ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

THÍCH ỨNG VỚI GIAI ĐOẠN CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG

TS. NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG*      

Các xu hướng dân số và thị trường lao động cho thấy, thời kỳ dân số vàng là cơ hội để phát triển kinh tế và xã hội. Đây là thời điểm nước ta có nguồn lao động dồi dào nhất (do số thanh niên bước vào tuổi lao động giảm và gia tăng số người già ra khỏi tuổi lao động). Gánh nặng phụ thuộc kinh tế giảm tương đối là điều kiện để tăng năng suất lao động.

Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020 là nước có mức thu nhập trung bình cũng cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới các chính sách phát triển kinh tế và thị trường lao động. Các chính sách về thị trường lao động có vai trò rất quan trọng trong việc tái phân phối lao động, hỗ trợ dịch chuyển lao động – gia các ngành nghề, trình độ k năng, địa điểm (thông qua di cư) để đạt được mục tiêu tăng trưởng hiu quả và phát trin bn vững. Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động phải thực hiện đồng thời trên 3 phương diện: thay đổi về việc làm và nghề nghiệp; nâng cao trình độ đào tạo và tay nghề; di chuyển lao động từ khu vực nông thôn ra đô thị. Giải quyết tốt mối quan hệ này sẽ quyết định sự thành công của các chính sách phát triển thị trường lao động trong việc giải quyết bài toán giữa tăng trưởng và tạo việc làm, ổn định xã hội. Điều này cho thấy cần phải trú trọng những vấn đề sau:

1. Tiếp tục tái cấu trúc nền kinh tế, toàn diện lao động

 Vit Nam phi tiếp tục phát trin các ngành sdụng nhiều lao động, đc bit các ngành khả năng trao đổi thương mại, xuất khẩu, dịch vụ... Điều này cần phải to điều kin thun lợi cho sự phát trin của các doanh nghip nhân, đc bit các doanh nghiệp nhỏ vừa, kể c trong khu vực dịch v và do các doanh nghiệp đó là nơi tạo ra phn lớn việc làm.

Tuy nhiên, cũng cần phải tránh bẫy “chi phí lao động thấp”, thông qua việc đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, để tăng giá trị của lao động, khả năng cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam.  

2. Phát triển nông thôn, hiện đại hóa nông thôn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp

Nông thôn trong 10 năm tới vẫn là nguồn cung lao động cho các ngành phi nông nghiệp và khu vực thành thị. Do vậy, cần bảo đảm đủ nguồn lực về con người, vật chất và hạ tầng cơ sở nông thôn, thực hiện tốt các chính sách và chương trình phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn nhằm chuyển dịch lao động từ khu vực có năng suất thấp, sang khu vực có năng suất cao và sự dịch chuyển này sẽ tiếp tục khi nào vẫn còn một lượng lớn lao động bán tht nghip nông thôn.

Vai trò của công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn cần dựa vào phát triển có hiệu quả nguồn nhân lực nông thôn, các chính sách cụ thể (tái cơ cấu phát triển kinh tế, cơ cấu đầu tư có lợi cho lao động); hỗ trợ phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp; đa dạng hóa ngành nghề ở khu vực nông thôn; tăng chất lượng của các ngành sử dụng nhiều lao động, tăng cơ hội việc làm, đặc biệt là cho thanh niên.

Tuy nhiên, theo dự báo, đến cuối giai đoạn 2018-2020 việc chuyển dịch cơ cấu lao động cần phải được thực hiện dựa trên việc tăng năng suất lao động. Do vậy, các chính sách về tăng cường đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là chính sách về giáo dục, đào tạo phải được chú trọng hơn và hiệu quả hơn.

3.        Chuyển dịch lao động nông thôn- đô thị

Chuyển dịch lao động nông thôn-đô thị là sự chuyển dịch đáp ứng sự phát triển của khu vực đô thị và tạo điều kiện cho tăng trưởng. Do vậy, các chính sách đầu tư về hạ tầng cơ sở, mạng lưới thông tin, phát triển đô thị đúng tầm (kết hợp hài hòa và hợp lý chính sách phát triển nông thôn), sẽ tạo ra các điều kiện để giải quyết vấn đề về năng suất lao động, tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu xã hội, tăng quyn bình đẳng, góp phần phân blợi ích của tăng trưng rộng khp cho toàn bộ dân số.

Theo các chuyên gia, thời kỳ này Việt Nam cần có sự kết hợp linh hoạt và có hiệu quả chiến lược phát triển kinh tế và phát triển thị trường lao động: (i) Tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng các ngành chế tạo, đặc biệt là chế biến nông sản, các ngành hướng ra xut khu, sử dụng nhiều lao động để giải quyết các vấn đề cơ bản mất cân đối cung cầu trong quá khứ: Gim tht nghip, tăng thời gian làm việc, gim nghèo; (ii) tập trung nâng cao trình độ đào tạo và kỹ năng nguồn nhân lực để hỗ trợ di chuyển từ khu vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp, từ nông thôn ra thành thị và nâng cao trình độ đào tạo, chuyên môn nghiệp vụ nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhằm mục tiêu mà Việt Nam đang theo đuổi, chuyn từ nhóm nước có thu nhp thp lên nhóm nước thu nhp trung bình.

Hỗ trợ các ngành sử dụng nhiều lao động. Khả năng tạo việc làm của đô thị sẽ bị ít đi nếu như vốn đầu tư trong khu vực thành thị đầu tư vào thiết bị tiên tiến hơn sử dụng ít lao động (theo các chuyên gia, tốc độ tăng vic làm của Vit Nam hin vn chậm do cu trúc chi phí vốn sai lch, to lợi thế cho các ngành công nghip sử dụng nhiu vốn của khu vực kinh tế nhà nước, trong khi đó, khu vực kinh tế nhân khả năng tạo ra nhiu vic làm hơn lại không được tiếp cận nguồn tín dụng một cách thỏa đáng);

Các chính sách khuyến khích sự di chuyển lao động giữa các vùng, các ngành và duy trì sự linh hot trên thị trường lao động: Trước hết, cần phải có các chính sách điều tiết hợp lý, thông qua các chính sách hỗ trợ di chuyển, tiếp cận dịch vụ xã hội tại đô thị để hỗ trợ di dân từ nông thôn ra đô thị, vượt qua tâm lý cho rằng, việc di cư nông thôn ra đô thị sẽ làm trầm trọng vấn đề việc làm và thất nghiệp trong các đô thị; tăng cường hiệu quả của B luật lao động, giảm thiểu sự phân biệt đối xử giữa các nhóm doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (chính sách tiền lương tối thiểu..).

Phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu và cung ứng lao động, phù hợp với nhu cầu ca ni tìm việc, đc bit vùng sâu, vùng xa, miền núi;

Cần có sự đầu thích đáng vào sở hạ tầng đô th, cho phép các ngành sản xut thành thị phát trin và hấp thụ lao động dư thừa từ nông thôn.

Trong bối cảnh già hóa dân số, trong khi gánh nặng về việc làm cho thanh niên, giảm đi một chút do số người bước vào tuổi lao động có xu hướng giảm nhanh, song sự gia tăng của nhóm người cao tuổi lại đặt ra vấn đề sử dụng hợp lý các kiến thức, kỹ năng của người cao tuổi, tiếp tục duy trì việc làm của người cao tuổi một cách hợp lý như: Các hình thức việc làm tại gia, việc làm linh hoạt, việc làm hợp lý vừa với năng lực… Điều này đòi hỏi các chính sách thị trường lao động cần phải điều chỉnh và phải có tổ chức thực hiện .. .

4. Nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo lao động có kỹ năng đối với các ngành nghề, kinh tế mũi nhọn

Một điều cần khẳng định là chất lượng nguồn nhân lực của Việt nam còn thấp và khoảng cách giữa cung-cầu kỹ năng ngày càng tăng. Sự gia tăng của khoảng cách chênh lệch tiền lương giữa các nhóm thành thị-nông thôn, kỹ năng giữa đào tạo và trình độ đào tạo. Do vậy, tập trung phát triển kỹ năng là yếu tố giảm bớt bất bình đẳng trong thị trường lao động

Ngoài ra, bài học của các nước cho thấy, cung lao động trình độ giáo dục trình độ k năng cần phải bt kịp hoc thậm chí đi trước nhu cầu về lao động. Đầu tư vào nguồn nhân lực phải đưc tiến hành trưc khi cầu về lao động kỹ năng trở nên cp thiết đối với quá trình phát triển, tránh đưc sự trì trệ trong tăng trưởng bt bình đẳng ngày càng tăng về lương.

Trong bối cảnh già hóa dân số, tăng cường chất lượng cung lao động có một vị trí rất quan trọng. Sự xuất hiện hàng loạt các nhu cầu về các ngành nghề mới, dịch vụ mới (dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng, người già, công tác xã hội), đặt ra các yêu cầu mới về đào tạo.  

Cuối cùng, trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực trong tương lai do già hóa dân số đến nhanh, công tác đào tạo cần tập trung cho các nghề có chuyên môn kỹ thuật cao đáp ứng sự phát triển theo chiều sâu; đào tạo lao động nông nghiệp, lao động bị thất nghiệp, đặc biệt thanh niên lần đầu tham gia vào thị trường lao động, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, đào tạo kết nối đối với lao động đang làm việc... tạo điều kiện để chuyển dịch cơ cấu lao động theo 3 chiều (nông nghiệp-phi nông nghiệp; nông thôn-đô thị; kỹ năng).

5. Tăng cường an ninh việc làm cho người lao động

Trong bối cảnh nền kinh tế biến đổi nhanh chóng và yêu cầu về việc làm đàng hoàng với yêu cầu mọi người lao động phải được bảo đảm yêu cầu tối thiểu đáp ứng tiêu chuẩn về lao động và thù lao cho người lao động, phải có các chính sách bảo đảm cho lao động di chuyển được an toàn, hay nói cách khác thị trường lao động cần phải an ninh và linh hoạt. Kinh nghiệm của các nước cũng cho thấy, việc chú ý nhiều hơn tới các mạng lưới an sinh xã hội đã giúp gim bớt những hu qu v hội của phát triển kinh tế và thị trường lao động

Hơn nữa, quá trình già hóa dân số sẽ đặt sức ép lên các chính sách về an sinh xã hội đặc biệt là các chính sách y tế, dịch vụ xã hội và trợ giúp xã hội. Do vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội theo hướng tăng cường hiệu quả tiếp cận của người dân, đặc biệt người cao tuổi đến hệ thống an sinh xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ,

Xây dựng các chính sách bảo trợ xã hội phù hợp để hỗ trợ người cao tuổi nghèo, thu nhập thấp, người cô đơn, bị bệnh tật.



* Viện Khoa học Lao động và xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội