THAY ĐỔI CẤU TRÚC DÂN SỐ VÀ DỰ BÁO GIAI ĐOẠN

CƠ CẤU DÂN SỐ “VÀNG” Ở VIỆT NAM

GS-TS. NGUYỄN ĐÌNH CỬ, ThS. HÀ TUẤN ANH*

Từ cuộc Tổng điều tra dân số 1979 đến nay, "bức tranh dân số" nước ta đã thay đổi nhanh chóng. Quy mô dân số từ 52,7 triệu năm 1979 tăng lên 85,8 triệu năm 2009. Bên cạnh đó, cơ cấu dân số theo tuổi cũng thay đổi rất mạnh. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng từ 50% lên 66%, và tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đã giảm từ 42,6% xuống 25%.

1. Thay đổi cơ cấu dân số theo tuổi ở Việt Nam

Cơ cấu dân số theo tuổi của Việt Nam thay đổi sâu sắc trong ba thập kỷ gần đây. Đặc biệt, tỷ trọng trẻ em 0-4 tuổi năm 2007 so với năm 1979 chỉ còn 1/2; tỷ trọng dân số tuổi từ 65 trở lên đã tăng 1,53 lần. Điều này cho thấy tuổi thọ tăng lên và xu h­ướng già hóa dân số đang diễn ra.

Bảng 1. Cơ cấu (%) dân số theo tuổi của Việt Nam, 1979-2007

Nhóm tuổi

1979

1989

1999

2007

0-4

14,62

14,0

9,52

7,49

5-9

14,58

13,3

12,00

7,84

10 - 14

13,35

11,7

11,96

10,18

15 - 19

11,40

10,5

10,77

10,71

20 - 24

9,26

9,5

8,86

8,69

25 - 29

7,05

8,8

8,48

7,66

30 - 34

4,72

7,3

7,86

7,71

35 - 39

4,04

5,1

7,27

7,66

40 - 44

3,80

3,4

5,91

7,51

45 - 49

4,00

3,1

4,07

6,44

50 - 54

3,27

2,9

2,80

5,23

55 - 59

2,95

3,0

2,36

3,43

60 - 64

2,28

2,4

2,31

2,27

65 - 69

1,90

1,9

2,20

7,18

70 - 74

1,34

1,2

1,58

75 - 79

0,90

0,8

1,09

80 - 84

0,38

0,4

0,55

85+

0,16

0,3

0,38

Tổng cộng

100,0

100,0

100,0

100,0

Nguồn:  Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số 1979, 1989, 1999;  Điều tra biến động DS-KHHGĐ năm 2007.

             Sự biến đổi cơ cấu dân số theo tuổi đã và đang tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta theo cả hai chiều: tạo ra cơ hội và nảy sinh những thách thức lớn.

2. Tỷ số phụ thuộc và cơ cấu dân số “vàng”

- Tỷ số phụ thuộc

Sự phát triển kinh tế của một đất nước đương nhiên là phụ thuộc chặt chẽ vào số lượng và chất lượng của nhóm “dân số hoạt động kinh tế” nhưng không chỉ có vậy, nếu số lượng “dân số hoạt động kinh tế” đông đảo song “dân số không hoạt động kinh tế” – những người phụ thuộc còn nhiều hơn thì tiêu dùng lớn và do đó tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư sẽ thấp. Sự phát triển kinh tế, xã hội bị ngưng trệ.

       Tỷ số phụ thuộc chung của dân số cho biết cứ 100 người trong độ tuổi lao động thì tương ứng có bao nhiêu người ngoài độ tuổi này hay nói cách khác, cứ 100 người trong độ tuổi lao động thì phải nuôi bao nhiêu người phụ thuộc?

Bảng 2 cho thấy ở Việt Nam, tỷ số phụ thuộc chung giảm mạnh, từ 89,5 xuống còn 46,4, gần như chỉ còn một nửa sau 30 năm (1979-2009) là do đẩy mạnh KHHGĐ, mức sinh giảm nhanh dẫn đến tỷ lệ phụ thuộc trẻ giảm quá một nửa. Trong khi đó, tỷ lệ phụ thuộc già tăng nhưng chưa nhiều.

Bảng 2. Tỷ số phụ thuộc của Việt Nam, 1979-2009

Năm

1979

1989

1999

2009

Tỷ số phụ thuộc trẻ

80,6

69,1

55,1

36,6

Tỷ số phụ thuộc già

8,9

8,2

9,6

9,8

Tỷ số phụ thuộc chung

89,5

77,3

64,7

46,4

 

 

 

 

 

 “Tỷ số phụ thuộc” không ngừng giảm xuống, tức là không ngừng giảm “gánh nặng” cho mỗi người trong độ tuổi lao động. Điều này tạo điều kiện tốt cho kinh tế quốc dân và kinh tế gia đình có tiết kiệm để đầu tư­ phát triển.

- Cơ cấu dân số “vàng”

Khi “tỷ số phụ thuộc” giảm đến 50 trở xuống, tức là hai người trong độ tuổi lao động mới phải “gánh” một hoặc ít hơn một người ăn theo, ng­ười ta nói rằng, đây là cơ cấu dân số “vàng”. Theo điều tra biến động Dân số-Nguồn lao động và KHHGĐ ở Việt Nam, năm 2006 “tỷ số phụ thuộc” chỉ còn 49,9 nghĩa là dân số Việt Nam đã bước vào giai đoạn có cơ cấu “vàng”.

3. Dự báo quá trình diễn biến cơ cấu dân số “vàng” ở Việt Nam

Vụ Dân số của Liên hợp quốc dự báo thời kỳ dân số vàng của các nước In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Phi-líp-pin là 30 năm; Xin-ga-po, Thái Lan: 35 năm, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc: 40 năm... Giai đoạn phát triển thần kỳ của Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po và giai đoạn phát triển nhanh của các nước công nghiệp mới đều gắn liền với thời kỳ cơ cấu dân số “vàng”.

            Ở nước ta dân số đã có cơ cấu “vàng” từ năm 2006. Cần đặt ra một loạt câu hỏi, như: Khi nào tỷ số phụ thuộc sẽ thấp nhất? Số dân và cơ cấu dân số nước ta khi đó sẽ như thế nào? Lợi thế này sẽ kéo dài bao nhiêu lâu?.... Để trả lời được những câu hỏi này cần tiến hành các dự báo.

     Sử dụng kết quả Tổng điều tra dân số 2009 làm số liệu đầu vào năm gốc, phần mềm Spectrum 1.3, với một số giả thiết, dự báo dân số giai đoạn 2010-2060 đã được thực hiện như sau:

     Giả thiết của dự báo 

· Không tính đến di cư quốc tế

· CBR: average ; Trung bình = 17.8

· ASFR: chọn mô hình Châu Á

· Tuổi thọ trung bình 2059:   Nam: 78.  Nữ : 82

· Mô hình bảng sống: Custom. Lựa chọn mô hình gần đúng với thực tế Việt Nam  nhất

· Tỷ lệ dân số đô thị 2059 = 70%

Kết quả dự báo

Câu hỏi được quan tâm nhất là: Khi nào nước ta bước vào giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” và giai đoạn này sẽ kết thúc vào năm nào? Thời kỳ cơ cấu dân số “vàng” kéo dài được bao lâu?

Bảng 3. Thời điểm và thời khoảng cơ cấu dân số “vàng”

Thời điểm và thời khoảng cơ cấu dân số  “vàng”

Phương án 1:

Phương án 2:

Phương án 3:

TFR = 1,8

TFR = 1,6

TFR = 1,4

Năm bắt đầu

2006

2006

2006

Năm kết thúc

2044

2047

2050

Tổng số năm

39

42

45

 

Theo dự báo, trong 3 năm: từ 2015 đến 2017 dân số Việt Nam có tỷ số phụ thuộc thấp hơn cả. Đặc biệt, theo cả 3 phương án, năm 2016, tỷ số phụ thuộc thấp nhất - khoảng 43,35% với dân số khoảng 92,25 - 92,43 triệu người.

 

Bảng 4.  Dân số Việt Nam và tỷ số phụ thuộc theo 3 phương án, 1999-2059

Năm

PA1_TFR 2059 = 1,8

PA2_TFR 2059 = 1,6

PA3_TFR 2059 = 1,4

 

Tỷ  số

phụ thuộc

Dân số

 (triệu người)

Tỷ số

 phụ thuộc

Dân số

(triệu người)

Tỷ số

 phụ thuộc

Dân số

(triệu người)

1999

63,56

 

63,56

 

63,56

 

2009

46,26

85,79

46,26

85,79

46,26

85,79

2019

43,84

95,12

43,60

94,96

43,33

94,78

2029

45,52

102,13

44,74

101,52

43,97

100,91

2039

47,67

106,61

46,50

105,25

45,33

103,89

2049

52,65

108,73

51,03

106,18

49,43

103,67

2059

58,38

108,22

56,67

104,08

55,04

100,08

 

Bảng 4 cho thấy: Theo phương án 1, quy mô dân số Việt Nam đạt cực đại là 108,82 triệu vào năm 2051-2052, hoặc 106,23 vào năm 2048 (theo phương án 2)  và 104,2 triệu (theo phương án 3) vào năm 2043.

4. Một số đặc điểm nhân khẩu học trong thời kỳ cơ cấu dân số “vàng” ở Việt Nam

- Trẻ em giảm mạnh cả tỷ lệ và số lượng

Xu hướng giảm tỷ lệ trẻ em diễn ra khá mạnh mẽ từ năm 1989 -1999 và đặc biệt là 1999-2009. Xu hướng này vẫn được duy trì cho đến cuối kỳ dự báo. So với năm 1999 thì tỷ lệ trẻ em năm 2059 chỉ còn chưa đến một nửa.

Biểu 1. Dân số 0-14 tuổi theo 3 phương án, 1999-2059 

Tỷ lệ trẻ em giảm nên số lượng trẻ em theo phương án mức sinh cao nhất cũng chỉ tăng nhẹ trong giai đoạn 2009-2019 và sau đó giảm, đến năm 2059 chỉ còn khoảng 18 triệu, giảm so với hiện nay khoảng 3 triệu. Số lượng trẻ em giảm tạo điều kiện nâng cao sức khỏe và chất lượng giáo dục.

- Lao động tăng lên nhanh chóng

Đặc điểm nổi bật của dân số trong giai đoạn cơ cấu “vàng” là cả tỷ lệ và số lượng dân số trong độ tuổi lao động thực tế (15-64 tuổi) tăng lên trong khoảng 20 năm đầu (1999-2019) sau đó tỷ lệ giảm nhưng dân số trong độ tuổi tích cực tham gia hoạt động kinh tế vẫn tăng và đạt số lượng cực đại khoảng 72 triệu người.

 

Bảng 6. Dân số 15-64 tuổi theo 3 phương án, 1999-2059

 

 

1999

2009

2019

2029

2039

2049

2059

PA1_TFR 2059 = 1,8

Số lượng (triệu người)

46,66

58,65

66,13

70,18

72,20

71,23

68,33

Tỷ lệ %

61,14

68,37

69,52

68,72

67,72

65,51

63,14

PA2_TFR 2059 = 1,6

Số lượng (triệu người)

46,66

58,65

66,13

70,14

71,84

70,30

66,43

Tỷ lệ %

61,14

68,37

69,64

69,09

68,26

66,21

63,83

PA3_TFR 2059 = 1,4

Số lượng (triệu người)

46,66

58,65

66,13

70,09

71,49

69,39

64,55

Tỷ lệ %

61,14

68,37

69,77

69,46

68,81

66,93

64,5

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vận hội do cơ cấu “vàng” mang lại là lao động nhiều, phụ thuộc ít có thể nâng cao tiết kiệm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lao động đông và tăng nhanh cũng tạo ra thách thức về nâng cao chất lượng lao động và tạo việc làm.

- Số lượng phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đạt cực đại vào năm 2029

Theo phương án cao, tỷ lệ phụ nữ ở tuổi sinh đẻ trong tổng dân số giảm, từ 28,6% năm 2009 xuống 21% năm 2059 nhưng số lượng vẫn tăng trong giai đoạn 2010-2029. Cụ thể, từ 24,53 triệu năm 2009 tăng lên và đạt cực đại là 25,67 triệu vào năm 2029.

Bảng 6. Dân số nữ 15-49 tuổi theo 3 phương án, 1999-2059

Đơn vị: triệu người

Phương án

1999

2009

2019

2029

2039

2049

2059

PA1_TFR 2059 = 1,8

20,79

24,53

25,29

25,67

24,94

23,57

23,17

PA2_TFR 2059 = 1,6

20,79

24,53

25,29

25,65

24,77

23,13

22,26

PA3_TFR 2059 = 1,4

20,79

24,53

25,29

25,63

24,60

22,69

21,36

 

 

Tuy số lượng phụ nữ trong độ tuối sinh đẻ tăng, nhưng số phụ nữ 30-49 tuổi tuổi tăng mạnh hơn. Vì vậy, tiềm năng sinh đẻ không tăng tương ứng với dân số trong độ tuổi này.

- Dân số Việt Nam đang già hoá

Một trong những biểu hiện của già hóa dân số là tuổi trung vị không ngừng tăng lên.

Bảng 7. Tuổi trung vị của dân số Việt Nam theo 3 phương án, 1999-2059

 

1999

2009

2019

2029

2039

2049

2059

PA1_TFR 2059 = 1,8

23

28

31

35

38

40

42

PA2_TFR 2059 = 1,6

23

28

31

36

38

40

43

PA3_TFR 2059 = 1,4

23

28

32

36

39

41

44

 

Sau 60 năm, từ 1999 đến 2059, tuổi trung vị của Dân số Việt Nam tăng lên gấp gần 2 lần (từ 23 tuổi lên 43). Nói một cách khác, nếu như tại năm 1999 cứ 2 người Việt Nam thì một người có độ tuổi từ 23 trở xuống, tương tự như vậy, đến năm 2059 thì cứ 2 người Việt Nam có một người ở độ tuổi 43 trở xuống, tức là dân số đã “già đi”.

Theo Pháp luật Việt Nam, những người 60 tuổi trở lên được coi là người cao tuổi. Liên hợp quốc quy ước rằng, một dân số có ít nhất 10% người cao tuổi là “dân số già”. Cùng với xu hướng chung của thế giới, người cao tuổi Việt Nam không ngừng tăng lên cả về số lượng và tỷ lệ.

 

Bảng 8. Người cao tuổi ở Việt Nam

Năm

Tổng số dân

(Triệu người)

Số người cao tuổi

(Triệu người)

Tỷ lệ

người cao tuổi (%)

(1)

(2)

(3)

(4) = (3) : (2)

1979

53,74

3,71

6,90

1989

64,41

4,64

7,20

1999

76,32

6,19

8,12

2009

85,79

7,72

9,00

      Nguồn: Tổng điều tra dân số 1979; 1989; 1999; 2009

Hiện tại Việt Nam đang ở sát ngưỡng dân số già. Tỷ lệ người cao tuổi năm 2009 đã đạt 9%. Tốc độ già hoá ở nước ta nhanh hơn tốc độ tăng dân số. Trong 10 năm từ 1979-1989, dân số tăng thêm 20% thì người cao tuổi tăng thêm 25%. Trong giai đoạn 1989-1999, các tỷ lệ tương ứng là 18% và 33%. Trong giai đoạn 1979-2009 dân số tăng lên 1,6 lần còn người cao tuổi tăng 2,08 lần.

Sự bùng nổ sinh đẻ sau năm 1954 và kéo dài trong nhiều thập kỷ sau đó, đồng thời mức sinh giảm mạnh trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX và còn tiếp tục giảm sẽ là các nhân tố thúc đẩy nhanh và mạnh hơn nữa quá trình già hoá dân số nước ta trong khoảng những năm tới.

 

Bảng 9. Dân số từ 60 tuổi trở lên theo 3 phương án, 1999-2059

 

 

1999

2009

2019

2029

2039

2049

2059

PA1_TFR 2059 = 1,8

Tổng dân số (tr)

76,32

85,79

95,12

102,13

106,61

108,73

108,22

Dân số 60+(Tr)

6,14

7,67

10,52

15,17

20,38

24,89

28,33

Tỷ lệ 60+  %

8,05

8,94

11,06

14,85

19,12

22,89

26,18

PA2_TFR 2059 = 1,6

Tổng dân số (tr)

76,32

85,79

94,96

101,52

105,25

106,18

104,08

Dân số 60+(Tr)

6,14

7,67

10,52

15,70

20,38

24,89

28,33

Tỷ lệ 60+  %

8,05

8,94

11,08

15,46

19,36

23,44

27,22

PA3_TFR 2059 = 1,4

Tổng dân số (tr)

76,32

85,79

94,78

100,91

103,89

103,67

100,08

Dân số 60+(Tr)

6,14

7,67

10,52

15,70

20,38

24,89

28,33

Tỷ lệ 60+  %

8,05

8,94

11,10

15,56

19,62

24,01

28,31

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cả 3 phương án đều cho thấy năm 2019, số người cao tuổi ở nước ta sẽ vượt quá 10 triệu người. Sau đó mỗi thập kỷ sẽ tăng thêm khoảng 5 triệu và đạt khoảng 28 triệu vào cuối kỳ dự báo.

5. Khuyến nghị

1.        Để đảm bảo so sánh quốc tế và thực tế cơ cấu dân số Việt Nam nên sử dụng cách tính tỷ số phụ thuộc theo công thức:

Tỷ số phụ thuộc = x 100

 

      Đẩy mạnh vận động các nhà hoạch định chính sách để chủ động xây dựng chính sách triệt để tận dụng cơ hội, lợi thế, vượt qua thách thức do cơ cấu vàng mang lại. Đặc biệt là chính sách giáo dục, đào tạo, phát triển việc làm, an sinh xã hội cho người cao tuổi. Tuyên truyền, giáo dục để người dân cũng nắm bắt cơ hội tích cực học tập, nâng cao tay nghề và lao động.

Tạo mọi điều kiện, khuyến khích các thành phần kinh tế được tham gia vào quá trình giáo dục, đào tạo; đặc biệt là đào tạo nghề, phát triển việc làm, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về lao động và tăng xuất khẩu. Nhanh chóng nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn, kỹ thuật.


* Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Đại học Kinh tế quốc dân.