SỰ CHẤP NHẬN CỦA CỘNG ĐỒNG ĐỐI VỚI HÀNH VI TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI TĂNG THEO MỨC ĐỘ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI


Hành vi tình dục đồng giới, cần có cách nhìn rộng trên phạm vi toàn cầu cũng như xuyên suốt chiều dài lịch sử của nhân loại để hiểu thái độ của cộng đồng với các xu hướng tình dục khác nhau, cụ thể là đối với xu hướng tình dục đồng giới – một xu hướng gây rất nhiều bàn cãi từ xưa đến nay. Có thể thấy các cộng đồng ở các châu lục có sự nhìn nhận rất khác nhau về tình dục đồng giới (TDĐG) .

Châu Phi:Trong số 51 nước được khảo sát thì 23 nước có luật chống TDĐG nhưng 8 nước chỉ áp dụng với nam; 18 nước không có luật. Hình phạt với những người có hành vi TDĐG dao động từ phạt tiền, tù giam cho đến tù chung thân (Tanzania, Sierra Leone, Uganda coi tù chung thân là 20 năm) và tử hình (Sudan, Mauritania). Nam Phi có lẽ là nước tiến bộ nhất ở châu lục đen về thái độ với xu hướng tình dục: hiến pháp chống lại sự kỳ thị các xu hướng tính dục và toà án tối cao cho phép hôn nhân đồng giới từ năm 2006. Luật chống lại sự kỳ thị về xu hướng tính dục trong tuyển chọn lao động: hầu hết các nước Phi châu không có luật này, trừ Namibia (có từ 1992) và Nam Phi.

Về tỷ lệ cộng đồng chấp nhận và không chấp nhận hành vi TDĐG thì Kenya đứng đầu: chỉ có 1% dân số chấp nhận còn 99% phản đối; Senegal 2% và 98%;  Mali 3% và 96%; Ghana 4% và 93%; Nigeria 4% và 95%; Uganda 4% và 95%…Tỷ lệ chấp nhận cao nhất thuộc về Nam Phi 33% và phản đối là 63%. 

Châu Á:Trong số 45 nước được khảo sát thì 18 nước có luật chống TDĐG nhưng 4 nước chỉ áp dụng với nam (Bahrain, Pakistan, Turmekistan, Uzbekistan). Việt Nam thuộc những nước không có luật chống TDĐG nhưng cũng không có luật chống kỳ thị và văn bản của Luật Hôn nhân gia đình không có điều khoản nào cho phép hôn nhân đồng giới. Tuy nhiên, trên thực tế đã từng có kết hôn cùng giới được nói đến trên phương tiện thông tin đại chúng.

Kết quả khảo sát về sự chấp nhận của cộng đồng với TDĐG (trả lời câu hỏi: xã hội có chấp nhận TDĐG không?) thì tỷ lệ đồng ý trong dân số ở Việt Nam chỉ là 13% và phản đối là 84% nhưng Ấn Độ còn khắt khe hơn nghĩa là chỉ có 7% dân số chấp nhận, 63% phản đối; Bangladesk: 7%  và 87%.

Hình phạt những người TDĐG cũng dao động từ phạt tiền, tù giam, tù chung thân (Bangladesk, Pakistan, Ấn Độ, Myanmar, Singapore) cho đến tử hình (Iran, A rập Sê út, A rập Emirat thống nhất, Yemen). Hầu hết các nước châu Á không có luật chống kỳ thị người TDĐG, trừ Hong Kong, Philippine, Nhật và Israel (ngay cả trong quân đội nước này cũng không kỳ thị). Ở Campuchia,  quốc vương Norodom Sihanouk đã kêu gọi hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới. Trung Quốc cũng đang xem xét lại luật hôn nhân. Afghanistan vẫn coi TDĐG là tội hình sự nhưng không còn áp dụng tội tử hình nữa (sau khi chính quyền Taliban bị đổ). Luật hình sự có hiệu lực từ 1976 vẫn xử tù nhiều năm về tội ngoại tình và lạm dụng tình dục trẻ em đồng giới.   

Indonesia có dự luật chống TDĐG năm 2003 nhưng chưa được thông qua, việc chuyển giới được chính phủ ủng hộ để chữa những bệnh liên quan đến bản sắc giới. Bắc Triều tiên không cho phép bàn luận về TDĐG, coi đó là bệnh của chủ nghĩa tư bản hay một tệ nạn xã hội.

Châu Âu:Tất cả 52 nước đều không có luật chống TDĐG; luật chống kỳ thị có ở hầu hết các nước, vì thế ở lục địa này không có hình phạt gì với ngườiTDĐG. Hôn nhân đồng giới hay đăng ký chung sống giữa những người đồng giới được phép ở nhiều nước. Đan Mạch là nước đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa việc hôn nhân đồng giới. Ở châu Âu, Cộng hoà Séc có tỷ lệ chấp nhận TDĐG cao nhất 83% và 16%; Đức chiếm vị trí thứ hai 83% và 15%; thứ 3 là Pháp với tỷ lệ chấp nhận và phản đối là 77% và 21%.      

Châu Mỹ:Trong số 28 nước ở Bắc và Trung Mỹ, có 6 nước còn có luật chống TDĐG; 7 nước có luật chống kỳ thị. Không có hình phạt nặng như chung thân hay tử hình với những người TDĐG. Canada cho phép hôn nhân đồng giới. Về tỷ lệ chấp nhận của cộng đồng với TDĐG thấy ở Canada 69%, tỷ lệ phản đối 26%; ở Mỹ là 51% và 42% tương ứng.

Tại Nam Mỹ (gồm 14 nước), chỉ có Guyana có luật chống TDĐG nhưng chỉ áp dụng với nam và hình phạt nặng là tù chung thân. Ngoài ra, các nước này cho phép chung sống đồng giới.

Châu Đại dương: Trong 21 nước thì có đến 10 nước nhỏ có luật chống TDĐG nhưng chỉ áp dụng với nam. Úc không có luật chống TDĐG; có luật chống kỳ thị ở tất cả các bang. Hôn nhân đồng giới còn bị cấm ở một số vùng (Nam Úc và Victoria).[1]

Thái độ của cộng đồng với TDĐG đã cởi mở hơn nhiều theo thời gian và sự tiến bộ của xã hội; có thể nói, càng văn minh thì xã hội loài người càng tỏ ra chấp nhận xu hướng tính dục và như vậy tiếp cận hơn với quyền con người.

Nhìn nhận về SKTD ở Việt Nam

Trong một thời gian dài trước đây, Việt Nam còn có những quan điểm dè dặt về phương diện tình dục, ví dụ Pháp lệnh Dân số ban hành năm 2002 chưa đề cập đến nhóm dân số có xu hướng tình dục đồng giới, Luật Hôn nhân và gia đình cũng chưa nói đến nhóm dân số này.

Cho phép chuyển giới là động thái dẫn đến hệ quả tích cực hơn về thái độ chấp nhận của cộng đồng: những người có rối loạn bản sắc giới, những người có xu hướng tình dục không bình thường là nạn nhân của sinh học hơn là sự lệch lạc về tâm trí hay về đạo đức. Một số tổ chức phi chính phủ hiện đang có những khảo sát, nghiên cứu về những nhóm dân số này. Tuy nhiên, Nghị định 88/2008/ND-CP về xác định lại giới tính ban hành gần đây lại vẫn có một số điều cần xem xét thêm[2].

Chương trình giáo dục giới tính dành cho vị thành niên chưa định hình ở nước ta cũng là do sự tiếp cận chậm trễ với quyền về sức khoẻ tình dục. Vị thành niên là đối tượng dễ bị tổn thương do thiếu thông tin về chăm sóc sức khoẻ tình dục cũng như thiếu sự tôn trọng các quyền về tình dục mà họ xứng đáng được hưởng.

Ngày nay, quyền về SKTD của người khuyết tật cần được tôn trọng. Họ cần được giúp đỡ cả về thông tin và phương tiện để có thể cải thiện chất lượng sống. Trước mỗi trường hợp cụ thể cần được xem xét khách quan, cảm thông và chú ý đến nhu cầu của mỗi cá thể. 

ĐÀO XUÂN DŨNG tổng hợp



[1]
Nguồn: Wikipedia – the free encyclopedia 

[2]Xem Tri thức trẻ số 259: Đừng bỏ sót những người thuộc hội chứng bức bối về giới, trang 24.