoẻ bà mẹ và ung thư bộ máy sinh sản chiếm khoảng 6% gánh nặng bệnh tật trên toàn thế giới. Các mất mát do mang thai và sinh nở đạt mức cao nhất ở các nước đang phát triển bởi ở đây thiếu tiếp cận với các công nghệ cứu sống. Một gói dịch vụ chăm sóc sức khoẻ có thể cứu mạng sống của cả bà mẹ và trẻ em ở khu vực Châu Phi tiểu Sahara có mức giá giao động trong khoảng từ 77 đến 151 USD và từ 143 đến 278 USD tại Nam Á, phụ thuộc vào độ phức tạp của các can thiệp. Hàng triệu ca trẻ sơ sinh chết yểu, ốm đau, khuyết tật có thể tránh được bằng cách giúp phụ nữ tránh thai ngoài ý muốn thông qua các biện pháp KHHGĐ phổ biến sẵn có. Trong số các bệnh ung thư đường sinh sản thì ung thư cổ tử cung có thể được phát hiện và điều trị tại các nước phát triển. Các nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ cần đến khám tại các cơ sở y tế 1 hoặc 2 lần để phát hiện và điều trị vào giai đoạn sớm ung thư cổ tử cung, ví dụ, ở khu vực Nam Phi, chi phí này ở mức 39USD và sử dụng công nghệ mà các nước đang phát triển đều có thể thực hiện được.

Các điều kiện liên quan tới tuổi thọ dài hơn của phụ nữ

Các căn bệnh liên quan tới tuổi thọ của phụ nữ dài hơn so với nam giới (ví dụ Alzheimer, mất trí, rối loạn thị lực) chiếm 12% trong số các mất mát do khuyết tật. Hiện còn ít người biết được về hiệu quả chi phí và can thiệp nhằm giải quyết bệnh tật cho phụ nữ cao tuổi. Việc chăm sóc tại các viện dưỡng lão ở các nước đang phát triển còn hạn chế và chăm sóc tại gia đình vẫn là phương pháp phổ biến ở các nước này. Do vậy cần có sự trợ giúp xã hội và huấn luyện cho các nhân viên chăm sóc nhằm giảm nhẹ đau ốm của phụ nữ vào những năm cuối đời của họ.

Bệnh tim mạch vốn được coi là "bệnh của đàn ông" nhưng phụ nữ lại có xu hướng chậm chễ hơn trong việc tìm kiếm các biện pháp điều trị khi họ xuất hiện các triệu chứng của bệnh. Tuy nhiên, đột quỵ và nhồi máu cơ tim chiếm khoảng 8% trong số các khuyết tật của phụ nữ. Các biện pháp can thiệp nhằm nâng cao sức khoẻ của phụ nữ cần được bắt đầu với việc nâng cao nhận thức, yếu tố này thiếu cả ở các quốc gia phát triển và đang phát triển. Tập trung vào việc giảm các yếu tố nguy cơ, ví dụ như tăng cường chế độ ăn uống lành mạnh và tập thể dục đều đặn.

Các điều kiện phát sinh từ việc can thiệp về giới và giới tính

Trầm cảm là một trong những bệnh tốn kém và mang tính huỷ hoại nhất trên thế giới, đặc biệt đối với phụ nữ. Nó chiếm 4% tổng gánh nặng bệnh tật của phụ nữ trên toàn thế giới và nếu tính thêm các rối loạn tâm thần như buồn phiền, lo lắng thì tỷ lệ này tăng lên đến 12%.

Mặc dù đã đạt được một số kết quả dài hạn về công tác tư vấn và thuốc men nhưng các triển vọng lâu dài đối với vấn đề này vẫn gây thất vọng bởi chi phí cao trong việc chăm sóc các bệnh nhân của căn bệnh này. Các biện pháp phòng tránh sẽ có thể giúp phụ nữ kiểm soát tốt hơn, tiếp cận được với các nguồn lực và có khả năng tự ra các quyết định của chính họ cũng như sự trợ giúp của xã hội trong đó việc tăng cường các hành vi lành mạnh, bao gồm luyện tập thể dục đều đặn là rất quan trọng.

Các điều kiện lấp khoảng cách về giới và giới tính

Mặc dù các số liệu về gánh nặng bệnh tật chưa có độ chính xác cao nhưng các hậu quả về sức khoẻ của bạo lực giới bao gồm tình dục cưỡng bức, bạo lực gia đình và cắt âm đạo phụ nữ có mối liên quan chặt chẽ tới các điều kiện sức khoẻ khác tác động tới phụ nữ và trẻ em. Do vậy, sẽ có các lợi ích đa thế hệ từ việc giải quyết các điều kiện này.

Để giải quyết các điều kiện sức khoẻ theo giới cần phải tiến hành cải cách ở các nội dung sau:

            Luật và thi hành cưỡng bức Luật pháp.

·         Các chính sách và chương trình công về y tế, giáo dục và dịch vụ pháp luật dành cho phụ nữ.

·         Huấn luyện các nhà cung cấp dịch vụ và thiết lập các dịch vụ nhạy cảm về giới.

·         Gíáo dục công chúng  nhằm tạo nhận thức về xu hướng giới và ủng hộ sự thay đổi.

·         Thu thập số liệu và các nghiên cứu có chất lượng tốt hơn trong việc ưu tiên các cơ chế cá nhân và xã hội có thể duy trì sự ổn định về xu hướng giới.

Trong khu vực y tế, kinh nghiệm hơn 20 năm qua cho thấy việc ứng phó với bạo lực giới yêu cầu sự tiếp cận có hệ thống rộng khắp cùng với những chính sách và việc thực hiện ở mọi cấp. Việc phơi bày rộng rãi bạo lực gia đình là không khả thi, thay vào đó cần có cách tiếp cận phù hợp để nắm bắt các trường hợp này và giúp người phụ nữ có thể nói lên các dấu hiệu của việc lạm dụng.

Con đường phải đi

Phụ nữ đang ốm yếu và chết non do thiếu các công nghệ y tế ở một số nước cũng như việc không tiếp cận được với chúng ở một số nước khác. Tại một số khu vực, có rất ít hoặc không có sự nhận biết những khác biệt về giới trong y tế, biến việc nghiên cứu thành công cụ quan trọng trong việc thu thập chứng cứ và nâng cao nhận thức trong số những người hành nghề cũng như các nhà hoạch định chính sách y tế. Các nghiên cứu và việc thực hiện trong thực tế cần chú trọng hơn tới các điều kiện về sức khoẻ của phụ nữ.

Các gánh nặng bệnh tật vượt quá sức của phụ nữ có sự khác biệt giữa các khu vực. Cần làm rõ một điều rằng các yếu tố khác ngoài sinh học cũng giải thích nguyên nhân cho sự khác biệt này. Nếu mối quan tâm về giới được hoà nhập tốt hơn trong chương trình và chính sách y tế thì các nhà hoạch định chính sách có thể giải quyết vấn đề yếu thế sức khoẻ của phụ nữ và do đó tăng cường bình đẳng giới về sức khoẻ. Tăng cường bình đẳng giới về sức khoẻ yêu cầu các can thiệp ở mọi giai đoạn trong vòng đời của một người, từ khi mang thai cho đến khi sinh và thời gian tiếp sau đó cho đến khi về già.

TRUNG KIÊN

Theo Population Reference Bureau, October 2008