KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC VỀ TẬN DỤNG CƠ HỘI VÀ

 ỨNG PHÓ VỚI THÁCH THỨC CỦA CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG

TS. GIANG THANH LONG*

1.              Giới thiệu

Trong quá trình phát triển kinh tế, nhiều nước đã trải qua giai đoạn bùng nổ dân số khi tỷ suất sinh tăng nhanh và tỷ suất chết giảm mạnh. Trước bối cảnh đó, chính phủ các nước này đã nỗ lực kiểm soát dân số khiến cho tỷ suất sinh giảm và tốc độ tăng dân số chậm lại. Hệ quả của các chính sách dân số này là quá trình chuyển đổi cơ cấu tuổi diễn ra nhanh với những hàm ý chính sách quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Một vấn đề chính sách quan trọng đã và đang được chính phủ nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, bàn luận đến trong chiến lược tăng trưởng và phát triển kinh tế gắn liền với quá trình dân số nêu trên là tận dụng cơ cấu dân số “vàng”. Lý do cơ bản của mối quan tâm này là cơ cấu dân số “vàng” – tình trạng dân số với tỷ số phụ thuộc thấp và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh – chỉ xảy ra một lần. Quan trọng hơn, cơ cấu dân số “vàng” sẽ không tự đến và mang lại “lợi tức” nếu chính phủ các nước không có chính sách phù hợp (Mason và cộng sự, 2008).

Dân số Việt Nam trải qua nhiều thời kỳ phát triển với những biến động lớn về tỷ suất sinh và tỷ suất chết. Tổng tỷ suất sinh (TFR) đã giảm nhanh từ mức 4,80 năm 1979 xuống mức 2,33 vào năm 1999 và 2,03 vào năm 2009, tức là TFR đã thấp hơn tỷ suất sinh thay thế. Kết quả là, tỷ số phụ thuộc dân số giảm từ 98 vào năm 1979 xuống 70 vào năm 1999 và 51 vào năm 2009[1]. Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi dân số với những biến động mạnh mẽ của cơ cấu tuổi theo hướng dân số trẻ em giảm, dân số trong độ tuổi lao động và dân số cao tuổi tăng. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh (2009) chỉ ra rằng biến đổi cơ cấu tuổi dân số đã đóng góp 14,5% cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn vừa qua. Tuy nhiên, con số này còn rất khiêm tốn nếu so sánh với các nước Đông Á đã thành công trong việc tận dụng cơ cấu dân số “vàng” (ví dụ như Nhật Bản) với mức đóng góp xấp xỉ 30%. Để phát huy hơn nữa các thành tựu đã nêu trong bối cảnh dân số bước vào thời kỳ “vàng”, chiến lược dân số phải trở thành một trong những chiến lược quan trọng hàng đầu cho giai đoạn phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn 2011-2020 với mục tiêu trở thành một nước công nghiệp và được xếp vào nhóm nước thu nhập trung bình.

Việc nghiên cứu kinh nghiệm các nước để rút ra bài học cho Việt Nam thực sự cần thiết và cấp bách vì cùng với sự gia tăng của dân số trong độ tuổi lao động, dân số Việt Nam cũng sẽ bước vào giai đoạn già hóa. Không tận dụng được cơ hội “vàng” của dân số, Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi tỷ số phụ thuộc dân số tăng trở lại chủ yếu là do tỷ số phụ thuộc người cao tuổi tăng lên.

2.           Cơ cấu dân số “vàng” và tăng trưởng kinh tế: Kinh nghiệm Đông Á và Đông Nam Á

Để so sánh và đưa ra đề xuất chính sách cho Việt Nam, trong bài viết này, tỷ số phụ thuộc dân số được tính theo định nghĩa của Liên hợp quốc (2008), tức là tỷ số giữa tổng số trẻ em (0-14 tuổi) và người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) với 100 người trong tuổi lao động (15-64 tuổi). Cơ cấu dân số “vàng” xảy ra khi tỷ số này nhỏ hơn 50. Số liệu và dự báo của nhiều tổ chức cho thấy mỗi nước sẽ có một giai đoạn dân số đạt cơ cấu “vàng” khác nhau với thời điểm xuất phát và kết thúc khác nhau, phụ thuộc vào biến động dân số của nước đó. Biến động dân số, trong đó quan trọng nhất là biến động của tỷ suất sinh và tỷ suất chết, làm thay đổi cơ cấu tuổi dân số và tạo ra dân số “vàng”. Theo định nghĩa đã nêu thì giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” của Việt Nam bắt đầu từ năm 2010 và kết thúc vào năm 2040. Cùng lúc đó, tỷ lệ người cao tuổi cũng vượt qua ngưỡng 7,5% nên Việt Nam cũng bước vào giai đoạn “già hóa” dân số từ năm 2010. Đây là đặc điểm riêng  của dân số Việt Nam – “vàng” và “già hóa” xảy ra cùng một thời điểm – nên việc rút kinh nghiệm từ các nước Đông Á và Đông Nam Á là hết sức quan trọng.

Như đã nêu trên, cơ cấu dân số “vàng” chỉ xuất hiện khi một nước có các thể chế xã hội, kinh tế, chính trị và các chiến lược, chính sách thích hợp cho phép hiện thực hoá tiềm năng tích cực của nó. Thực tế cho thấy không phải quốc gia nào cũng thành công trong việc chuẩn bị và tận dụng cơ hội dân số “có một không hai” này. Ví dụ, mặc dù có cùng mức thu nhập bình quân đầu người vào giữa những năm 1950 nhưng Nhật Bản và Hàn Quốc thành công một cách thần kỳ về tăng trưởng và phát triển kinh tế bằng việc tận dụng tốt các nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực, trong khi Thái Lan lại có thể “mắc bẫy thu nhập trung bình” sau vài thập kỷ tăng trưởng, còn Inđônêxia và Philipin đối mặt với nguy cơ đình trệ do những bất ổn về chính trị và kinh tế. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng ASEAN-4 (gồm có Malaysia, Inđônêsia, Thái Lan và Philippin) phải mất vài thập kỷ để có được năng lực tăng trưởng và phát triển công nghiệp mà Đài Loan, Hàn Quốc và Singapo đạt được chỉ sau hai thập kỷ.

Trong sự phát triển thần kỳ của Đông Á, biến đổi cơ cấu tuổi dân số đã được phát huy một cách tối đa nhờ chính sách phù hợp. Nghiên cứu của Bloom và Williamson (1998) cho thấy biến đổi cơ cấu tuổi dân số đóng góp khoảng 30% cho tăng trưởng kinh tế của khu vực này. Cho đến nay, các nghiên cứu về “thần kỳ Đông Á” đều cho rằng các nhân tố cơ bản quyết định tăng trưởng khu vực này là (i) nguồn nhân lực dồi dào và chất lượng, (ii) dân số ổn định và nhiều việc làm và (iii) tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư cao. Giai đoạn phát triển “thần kỳ” chứng kiến chi tiêu cho giáo dục và y tế tăng lên nhanh chóng, đồng thời, việc làm và năng suất lao động trong các ngành dịch vụ, chế tạo và sản xuất nông nghiệp đều tăng. Bản thân các hộ gia đình có ít con hơn và thu nhập cao hơn nên khả năng chi tiêu cho giáo dục và y tế cũng tăng lên đáng kể. Một đặc điểm cũng rất quan trọng là các chính sách được thực thi với sự chú trọng nhiều hơn về bình đẳng giới trong y tế, giáo dục và nhiều lĩnh vực xã hội khác, kết quả là, tỷ lệ lao động nữ ngày càng tăng và thu nhập cao hơn đã giúp họ nâng cao vị thế xã hội và cải thiện sức khỏe sinh sản. Tiết kiệm và đầu tư cũng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế “thần kỳ” của khu vực này.

2.1.   Nhật Bản

Nhật Bản hiện là nền kinh tế đứng thứ hai thế giới có dân số già nhất thế giới với tỷ lệ người cao tuổi là hơn 22% tổng dân số, tuổi thọ trung bình là 86,1 vào năm 2008. Tuổi trung vị của dân số Nhật Bản tăng nhanh, từ 22,3 tuổi năm 1950 lên 37,4 tuổi năm 1990 và 44,2 tuổi năm 2009. Theo dữ liệu dân số của Liên hợp quốc (2008) thì Nhật Bản đã kết thúc cơ cấu dân số “vàng” bởi nó đã diễn ra trong giai đoạn 1965-2000 – giai đoạn chứng kiến sự bùng nổ kinh tế của Nhật Bản trong vòng 30 năm, từ 1955 đến cuối những năm 1980.

Kinh tế Nhật Bản bước vào giai đoạn tăng trưởng cao sau thời kỳ phục hồi 1945 – 1949 và chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình của Nhật Bản đạt 10% trong thời kỳ từ giữa những năm 1950 đến những năm 1970. Tăng trưởng kinh tế cao và ổn định làm thay đổi căn bản kinh tế-xã hội Nhật Bản. Từ những năm 1970, Nhật Bản đã vượt qua Cộng hòa Liên bang Đức để trở thành nền kinh tế đứng thứ hai sau Mỹ về tổng sản phẩm quốc dân, hoàn tất quá trình rút ngắn khoảng cách với các nước phương Tây. Nhìn chung, động lực chính của tăng trưởng thời kỳ hậu chiến chính là sự bùng nổ của đầu tư tư nhân và năng suất lao động tăng mạnh. Đầu tư lớn vào xây dựng nhà xưởng và nghiên cứu triển khai đã thúc đẩy đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động. Đổi mới công nghệ ở Nhật Bản ban đầu thường diễn ra ở các doanh nghiệp lớn rồi sau đó lan tỏa đến các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Giữa những năm 1950, Nhật Bản còn kém xa Anh và Mỹ, nhưng từ đầu những năm 1970 đến cuối 1980, các ngành công nghiệp như ô tô và điện tử ở Nhật Bản đã đạt đỉnh cao. Nhiều yếu tố đã thúc đẩy đầu tư tư nhân, trong đó đặc biệt quan trọng là chính sách lãi suất vay đầu tư thấp, chính sách công nghiệp hợp lý và chuyển giao công nghệ nước ngoài mà chính phủ Nhật Bản thực hiện trong nhiều năm.

Tuy nhiên, hệ thống kinh tế Nhật Bản thời hậu chiến như đã nêu chỉ hoạt động tốt cho đến cuối những năm 1980 bởi nó không còn phù hợp với một nền kinh tế tri thức hiện đại, hội nhập và cạnh tranh quốc tế ngày càng mạnh mẽ. Điều này thể hiện rõ qua phản ứng chậm chạp của cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân đối với những biến đổi của toàn cầu hóa. Đây là nguyên nhân cơ bản gây ra đình trệ kéo dài của nền kinh tế Nhật Bản trong thập kỷ vừa qua. Trong những năm 1990 khi kinh tế thế giới trải qua những biến đổi lớn với   sự trỗi dậy của nhiều nền kinh tế mới nổi thì Nhật Bản lại “loay hoay” đối mặt với những thách thức mới như giá tài sản giảm đột biến, thị trường lao động và kinh tế trì trệ. Về mặt dân số, TFR chỉ là 1,21 (năm 2008) nên Nhật Bản lại đối mặt với dân số già rất nhanh. Trong bối cảnh đó, chính phủ Nhật Bản hiện đang tìm mọi biện pháp chính sách để giảm thiểu gánh nặng từ “làn sóng chuyển đổi dân số lần thứ hai”[2] này, đặc biệt là cho hệ thống hưu trí thực thanh thực chi (PAYG – Pay-As-You-Go)[3], trong khi phải giải quyết nhiều vấn đề cho một nền kinh tế thiếu công việc đủ thời gian cho người lao động. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng dân số già nhanh và hệ thống hưu trí không thích ứng là hai trong nhiều nguyên nhân dẫn đến đình trệ kéo dài của nền kinh tế Nhật Bản từ cuối những năm 1990 trở lại đây.

2.2.      Hàn Quốc

Hàn Quốc là một nước điển hình khác của khu vực Đông Á trong việc tận dụng cơ cấu dân số “vàng”. Tính toán của Văn phòng Tham khảo Dân số Hoa Kỳ (2007) cho thấy, cơ cấu dân số “vàng” của Hàn Quốc diễn ra trong vòng 49 năm (1965-2014). Từ một nước nghèo với thu nhập bình quân đầu người khoảng 168 USD/năm vào năm 1955, Hàn Quốc vươn lên trở thành quốc gia có nền kinh tế đứng thứ ba ở Châu Á và thứ 13 trên thế giới hiện nay. Từ giữa những năm 1960, các chiến lược phát triển kinh tế 5 năm của Hàn Quốc đều theo định hướng công nghiệp hóa nhanh dựa trên xuất khẩu. Để làm được việc này, chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra hàng loạt gói chính sách hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tư nhân cho xuất khẩu như vay ngân hàng lãi suất thấp, ưu tiên nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất, cho phép vay vốn nước ngoài và ưu đãi thuế. Bên cạnh việc thúc đẩy nội lực công nghiệp, chính phủ Hàn Quốc cũng chủ động hướng đến sự trợ giúp về kỹ thuật và tài chính cùng với việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Kết quả là Hàn Quốc nhanh chóng trở thành một cường quốc kinh tế trong khu vực và là một trong bốn nước công nghiệp mới (NICs) vào những năm 1980. Sự vươn lên mạnh mẽ của Hàn Quốc khẳng định bằng sự khác biệt về tri thức, bí quyết cũng như sự tích tụ nhanh nguồn vốn và lao động trong thời kỳ cơ cấu dân số “vàng”. Có được kết quả này, ngoài những chính sách đã nêu, chính phủ Hàn Quốc đã nỗ lực xây dựng các chiến lược đầu tư nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua y tế và giáo dục. Chỉ trong một thời gian ngắn, Hàn Quốc gia nhập Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và là một trong những nước có mức chi cho giáo dục và y tế bình quân đầu người cao nhất.

Tận dụng cơ cấu dân số “vàng” nhưng cũng chuẩn bị dân số già khi TFR chỉ đạt ở mức 1,1 (năm 2008), chính phủ Hàn Quốc đã và đang xây dựng chiến lược an sinh xã hội, đặc biệt là chính sách hưu trí và chăm sóc y tế dài hạn cho người cao tuổi, để tránh “vết xe đổ” của các nước đi trước như Nhật Bản.

2.3.   Khu vực Đông Nam Á

Quá trình chuyển đổi dân số của các nước Đông Nam Á diễn ra chậm hơn so với các nước Đông Á. Dữ liệu của Liên hợp quốc (2008) cho thấy, các nước này mới bắt đầu bước vào giai đoạn cơ cấu dân số “vàng” gần đây, ví dụ Singapo từ năm 1980, Thái Lan từ năm 1990... với độ dài trung bình là 30 năm.

Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người khu vực Đông Nam Á trong hai thập kỷ gần đây đạt 7%, nhưng tính toán của ADB (1997) cho thấy biến đổi cơ cấu tuổi dân số chỉ đóng góp khoảng 0,7 điểm phần trăm, còn tính toán của Bloom và Williamson (1998) là khoảng 1,0 điểm phần trăm, tức là mức đóng góp chỉ là 10%-14% - thấp hơn rất nhiều con số 30% của khu vực Đông Á. Một trong những nguyên nhân quan trọng lý giải cho thực trạng này chênh lệch giữa dân số hoạt động kinh tế với dân số không hoạt động kinh tế không đáng kể (Bloom và cộng sự, 2003).

Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng chỉ ra lý do vì sao các nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế khác nhau, đó là sự khác biệt lớn về chất lượng thể chế và chính sách, đặc biệt là các chính sách về dân số, giáo dục và y tế. Ví dụ, nghiên cứu của Navaneetham (2002) cho thấy Philipin và Singapo trước đây có cùng chất lượng nguồn nhân lực nhưng Philipin lại luôn có tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người chậm hơn do tốc độ tăng dân số còn cao và chất lượng thể chế chưa tốt. Malaysia và Thái Lan cũng nỗ lực đầu tư vào giáo dục và y tế để có lao động chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế tạo, nhưng sau hơn hai thập kỷ thì cả hai nước này đang gặp nhiều khó khăn trong việc vượt qua “bẫy thu nhập trung bình” để tiến lên bước phát triển như Đài Loan, Hàn Quốc hoặc Singapo. Như Ohno (2008) giải thích, nguồn nhân lực phụ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, nhất là về các kỹ năng quản lý và sản xuất, là nguyên nhân cơ bản khiến cho hai nước không thể “bứt phá”. Tốc độ tăng việc làm và năng suất lao động không cao cũng là những nguyên nhân căn bản làm cho quá trình đuổi kịp của hai nước này diễn ra chậm chạp.

3.   Một vài kết luận

Càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu thì Việt Nam càng phải chú trọng tăng trưởng theo chiều sâu mà ở đó vốn nhân lực đóng vai trò hàng đầu. Trong điều kiện năng lực tài chính và quản lý còn nhiều hạn chế thì chúng ta không nên làm quá nhiều việc một lúc, mà cần phải lựa chọn các ưu tiên cho từng giai đoạn cụ thể. Trong thập kỷ tới, chúng tôi cho rằng Việt Nam cần xem xét các nhiệm vụ được coi là các ưu tiên sau đây.

Thứ nhất, đối với trẻ em, chính phủ cần thúc đẩy các dịch vụ chăm sóc thai sản và các chương trình dinh dưỡng trẻ em. Bên cạnh đó, các chính sách nâng cao chất lượng, chứ không phải mở rộng quy mô, của giáo dục phổ thông cơ sở và phổ thông trung học cần phải được thực hiện có hiệu quả. Việc đảm bảo khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế và giáo dục có chất lượng cho các nhóm dân số phải là một ưu tiên trong các chính sách có liên quan. 

Thứ hai, đối với dân số trong độ tuổi lao động – dân số sẽ tăng nhanh trong hai thập kỷ tới – thì việc tạo cơ hội việc làm có chất lượng ở tất cả các ngành, khu vực và vùng kinh tế là hết sức quan trọng. Đầu tư công cần chú trọng hơn nữa đến dân cư nông thôn nhằm đa dạng hóa hoạt động sản xuất nông nghiệp và điều này đòi hỏi phải có các chương trình đào tạo nghề theo nhu cầu và chương trình tín dụng nhỏ. Đặc biệt, chính sách cần chú trọng hơn nữa đến giáo dục và cung cấp các dịch vụ sức khỏe sinh sản cho nhóm dân số này.

Thứ ba, Việt Nam cũng sẽ trải nghiệm dân số già hóa cùng với thời kỳ cơ cấu dân số “vàng” nên các chính sách và chương trình hỗ trợ người cao tuổi, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ thu nhập thông qua hệ thống trợ giúp xã hội, cần phải được xem xét và cung cấp đến mọi người cao tuổi. Chuẩn bị ngay từ bây giờ mới có thể đảm bảo “già hóa thành công” bằng một lực lượng người cao tuổi khỏe mạnh, năng động và tích cực đóng góp cho xã hội.     

Đối với Việt Nam, tận dụng cơ cấu dân số “vàng” nói riêng và việc xây dựng, thực hiện chính sách, chiến lược dân số nói chung đòi hỏi phải chú ý đến ba vấn đề cốt lõi, đó là (i) nâng cao nhận thức về cơ hội “vàng”, (ii) quán triệt yếu tố dân số vào các chính sách, chiến lược nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và (iii) đẩy mạnh ngay một số nghiên cứu chuyên sâu và định lượng có liên quan.



* Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.

[1] Trong các cuộc Tổng Điều tra Dân số ở Việt Nam, tỷ số phụ thuộc dân số được tính bằng tỷ số giữa tổng số trẻ em (0-14) và người cao tuổi (từ 60 trở lên) với 100 người trong tuổi lao động (15-59).

[2] Làn sóng thứ nhất là làn sóng chuyển đổi cơ cấu dân số theo hướng trẻ hóa (nhiều người trong độ tuổi lao động), trong khi làn sóng thứ hai là làn sóng chuyển đổi cơ cấu dân số theo hướng già hóa (dân số cao tuổi tăng nhanh).

[3] Hệ thống hưu trí PAYG dựa trên nguyên tắc tài chính là các khoản đóng góp hiện nay được dùng để chi trả cho các khoản thanh toán (hưu trí, tử tuất) của người đang được hưởng. Sau đó, khi người đóng góp về hưu, họ lại được chi trả bằng phần đóng góp của các thế hệ tương lai. Trong bối cảnh dân số già hóa (nhiều người về hưu hơn và thời gian hưởng hưu dài hơn do tuổi thọ cao hơn) với sự sụt giảm số lao động tham gia hệ thống, rõ ràng nguy cơ sụp đổ hệ thống về mặt tài chính có thể thấy rõ.