KẾT QUẢ PHÚC TRA SỐ SINH, SỐ SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN

 VÀ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI TẠI TP ĐÀ NẴNG 2009

       Thực hiện theo kế hoạch số 46/KH-CCDS ngày 09/3/2010 về phúc tra tình hình thu thập thông tin về dân số - KHHGĐ năm 2009; nhằm củng cố, nâng cao chất lượng về tình hình thu thập thông tin, báo cáo về dữ liệu dân cư, đặc biệt là xác định thực trạng dân số trẻ sinh, số trẻ là con thứ 3 trở lên năm 2009, Chi cục Dân số - KHHGĐ thành phố phối hợp với Cục Thống kê thành phố tổ chức phúc tra tại 20 phường, xã của 7 quận, huyện trên địa bàn thành phố về số sinh, số sinh con thứ ba trở lên và các biện pháp tránh thai năm 2009.

1. Kiểm tra sổ ghi chép và theo dõi của cán bộ chuyên trách DS-KHHGĐ đã báo cáo TTDS-KHHGĐ quận, huyện và Chi cục DS-KHHGĐ

a. Sổ ghi chép, theo dõi số sinh và số sinh con thứ 3 trở lên:

Kết quả kiểm tra sổ theo dõi của cán bộ Tư pháp, Trạm Y tế và cán bộ chuyên trách năm 2009 (riêng phường Hải Châu 2, Phước Ninh, Chính Gián, Tam Thuận, Hoa Tiến, báo cáo quý IV/2009);

- Hầu hết các phường, xã được kiểm tra số khai sinh theo sổ quản lý của tư pháp và báo cáo số sinh của Trạm y tế, chuyên trách dân số phường, xã không trùng khớp nhau:

       + 16/20 xã, phường có số chênh lệch tăng hơn số báo cáo của y tế và dân số;

       + 4/20 phường có số chênh lệch thấp hơn số báo cáo của y tế và dân số,

+ 15/20 phường, xã có số theo dõi của Trạm y tế và báo cáo số sinh của cán bộ chuyên trách dân số chênh lệch nhau (tổng chênh lệch 132 trường hợp);

+ 7/20 phường, xã có số theo dõi của Trạm y tế nhiều hơn số theo dõi của chuyên trách Dân số;

+ 8/20 phường, xã có số theo dõi của Trạm y tế thấp hơn số theo dõi của chuyên trách Dân số,

- Số trẻ con thứ 3 trở lên: 17/20 phường, xã có sổ theo dõi sinh con thứ ba trở lên của Trạm Y tế chênh lệch với số quản lý của dân số (tổng 15 trường hợp);

       + 9/20 phường, xã có sổ theo dõi của Trạm y tế nhiều hơn sổ theo dõi của chuyên trách Dân số;

       + 8/20 phường, xã có sổ theo dõi của Trạm y tế thấp hơn số theo dõi của chuyên trách Dân số,

- 11/20 phường có sổ báo cáo về giới tính nam và nữ của chuyên trách và y tế cũng có sự chênh lệch, nhất là trong từng tháng (5 phường không kiểm tra)

       + 10/20 phường, xã có số chênh lệch giới tính là nam;

       + 11/20 phường, xã có số chênh lệch giới tính là nữ,

b. Sổ theo dõi đối tượng thực hiện các BPTT:

100% tuyến y tế (TYT) xã/phường được kiểm tra đều mở sổ theo dõi các đối tượng thực hiện BPTT đầy đủ, tuy nhiên một số nơi việc ghi chép vẫn chưa đầy đủ: ngày, tháng thực hiện mũi tiêm tránh thai; đối tượng sử dụng BPTT nếu có thay đổi biện pháp phải ghi rõ ràng, đầy đủ...

c. Kiểm tra cập nhật thông tin Dân số - KHHGĐ vào sổ hộ gia đình

       Hầu hết các xã/phường cộng tác viên đều đã cập nhật thông tin vào sổ Hộ gia đình nhưng vẫn chưa đầy đủ: do di dời, giải tỏa nhiều hộ gia đình đi nơi khác và có hộ mới đến chưa cập nhật kịp thời. Về theo dõi sử dụng BPTT hầu hết các địa phương đều chưa cập nhật đầy đủ, nhất là giai đoạn 2007-2009, riêng phường Hòa Khánh Nam – quận Liên Châu, phường Mẫn Thái – Quận Sơn Trà, Phường Bình Hiên – quận Hải Châu không có sổ hộ gia đình nên không kiểm tra được.

2. Phúc tra thực tế số sinh và số sinh con thứ ba trở lên, các đối tượng sử dụng biện pháp tránh thai tại địa bàn dân cư so với báo cáo của TTDS-KHHGĐ quận, huyện đã nộp:

a. Phúc tra số sinh và số sinh con thứ ba trở lên:

Qua phúc tra thực tế số sinh và số sinh con thứ 3 trở lên tại các địa phương cho thấy:

- Tổng số theo dõi cả năm qua Trạm Y tế, chuyên trách dân số, CTV báo cáo và thực tế kiểm tra là không đáng kể, kiểm tra thực tế tại địa bàn dân cư có rất nhiều số trẻ sinh trong năm 2009 có theo dõi và báo cáo nhưng lại không có tại địa bàn.

- Báo cáo số sinh hàng tháng tại các TYT xã/phường đều do Trung tâm y tế quận/huyện đi chép lại số sinh tại các bệnh viện công lập trên địa bàn thành phố báo ngược về lại cho cơ sở, nên một số trẻ sinh tại các bệnh tư như: Hoàn Mỹ, Phụ Nữ, Vĩnh Đức ..... không thu thập được.

       Trong năm 2009 phường Mỹ An – quận Ngũ Hành Sơn: số sinh theo sổ theo dõi, quản lý của Trạm y tế và Dân số chênh lệch với số báo cáo về Chi cục thành phố là 70 trẻ (Số của phòng Thống kê báo), nhưng kiểm tra thực tế không có số trẻ này trên địa bàn.

b. Phúc tra thực tế đối tượng thực hiện BPTT:

- Số phụ nữ sinh trong quý IV và tháng 1/2010 trên 90% chưa được thực hiện BPTT; chỉ có khoảng 7-10% đã thực hiện đặt vòng và triệt sản.

- Các đối tượng này đều đã được các cán bộ đi phúc tra hướng dẫn thực hiện BPTT và tư vấn nên đã lựa chọn BPTT phù hợp để thực hiện trong thời gian đến.

3. Đánh giá chung

- Qua đợt phúc tra hầu hết các phường, xã đều có sự chênh lệch về số sinh giữa số quản lý của tư pháp và báo cáo của Trạm y tế, chuyên trách dân số;

- Theo dõi và báo cáo số sinh của Trạm y tế và cán bộ chuyên trách dân số, chênh lệch nhau;

 - Số liệu báo cáo về giới tính giữa nam và nữ của Trạm Y tế và số quản lý của dân số vẫn còn chênh lệch.

- Trong năm 2009 để có số liệu thống nhất giữa y tế và dân số; hầu hết cán bộ chuyên trách phường, xã đã cập nhật số liệu theo y tế, không lấy số liệu thu thập của cộng tác viên.

4. Nguyên nhân:

- Do địa bàn dân cư quá rộng (một số địa bàn không ổn định do chưa tách các đơn vị hành chính, một số CTV hiện nay vẫn còn quản lý từ 3-4 tổ dân phố, hoặc quản lý theo chi bộ) nên một số CTV chưa theo dõi, quản lý kịp thời biến động dân cư; chưa làm tốt chức năng cập nhật vào sổ hộ gia đình; số liệu thu thập được từ sổ theo dõi của CTV chưa sử dụng vào công tác báo cáo thống kê dân số hàng tháng, quý.

- Một số ít, xã phường chênh lệch số liệu giảm hoặc tăng là do điều chỉnh số liệu theo ý muốn chủ quan của địa phương.

Từ tháng 1/2010 TYT không phải báo cáo số sinh cho TTCSSKSS (theo mẫu báo cáo mới quy định)

5. Giải pháp khắc phục và kiến nghị:

- Đối với trạm Y tế:

       Trưởng trạm Y tế có trách nhiệm chỉ đạo CBCT dân số và các nhân viên khác của Trạm Y tế khóa sổ báo cáo thống kê dân số vào ngày cuối tháng theo quy định.

- Đối với Trung tâm DS-KHHGĐ

Tăng cường công tác giám sát, hỗ trợ cán bộ cơ sở; trong giao ban hàng tháng cần phải hướng dẫn thêm về việc thu thập, cập nhật thông tin, công tác quản lý số liệu nhằm nâng cao chất lượng thu thập thông tin và báo cáo thống kê dân số chuyên ngành theo định kỳ.

- Đối với Sở Y tế:

Ngày khóa sổ báo cáo theo quy định chưa được thống nhất giữa các đơn vị trong Ngành Y tế, CBCT, Trưởng Trạm Y tế (các trạm Y tế hiện nay vẫn còn báo cáo vào ngày 20-25 hàng tháng); nên tách riêng việc theo dõi số liệu của hệ thống báo cáo DS-KHHGĐ.

- Đối với UBND Thành phố:

+ Ổn định tổ chức bộ máy chỉ đạo về thực hiện công tác DS-KHHGĐ của các địa phương, đặc biệt là trưởng ban chỉ đạo các cấp sau những thay đổi lãnh đạo phụ trách công tác DS-KHHGĐ; không thay đổi, thuyên chuyển cán bộ DS-KHHGĐ tại phường/xã sang công tác khác;

+ Chỉ đạo các ngành, các cơ quan liên quan quản lý tốt những biến động dân số cơ học quản lý những công nhân, học sinh, sinh viên từ nơi khác đến làm ăn sinh sống trên địa bàn;

+ Ngoài kinh phí hoạt động của chương trình mục tiêu cần có sự hỗ trợ thêm kinh phí của thành phố:

+ Đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng thu thập thông tin và ghi chép thông tin vào sổ hộ gia đình, báo cáo thống kê chuyên ngành dân số - KHHGĐ cho mạng lưới CTV DS-KHHGĐ;

+ Trang bị máy tính cá nhân cho CTV, máy vi tính cho CBCT dân số phường/xã tạo điều kiện cho nhập thông tin của hệ dữ liệu dân cư. Cung cấp đầy đủ số hộ gia đình để ghi chép biến động dân số cho CTV theo quy định: 01 sổ/01 tổ dân phố.

+ Mua BHYT và có chế độ chính sách hỗ trợ thêm kinh phí cho CTV so với mức hiện nay là 50.000đ/tháng/CTV, đề nghị tăng mức phụ cấp hàng tháng cho mỗi CTV tương đương với 0,2 – 0,3 mức lương tối thiểu.

* Chỉ đạo UBND các quận, huyện hỗ trợ thêm kinh phí từ nguồn thu của địa phương cho hoạt động DS-KHHGĐ để khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của chương trình DS-KHHGĐ.

- Đối với Tổng cục DS-KHHGĐ:

+ Nhanh chóng hoàn chỉnh việc thay đổi sổ theo dõi Dân số, Gia đình và Trẻ em, những biểu mẫu ghi chép, báo cáo thống kê nhân khẩu học ở cơ sở cho CTV sau khi thay đổi về tổ chức bộ máy.

+ Tạo điều kiện cho CTV được tham quan, học tập, giao lưu những mô hình làm tốt công tác Dân số - KHHGĐ giữa các tỉnh và khu vực trong nước.