BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KHHGĐ: CHƯONG TRÌNH NGHỊ SỰ

CỦA CÁC NƯỚC KÉM PHÁT TRIỂN NHẤT

 LEO BRYANT; LOUISE CARVER; COLIN D BUTLER; ABABU ANAGE

Giới thiệu

Mặc dù đã có nhiều thảo luận về sự biến đổi khí hậu, sự liên quan của các xu hướng nhân khẩu học vẫn chưa được đề cập, đặc biệt ở cấp hoạch định chính sách. Vấn đề dược quan tâm là sự gia tăng dân số thế giới từ 6,8 tỷ hiện nay lên 9,2 tỷ năm 2050 chắc chắn sẽ  làm tăng đáng kể lượng khí thải của hiệu ứng nhà kính. Vì thế việc tiếp cận phổ cập các dịch vụ KHHGĐ tự nguyện phải là một cấu phần của các ứng phó chính sách đối với sự biến đổi khí hậu. Các chương trình KHHGĐ dựa trên các quyền gồm giảm tử vong mẹ, tăng quyền năng cho phụ nữ, phòng tránh mang thai không theo mong muốn (kể cả những phụ nữ có HIV), tránh lây truyền HIV từ mẹ sang con, tăng tiếp cận bao cao su, giảm tỷ lệ viêm nhiễm qua đường tình dục kể cả HIV, và giảm nghèo.

Tuy nhiên lời kêu gọi trên vẫn chưa thu hút được các chính khách trong việc vận động hành lang về môi trường. Có thể đây là do phản ứng thái quá của các chính sách quá lưu tâm tới “kiểm soát dân số” của thập kỷ 1960 và 1970 làm tăng sự lo ngại về tăng dân số quá mức trên toàn cầu, dẫn đến một số báo cáo về các thủ thuật đình sản đã được áp dụng mà khách hàng không hoàn toàn chấp thuận.

Nhằm giảm lượng khí thải của hiệu ứng nhà kính, các quốc gia kém phát triển nhất tập trung chủ yếu vào sự thích nghi với biến đổi khí hậu và cách hạn chế những tác hại của biến đổi khí hậu. Hầu hết (93%) trong số 40 quốc gia kém phát triển nhất đã đệ trình Uỷ ban môi trường toàn cầu các văn bản chiến lược về mối quan tâm của họ tới tác động của gia tăng dân số nhanh tới khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Chương trình hành động thích ứng quốc gia

Công ước khung của LHQ về Biến đổi khí hậu (24/3/1994) gồm 2 mục tiêu chính: (1) Giảm lượng khí thải của hiệu ứng nhà kính kể cả khí carbon dioxide, đang được thực thi thông qua Nghị định thư Kyoto. (2) Các quốc gia thành viên của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cam kết hỗ trợ tài chính cho các quốc gia đang phát triển có yêu cầu trợ giúp thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu. 

Từ năm 2004 đến tháng 4/2009, theo đề nghị của Tổ chức môi trường toàn cầu, 40 chính phủ (hầu hết là các quốc gia châu Phi và một số quốc gia Nam Á và Thái Bình Dương) đã trình các Chương trình hành động thích ứng Quốc gia (NAPA), trong đó có các chiến lược thích ứng phù hợp để nhận hỗ trợ từ Quỹ các Quốc gia kém phát triển nhất do Tổ chức môi trường toàn cầu quản lý. Hiện Quỹ này đã chi 172 triệu USD, và dự kiến sẽ chi 500 triệu USD vào năm 2012.

Các báo cáo NAPA được xây dựng với sự tư vấn của các tổ chức dân sự và địa phương, vì thế tránh được luồng thông tin một chiều giữa nhà tài trợ và người nhận tài trợ. Phân tích từ các báo cáo này cho thấy, ngoài mối quan tâm về tác động của các điều kiện thời tiết thay đổi tới các nhân tố như khả năng bị tổn thương do lũ lụt, hạn hán và giảm năng suất cây trồng, 37 trong số 40 báo cáo đề cập đến “dân số gia tăng nhanh” như một yếu tố thành phần.

Có nhiều vấn đề liên quan đến những ảnh hưởng cụ thể của biến đổi khí hậu. Hầu hết (38/40 quốc gia) coi nguy cơ lũ lụt đang gia tăng, trong khi 36 nước cho rằng hạn hán sẽ kéo dài và thường xuyên hơn. 33 nước lo giảm năng suất cây trồng, 35 nước dự kiến sẽ bị khan hiếm về nước ngọt, và 37 nước quan ngại về đa dạng sinh học. Đối với mối quan tâm về sự gia tăng dân số nhanh của 37 nước, 6 nước (Ethioppia, Gambia, Kiribati, Malawi, Samoa và Uganda) xác định đây là một vấn đề ưu tiên. 

Những tác hại của biến đổi khí hậu khác nhau giữa các quốc gia và khu vực, ví dụ tại Bangladesh lũ lụt tăng do bão và mực nước biển dâng cao, trong khi tại phần lớn khu vực châu Phi hạ Sahara, mối quan tâm chính là giảm sản xuất nông nghiệp.

 

10 vấn đề được đề cập nhiều nhất liên quan tới gia tăng dân số tại 37 quốc gia

Vấn đề

Số quốc gia nêu vấn đề (37)

- Xuống cấp/sói mòn đất

21

- Khan hiếm nước sạch

18

- Di cư

18

- Phá rừng

17

- Thiếu đất nông nghiệp

14

- Mất hệ sinh thái

11

- Bệnh tật và những thúc ép đối với hệ thống y tế

8

- Mất nơi sống tự nhiên

8

- Giảm dự trữ cá

7

- Bị bỏ rơi

5

 

 

 

Sự tác động qua lại giữa nhân khẩu học và khí hậu

Với tốc độ biến động nhân khẩu học hiện nay như ở nhiều nước kém phát triển, gia tăng dân số được coi là một vấn đề chiến lược liên quan tới sự suy giảm tài nguyên. Ví dụ, dân số của Rwanda và Uganda sẽ tăng gần gấp đôi và gấp ba vào năm 2050, nhưng tỷ lệ sử dụng tránh thai hiện đại ở các nước này rất thấp, 18% ở Uganda và 10% ở Rwanda.

An ninh lương thực cũng là một chủ đề lớn. Các quốc gia ven biển và đảo nhỏ nhấn mạnh đến tác động của biến đổi khí hậu và dân số tăng nhanh tới huỷ hoại nguồn hải sản và năng suất cây trồng. Bên cạnh đó sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên là một chủ đề trọng tâm của tất cả các báo cáo như suy giảm rừng tự nhiên ở Uganda. Biến đổi khí hậu và gia tăng dân số nhanh sẽ tác động đến các nhóm dân số đang đối mặt với di cư và bị tổn thương về kinh tế ở Rwanda, trong khi Bangladesh đề cập tới ảnh hưởng của mực nước biển dâng với gia tăng dân số tới khả năng sẵn có nước ngọt.

Các báo cáo NAPA khác (Gambia và quần đảo Solomon) kết nối các vấn đề về nước ngọt và mật độ dân số với tăng khả năng lây lan các bệnh truyền nhiễm. Tóm lại 3 chủ đề chính được đề cập qua các báo cáo NAPA: (i) Giảm cung – tăng dân số nhanh và biến đổi khí hậu gây tác động làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên; (ii) Tăng cầu - tăng dân số nhanh sẽ làm tăng nhu cầu tài nguyên bị suy giảm bởi biến đổi khí hậu; và (iii) Khả năng bị tổn thương trước thảm hoạ thiên nhiên – như di cư bắt buộc và định cư tại các vùng có nguy cơ bão lụt, hạn hán, và mắc bệnh truyền nhiễm

Một cách tiếp cận lồng ghép

Trong khi 37 quốc gia xác định gia tăng dân số nhanh là vấn đề quan trọng để tìm hiểu tác động của biến đổi khí hậu, 6 quốc gia khác đề xuất nêu trực tiếp vấn đề tăng dân số thông qua các chiến lược thích ứng. Điều này có thể do các bộ môi trường của các quốc gia này đang soạn thảo các báo cáo NAPA trong khi vấn đề “dân số” lại là công việc của Bộ y tế. Một điều đáng tiếc là đối với hầu hết các nước, KHHGĐ vẫn là một nội dung của SKSS và chưa được đề cập trên một quy mô lớn với hướng tiếp cận đa ngành. Trên thực tế, rất nhiều bộ về môi truờng đã đề cập đến sự gia tăng dân số nhanh sẽ làm mất cân bằng môi trường sống.

Tuy nhiên các chính phủ vẫn có những ứng phó. Một số tổ chức dân sự quan tâm đến tác động của các xu hướng khí hậu tới phúc lợi con người đã đi tiên phong trong việc thực thi lồng ghép sức khoẻ tình dục và sinh sản với thích ứng môi trường. Xu hướng này kêu gọi lồng ghép các dịch vụ SKSS vào các chương trình HIV/AIDS và cho thấy một nhu cầu lồng ghép đa ngành lớn hơn.

Ví dụ, Dự án quản lý nước của Hội tài nguyên và mạng lưới dân số, sức khoẻ và môi trường Ethiopia hỗ trợ các mục tiêu của NAPA thông qua lồng ghép KHHGĐ vào các hoạt động nông nghiệp. Dự án được thực hiện tại tỉnh Wichi từ 2005-2007 với 3000 hộ nông dân giúp tăng năng suất vụ mùa và giảm thiểu thiệt hại về đa dạng sinh thái. Hạn hán nặng nề tại khu vực này đã khiến người dân cắt giảm diện tích rừng tự nhiên để làm nông nghiệp, điều này đã khiến đất đai bị sói mòn nghiêm trọng. Dự án gồm 3 hoạt động: (i) Huấn luyện người dân và các tổ chức địa phương cách quản lý đất bền vững, nâng cao ý thức về hệ sinh thái lành mạnh (gồm kết hợp nông nghiệp và rừng, tưới bằng bơm tay, đánh giá tác động môi trường sau bón phân; (ii) Phục hồi các vùng đất khô và ẩm bằng việc tái trồng rừng; (iii) Thúc đẩy thực hiện các biện pháp tránh thai hiện đại và nâng cao hiểu biết về HIV/AIDS qua việc mời các nhà chuyên môn từ các cơ sở y tế địa phương tham gia vào các khoá đào tạo về môi trường. Sự lồng ghép này dựa trên phân tích rằng gia tăng dân số nhanh là một nguyên nhân dẫn đến phá rừng và hơn thế làm hỏng mục đích của dự án trong việc cải thiện nâng cao sức khoẻ và phúc lợi.

4 năm sau triển khai, dự án đã đạt kết quả tốt, hệ thống tưới tiêu được cải thiện, các phương pháp bón phân và trồng cây đã giữ cho đất khỏi bị sói mòn góp phần giảm phá rừng. Hơn thế, bằng việc lồng ghép KHHGĐ và nâng cao nhận thức về HIV/AIDS, các lợi ích môi trường được đảm bảo bền vững; môi trường không bị suy thoái bởi gia tăng dân số nhanh; và sức khoẻ tình dục và sinh sản được cải thiện.

Kết luận

Các báo cáo NAPA với nhấn mạnh vào các xu hướng nhân khẩu học đưa ra một cơ sở mạnh mẽ cho việc lồng ghép các nỗ lực thích ứng, mà báo cáo của Kiribati đã nêu một cách ngắn gọn như sau: Quy mô dân số và sự gia tăng đã tác động đáng kể tới tình trạng môi trường, làm trầm trọng thêm khả năng bị tổn thương và nhu cầu thích ứng. Vì thế, chính sách dân số là một sự cân nhắc quan trọng của các chiến lược thích ứng.

Ở cấp quốc gia, việc kết hợp triển vọng nhân khẩu học cần phải lồng ghép các chương trình KHHGĐ tự nguyện và dựa trên các quyền với những nỗ lực thích ứng, bộ y tế và môi trường cần chia sẻ những ưu tiên.

Ở cấp quốc tế, việc điều chỉnh các chi tiêu hỗ trợ cho KHHGĐ thông qua lồng ghép sức khoẻ tình dục và sinh sản với chương trình HIV/AIDS là quan trọng cùng với những nỗ lực quốc tế hỗ trợ cho các nước kém phát triển nhất trong việc thích ứng với sự biến đổi khí hậu.

HOÀNG SƠN lược dịch

Nguồn: Bulletin of the World Health Organization, 11/2009.