TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN THIÊN NIÊN KỶ CỦA VIỆT NAM NĂM 2010


Báo cáo Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) năm 2010 của Việt Nam cập nhật tình hình thực hiện và tập trung đánh giá tổng hợp, phân tích các thành tựu của Việt Nam trong thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Việt Nam trong chặng đường 10 năm qua; đồng thời, xác định khả năng và các thách thức mà Việt Nam phải đối mặt để hoàn thành các mục tiêu MDG vào 2015. Với tất cả nỗ lực và cố gắng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, trong đó thực hiện các mục tiêu MDG, Việt Nam đạt được những thành quả quan trọng về xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, đặc biệt là trẻ em và phụ nữ; tiếp tục đạt được những tiến bộ quan trọng về bình đẳng giới.

Việt Nam đã đạt được nhiều mục tiêu đặt ra vào năm 2010. Tuy nhiên Việt Nam, cần tiếp tục có những nỗ lực mạnh mẽ để phấn đấu hoàn thành một số mục tiêu quan trọng và khó khăn như giảm tỷ lệ tử vong mẹ, đảm bảo bền vững về môi trường, kiềm chế và đẩy lùi tốc độ lây lan HIV/AIDS. Tình hình thực hiện cụ thể được đánh giá tóm tắt như sau:

MDG1: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói

Việt Nam đã giảm tỷ lệ nghèo từ 58,1% năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002 và tiếp tục giảm xuống còn 14,5% vào năm 2008. Tỷ lệ người nghèo cùng cực (thiếu đói) tính theo chuẩn nghèo lương thực thực phẩm đã giảm từ 24,9% năm 1993 xuống còn 10,9% năm 2002 và còn 6,9 năm 2008. Giảm nghèo diễn ra ở tất cả các nhóm dân cư, khu vực thành thị, nông thôn và các vùng địa lý. Tuy nhiên, người nghèo có xu hướng tập trung rõ rệt vào vùng nông thôn, vùng khó khăn, vùng miền núi và ven biển, hải đảo, vùng chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, nhất là tại một số huyện, xã vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và ở các nhóm đối tượng như đồng bào dân tộc thiểu số, trẻ em, phụ nữ, người nhập cư. Nghèo đói tập trung vào những địa bàn đặc thù và ở nhóm đối tượng đặc thù sẽ làm cho nỗ lực tiếp tục giảm nghèo khó khăn hơn, đòi hỏi cách tiếp cận sáng tạo hơn trong thời gian tới. Mặt khác, nghèo đô thị với tính chất khó khăn đặc thù về tiếp cận đối với các dịch vụ xã hội cơ bản, mạng lưới an sinh xã hội, cơ hội việc làm, tham gia các hoạt động xã hội… cũng là vấn đề mới nổi cần được quan tâm thích đáng.

MDG2: Phổ cập giáo dục tiểu học

Việt Nam về cơ bản đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000. Từ đó cho đến nay, Việt Nam tiếp tục duy trì và từng bước nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học nhằm đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học theo đúng độ tuổi; đẩy mạnh phổ cập giáo dục trung học cơ sở hướng tới đạt được mục tiêu phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong năm 2010 đồng thời đặt ra mục tiêu từng bước phổ cập giáo dục trung học phổ thông.

            Để đạt được những thành tựu trên, ngân sách nhà nước dành cho giáo dục liên tục tăng từ 15,5% trong tổng chi ngân sách nhà nước năm 2001 lên 20% năm 2007 và giữ ổn định ở mức này cho đến nay. Nguồn vốn ODA đóng góp vai trò quan trọng trong đầu tư cho giáo dục và chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng nguồn kinh phí dành cho giáo dục và đào tạo. Thêm vào đó, đã huy động được nhiều nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp, các tổ chức chính trị-xã hội và đầu tư nước ngòai đóng góp cho giáo dục.

            Bên cạnh đó, vẫn tồn tại những khó khăn thách thức trên con đường đạt MDG về giáo dục như: Chất lượng giáo dục còn thấp; cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ giáo viên, tài liệu giảng dạy và học tập còn thiếu, đặc biệt là đối với các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn tình trạng chênh lệch trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền, giữa nông thôn và thành thị, giữa nhóm dân tộc thiểu số và đa số.

MDG3: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế cho phụ nữ

Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ về tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ. So với các quốc gia có cùng mức độ phát triển và thu nhập, Việt Nam có các chỉ số về bình đẳng giới khá cao. Việt Nam đã thu hẹp được đáng kể bất bình đẳng về giới trong giáo dục ở tất cả các cấp học: Tỷ lệ học sinh nữ trong năm học 2008-2009 đạt 47,9% ở bậc tiểu học; 48,5% ở bậc trung học cơ sở; 52,6% ở bậc trung học phổ thông và 48,5% ở bậc đại học. Bình đẳng về việc làm và thu nhập cũng đạt được những bước tiến quan trọng, trong số lao động mới được giải quyết việc làm hàng năm, nữ giới chiếm khoảng 49%. Phụ nữ ngày càng tham gia tích cực hơn trong công tác quản lý, lãnh đạo, trong các vị trí của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, lãnh đạo, trong các tổ chức chính trị, xã hội, nghề nghiệp.

Tuy nhiên, một số khía cạnh về bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại, nhất là tại vùng nông thôn, miền núi. Phụ nữ vẫn có xu hướng làm nhiều công việc giản đơn hơn so với nam giới. Những định kiến về giới, tư tưởng "trọng nam khinh nữ" vẫn còn tồn tại, nam giới được coi trọng và ưu tiên hơn phụ nữ trong công việc gia đình và xã hội.

MDG4: Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em

Vấn đề sức khoẻ của trẻ em tiếp tục được quan tâm và cải thiện đáng kể. Việt Nam đã tiến đến gần Mục tiêu MDG đối với chỉ tiêu giảm tỷ suất tử vong trẻ dưới 5 tuổi và dưới 1 tuổi. Dù tốc độ giảm các tỷ suất này có xu hướng chậm lại và ít thay đổi trong vài năm gần đây nhưng Mục tiêu MDG này có thể đạt được vào năm 2015. Việt Nam đang tích cực triển khai nhiều chương trình, cơ chế, chính sách nhằm tăng cường sức khỏe cho trẻ em. Chương trình tiêm chủng mở rộng được thực hiện với quy mô rộng hơn và chất lượng hơn, mang lại hiệu quả cao. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm nhiều.

Trong thời gian tới, Việt Nam sẽ tiếp tục cố gắng đẩy nhanh tốc độ giảm tỷ suất tử vong trẻ em cả ở nhóm 5 tuổi và nhóm 1 tuổi. Trong bối cảnh tốc độ giảm này khá chậm trong thời gian gần đây thì đây là một thách thức không nhỏ. Đồng thời cần đảm bảo thu hẹp chênh lệch giữa các vùng; giữa thành thị và nông thôn, đặc biệt là đảm bảo việc đạt được các chỉ tiêu này đối với các khu vực khó khăn, các nhóm dân tộc thiểu số.

MDG5: Tăng cường sức khỏe bà mẹ

Tỷ số tử vong mẹ giảm mạnh trong hai thập kỷ qua: từ 233/100.000 ca đẻ sống năm 1990 xuống còn 69/100.000 ca đẻ sống năm 2009. Tỷ lệ phụ nữ mang thai được khám thai và tiêm phòng uốn ván đã tăng lên rõ rệt. Mạng lưới y tế cơ sở về chăm sóc sức khoẻ bà mẹ được củng cố và nâng cấp. Tỷ lệ phụ nữ sinh con được sự trợ giúp của các cán bộ có chuyên môn cũng tăng lên. Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) sử dụng biện pháp tránh thai cũng tăng lên rõ rệt; sự đồng thuận cao của các cặp vợ chồng trong việc sử dụng các biện pháp tránh thai, đặc biệt là dùng bao cao su và thuốc uống tránh thai.

Đạt được mục tiêu về tỷ lệ tử vong mẹ từ 58,3/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015 là một thách thức lớn do tốc độ giảm của chỉ số này trong 5 năm trở lại đây là rất chậm, đồng thời cần phải đảm bảo thu hẹp chênh lệch giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các nhóm dân tộc để có thể đạt được thành quả giảm tử vong bà mẹ một cách bền vững. Bên cạnh đó, tình trạng nạo phá thai của nhóm dân số nữ vị thành niên đang báo động nguy cơ lớn đối với sức khoẻ bà mẹ trong tương lai.

MDG6: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh dịch nguy hiểm khác

Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc tăng cường chất lượng và mở rộng tiếp cận phổ cập tới các dịch vụ điều trị, chăm sóc hỗ trợ và dự phòng. Tốc độ lây nhiễm HIV ở Việt Nam đã bước đầu chững lại. Tỷ lệ nhiễm ở nhóm nghiện chính ma túy và phụ nữ hành nghề mại dâm có xu hướng ổn định tại nhiều địa phương. Bệnh sốt rét đang được khống chế và nhiều vùng đã được loại trù. Chương trình phòng chống lao đã thu được những kết quả tích cực, được thế giới đánh giá cao.

Tuy nhiên, do tính chất vùng miền và thời gian khởi phát các vụ dịch khác nhau, tỷ lệ nhiễm HIV có chiều hướng tăng lên ở một số địa phương, cá biệt như Điện Biên và Sơn La có tỷ lệ nhiễm HIV khá cao. Người nhiễm HIV vẫn phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử, các nhóm nguy cơ cao vẫn chưa được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ dự phòng, chăm sóc và điều trị tại các trại giam và các trung tâm giáo dục lao động xã hội. Vì vậy, cần phải mở rộng hơn nữa khả năng tiếp cận với các dịch vụ dự phòng và chăm sóc điều trị nhằm đạt được Mục tiêu MDG này vào năm 2015 và đảm bảo tính bền vững của các chương trình phòng chống HIV.

MDG7: Đảm bảo bền vững về môi trường

Việt Nam đã tích cực triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 (Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam), thực hiện mục tiêu đảm bảo bền vững về môi trường và đã đạt được một số kết quả trong lĩnh vực phát triển bền vững: tăng cường trồng mới rừng (hàng năm tăng thêm từ 200 đến 300 nghìn hecta rừng), nâng cao chất lượng độ che phủ của rừng, khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái và xử lý các sự cố môi trường; phục hồi và cải thiện môi trường sinh thái; từng bước ngăn chặn suy giảm tài nguyên môi trường.

Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên vẫn đang bị khai thác lãng phí và sử dụng kém hiệu quả, nhiều nguồn tài nguyên không được bảo vệ tốt, bị suy thoái và hủy hoại. Một số chỉ tiêu về bảo vệ môi trường đặt ra cho Kế hoạch 5 năm và hàng năm không đạt được. Mặt khác, Việt Nam là một trong những nước chịu tác động tiêu cực mạnh mẽ nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biển dâng và thường xuyên bị thiên tai, do đó việc đảm bảo môi trường bền vững là một thách thức lớn nhất đối với Việt Nam, đòi hỏi sự nỗ lực nhiều hơn nữa trong thời gian tới.

MDG8: Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển

Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển, thực hiện hiệu quả vai trò ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (2008-2009); đã và đang làm tốt trách nhiệm Chủ tịch ASEAN năm 2010; triển khai thực hiện các cam kết gia nhập WTO và nhiều cam kết tự do hóa thương mại và bảo hộ đầu tư khác. Nỗ lực thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu đã giúp Việt Nam huy động được các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài, nguồn ODA, tận dụng các cơ hội của tự do hóa thương mại, thị trường quốc tế cho thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo.

Sau gần 3 năm gia nhập WTO, năng lực cạnh tranh của quốc gia đã được cải thiện nhưng còn chậm, chưa có sự thay đổi đáng kể về cơ cấu xuất khẩu trong khi thâm hụt thương mại đang trở thành vấn đề đáng lo ngại. Vốn ODA trong tương lai sẽ chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ lệ viện trợ không hoàn lại và các khản cho vay có tính ưu đãi cao, thời hạn dài và tăng tủ lệ các khoản cho vay kèm tính ưu đãi hơn. Điều này đặt ra thách thức lớn trong việc tiếp tục thu hút, tránh lãng phí và tăng hiệu quả sử dụng vốn ODA. Việc đảm bảo giá thuốc ở mức phù hợp với khả năng chi trả của người dân cũng là một thách thức không nhỏ đối với Việt Nam trong thời gian tới.


Một số chỉ tiêu chủ yếu đánh giá tình hình thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của Việt Nam:

 

 

Chỉ tiêu, chỉ sổ

Năm

1990

 

Năm

2005

 

Báo cáo

MDG 2010

 

Khả năng đạt mục

tiêu vào 2015

MDG1: Xoá bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói

Đạt

1

Tỷ lệ nghèo (%)

58

19,5

14,5

 

(1992)

(2004)

(2008)

 

2

Chỉ số khoảng cách nghèo (%)

18,4

4,7

3,5

 

(1993)

(2004)

(2008)

 

3

Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi (%)

41

25,3

18,9

(2009) 

 

 

MDG2: Phổ cập giao dục tiểu học

Đạt

1

Tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc tiểu học (%)

87

95

97

 

 

(2009)

2

Tỷ lệ học sinh hoàn thành tiểu học (%)

 

 

85,6

88,5

 

 

(2009)

3

Tỷ lệ nhập học đúng tuổi bậc THCS (%)

 

 

81

83,1

 

 

(2009)

MDG3: Tăng cường bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ

Đạt

1

Tỷ lệ học sinh nữ so với học sinh nam bậc tiểu học (%)

47,7

47,7

47,9

 

 

(1998)

(2009)

2

Tỷ lệ học sinh nữ so với học sinh nam bậc THCS (%)

47

(1998)

47,9

48,5

(2009)

 

 

3

Tỷ lệ học sinh nữ so với học sinh nam bậc THPT (%)

46,4

(1998)

48,9

 

52,6

(2009)

 

 

4

Tỷ lệ đại biểu nữ trong quốc hội (so với tổng số đại biểu quốc hội) (%)

18,48 (khoá IX 1992-2004)

 

25,76 (khoá XII 2007-2011)

 

5

Tỷ lệ đại biểu nữ ở các cơ quan dân cử (HĐND) cấp tỉnh (%)

21,1

(1992-2004)

 

23,9

(2004-2009)

 

6

Tỷ lệ đại biểu nữ ở các cơ quan dân cử (HĐND) cấp huyện (%)

21,0

(1999-2004)

 

23,0

(2004-2009)

 

7

Tỷ lệ đại biểu nữ ở các cơ quan dân cử (HĐND) cấp xã (%)

16,1

(1999-2004)

 

19,5

(2004-2009)

 

MDG4: Giảm tử vong ở trẻ em

Có khả năng đạt

1

Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi (‰)

58,0

27,3

24,4

 

 

(2009)

2

Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi (‰)

44,4

26,0

16

 

 

(2009)

MDG5: Tăng cường sức khoẻ bà mẹ

Cố gắng đạt

1

Tỷ số chết mẹ so với 100.000 ca đẻ sống

233

80

69

(2009)

 

 

2

Tỷ lệ các ca sinh được hỗ trợ của cán bộ y tế có tay nghề (%)

 

92,71 (2006)

94,8

 (2009)

 

3

Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai của phụ nữ tuổi 15-49 đang có chồng (%)

73,9 (2001)

 

80

 (2008)

 

4

Tỷ lệ phụ nữ được khám thai trong thời kỳ thai sản từ 3 lần trở lên (%)

 

84,3

86,4

 (2008)

 

MDG6: Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác

Còn khó khăn, phấn đấu đạt

1

Tỷ lệ nhiễm HIV (%)

 

 

 

 

0,28

 

 

(ước tính)

2

Tỷ suất hiện nhiễm HIV trên 100.000 dân

 

 

 

 

187

 

 

(2009)

3

Số người lớn được điều trị ARV

 

 

7.812

36.008

 

 

(2006)

(2009)

4

Số trẻ em được điều trị ARV

 

 

428

1.987

 

 

(2006)

(2009)

5

Số bệnh nhân sốt rét

293.000

 

 

60.867

 

 

(2000)

(2009)

6

Số bệnh nhân chết do sốt rét

71

 

 

27

 

 

(2000)

(2009)

7

Tỷ lệ phát hiện virút lao (AFB)

 

 

65

46

 

 

 dương tính mới tính trên 100.000 dân

(2007)

(2009)

8

Tỷ lệ bệnh nhân mắc lao được điều trị khỏi mới (%)

 

 

89,9

89,8

 

 

(2007)

(2009)

MDG7: Đảm bảo bền vững về môi trường

Khó đạt, còn

nhiều khó khăn

1

Tỷ lệ diện tích đất có rừng che phủ (%)

27,8

37

40

(Ước tính 2010)

 

2

Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh ở nông thôn (%)

30

 

79

(2009)

 

3

Tỷ lệ hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh ở nông thôn (%)

20

 

43

(2009)

 

4

Tỷ lệ hộ gia đình sống trong nhà tạm (%)

22,7

 

 

7,8

 

 

(2009)

(2009)

MDG8: Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển

Đạt ở một số

nội dung

1

Tổng kim ngạch suất khẩu (triệu USD)

 

69.206

127.045

 

2

Cam kết ODA (triệu USD)

2.400

(2000)

3.748 

8.064

(2009)

 

 

 

 

NGUYỆT SAN tổng hợp

Nguồn: "Việt Nam 2/3 chặng đường thực hiện các

Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, hướng tới năm 2015"