ĐỔI MỚI CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI LIÊN QUAN ĐẾN

 BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC TRẺ EM

                                                                                                                        PHÍ MAI CHI*                


Công ước LHQ về quyền trẻ em đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới ký và phê chuẩn, trong đó có Việt Nam. Chính vì vậy vấn đề quyền của trẻ em đã được các quốc gia đặt lên hàng đầu trong chương trình lập pháp và được đưa vào chiến lược hoặc chương trình phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm. Công ước về quyền trẻ em cũng đã mở đường cho việc tăng cường bảo vệ trẻ em theo quan điểm hệ thống, bảo đảm cho trẻ em quyền được bảo vệ, không bị sao nhãng, ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột và phân biệt đối xử. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Việt Nam đã có một số đổi mới trong chính sách phát triển xã hội liên quan đến trẻ em nhằm cải thiện môi trường sống an toàn, lành mạnh, thân thiện cho mọi trẻ em.

  1. Những đổi mới trong chính sách phát triển xã hội liên quan đến BVCSTE

Pháp luật, chính sách:Chính sách Bảo vệ trẻ em có nhiều thay đổi, chuyển từ xây dựng luật pháp, chính sách, chương trình đến từng nhóm đối tượng trẻ em yếu thế trong xã hội sang xây dựng khung pháp lý toàn diện. Trước kia chỉ tập trung giải quyết hậu quả, chủ yếu là chăm sóc, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt[1], trong những năm gần đây đã chú trọng đến việc chủ động phòng ngừa, can thiệp sớm, loại bỏ những nguy cơ cho mọi trẻ em trước khi bị tổn hại. Ví dụ: Từ các chính sách phân tán, nhỏ lẻ như Quyết định 19/2004/QĐ-TTg của Chính phủ tập trung giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc nguy hiểm, Quyết định 84/2009/QĐ-TTg của Chính phủ về kế hoạch hành động vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDs, Quyết định 589/QĐ-LĐTBXH của Bộ LĐTBXH về phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em…nay chuyển sang xây dựng Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 (Quyết định 267/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22/2/2011). Chương trình quốc gia nhằm phát triển Hệ thống bảo vệ trẻ em gồm:

- Khung pháp lý:Đây là một hợp phần quan trọng của hệ thống bảo vệ trẻ em, là cơ sở và là điều kiện bắt buộc để thực hiện các hoạt động bảo vệ trẻ em. Khuôn khổ pháp lý, cơ chế, chính sách bao gồm: Luật pháp quốc gia, các văn bản quy phạm pháp luật, dưới luật liên quan đến bảo vệ trẻ em và các chính sách xã hội.

- Luật pháp quốc gia: Mỗi quốc gia đều có các  đạo luật để xử lý các vấn đề về an toàn và bảo vệ trẻ em. Việt Nam có các Bộ luật, luật liên quan đến bảo vệ trẻ em: Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Nam; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Hôn nhân và  gia đình, Bộ luật Lao động, Luật Phòng chống bạo lực gia đình và một số Bộ Luật, Luật, Pháp lệnh khác.

- Các văn bản quy phạm pháp luật, dưới luật, bao gồm: Nghị định, thông tư quy định chi tiết và hướng dẫn chi tiết thi hành.

- Các văn bản dưới luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật, hướng dẫn các biện pháp thi hành luật, các quy trình, quy chuẩn bảo vệ trẻ em; quy định về thành lập và hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; thiết lập các kênh thông tin, quản lý thông tin, tiến trình phản hồi; cơ chế phối hợp liên ngành, tiến trình theo dõi, đánh giá .v.v nhằm giúp cho hệ thống pháp lý được vận hành có hiệu quả.

- Chính sách, chương trình  trợ giúp xã hội đối với trẻ em: Chính sách và chương trình hỗ trợ nuôi dưỡng, chăm sóc thay thế; trợ giúp giáo dục, y tế, chỉnh hình, phục hồi chức năng; hỗ trợ học nghề, tạo việc làm; chính sách và chương trình trợ giúp tiếp cận công trình công cộng, tham gia giao thông và công nghệ thông tin đối với trẻ tàn tật; chính sách và chương trình hỗ trợ gia đình trẻ em hoàn cảnh đặc biệt; các chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có hợp phần hoặc nội dung bảo vệ trẻ em; các chương trình dành riêng cho trẻ em.

-Cấu trúc tổ chức: Trong công tác bảo vệ trẻ em, nhà nước đóng vai trò chính trong việc tổ chức, quản lý và điều phối việc cung cấp các dịch vụ bảo vệ trẻ em với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể, xã hội và trẻ em. Để thực hiện có hiệu quả các hoạt động phòng ngừa, can thiệp sớm và trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị tổn hại, Nhà nước phải thiết lập một cơ cấu tổ chức gồm các cấp, các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, cá nhân… có trách nhiệm nhất định và cụ thể trong việc cung cấp các dịch vụ bảo vệ trẻ em. Cấu trúc tổ chức cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em được hình thành ở cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và cấp Trung ương.

Hệ thống dịch vụbảo vệ trẻ em trước đây còn nhiều khoảng trống, chưa có cấu trúc chặt chẽ, thiếu tính đồng bộ. Để thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ trẻ em, các dịch vụ bảo vệ trẻ em phải được tổ chức và thực hiện đáp ứng yêu cầu của công tác bảo vệ trẻ em ở cả 3 cấp độ: phòng ngừa; phát hiện, can thiệp sớm và can thiệp,trợ giúp phục hồi cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em bị tổn hại. Hệ thống dịch vụ hiện tại đang hướng tới chuyên nghiệp thông qua thực hiện Chương trình quốc gia Bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015 nhằm đảm bảo các dịch vụ có hệ thống và mang tính liên tục, có quy định rõ các thủ tục và quy trình bảo vệ trẻ em, phát triển hệ thống dịch vụ trẻ em theo ba cấp độ, trong đó khuyến khích phát huy tính năng động và sự tham gia của cộng đồng, đặc biệt của trẻ em và gia đình gồm:

- Dịch vụ phòng ngừa(cấp độ 1):ở cấp độ này, các dịch vụ chủ yếu tăng cường nhận thức và kỹ năng cũng như xây dựng năng lực cho cộng đồng, xã hội, gia đình, người chăm sóc trẻ và chính trẻ em về bảo vệ trẻ em. Các hoạt động chủ yếu là truyền thông, giáo dục, tư vấn, vận động nâng cao nhận thức, kỹ năng và thay đổi hành vi bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

- Dịch vụ can thiệp sớm (cấp độ 2):Ở cấp độ này, các dịch vụ vẫn mang tính phòng ngừa nhưng tập trung vào những nhu cầu cụ thể của nhóm đối tượng trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt hoặc bị tổn hại. Các hoạt động chủ yếu ở cấp độ này thường là những hỗ trợ nhằm cải thiện điều kiện sống cho nhóm trẻ em có nguy cơ như: tăng cường năng lực cho các gia đình, cộng đồng và chính bản thân trẻ em để giảm thiểu các yếu tố/nguy cơ dẫn trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt và bị tổn hại hoặc giảm thiểu mức độ tổn hại do các nguy cơ gây tổn hại xảy ra. Ví dụ: hỗ trợ phát triển kinh tế cho các hộ gia đình nghèo; giáo dục kiến thức, kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em cho các bậc cha mẹ có hành vi bạo hành, sử dụng rượu hay ma túy...; giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em...

- Dịch vụ trợ giúp phục hồi(cấp độ 3): Ở cấp độ này, các dịch vụ hướng đến việc giải quyết các trường hợp trẻ em bị ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột và sao nhãng; đồng thời trợ giúp cho nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, phục hồi và tạo cơ hội cho các em hòa nhập cộng đồng. Các hoạt động chủ yếu là: Đảm bảo môi trường sống an toàn, ngăn chặn các nhân tố gây tổn hại cho trẻ; chăm sóc y tế; hỗ trợ giáo dục, dạy nghề và tạo việc làm cho trẻ và gia đình của trẻ; tìm gia đình chăm sóc thay thế trong trường hợp phải tách trẻ em ra khỏi gia đình. Các dịch vụ cấp độ 3 cần được xây dựng dựa trên nhu cầu, bối cảnh cụ thể của từng trẻ em và phải dựa trên nguyên tắc ''lợi ích tốt nhất cho trẻ em".

Phát triển nghề công tác xã hội: Từ chỗ chưa có cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp về bảo vệ, chăm sóc trẻ em hình thành đội ngũ cán bộ công tác xã hội chuyên nghiệp thông qua thực hiện theo Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 (Quyết định 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010) nhằm phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam; nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, trong đó có dịch vụ bảo vệ trẻ em, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.

2. Những tác động của việc đổi mới chính sách

  • Xây dựng hệ thống chính sách và chương trình toàn diện theo hướng tiếp cận từ đáp ứng nhu cầu trẻ em sang đảm bảo quyền cho mọi trẻ em trong xã hội. Các đối tượng được hưởng chính sách xã hội và dịch vụ công không giới hạn trong 10 nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt quy định trong Luật BVCSGDTE mà mở rộng ra các nhóm có nguy cơ rơI vào hoàn cảnh đặc biệt[2].
  • Cải thiện môi trường pháp lý và hành chính gọn nhẹ, dịch vụ mang tính chuyên nghiệp, từng bước hội nhập với quốc tế.
  • Tiết kiệm chi phí xã hội trong việc chi tiêu xử lý các vấn đề xã hội liên quan đến trẻ em và thúc đẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.

3. Định hướng chính sách phát triển xã hội về BVCSTE trong những năm tới

  • Đảm bảo Quyền cho mọi trẻ em được sống trong môi trường an toàn, lành mạnh và thân thiện;
  • Giảm thiểu bất bình đẳng về mức sống, về cơ hội phát triển giữa các nhóm trẻ em khác nhau;
  • Tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc trong xã hội liên quan đến ngược đãi, xâm hại, bạo lực, bóc lột, sao nhãng trẻ em, mại dâm trẻ em, trẻ em nghiên ma túy, vi phạm phát luật... dảm bảo ổn định trật tự xã hội.


*
Cục Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em

[1]              Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt:Theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh không bình thường (về cá nhân và môi trường chăm sóc) bao gồm: Trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; trẻ lang thang; trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; trẻ em khuyết tật, tàn tật; trẻ em làm việc xa gia đình; trẻ em bị ảnh hưởng chất độc hoá học; Trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em bị xâm hại tình dục; trẻ em nghiện ma tuý; trẻ em vi phạm pháp luật.

 

 

[2]Trẻ em có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt: là những trẻ em ở trong những điều kiện, hoàn cảnh mà nếu không được can thiệp kịp thời sẽ trở thành trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.Các yếu tố nguy cơ khiến cho trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc biệt có thể bao gồm các yếu tố bên ngoài (gia đình, nhà trường, cộng đồng, xãhội) và những yếu tốcá nhâncủa trẻ em (như thiếu kỹ năngxãhội, thiếu kỹ năng sống, lêu lổng, bỏ học v.v.). Việc phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ khiến cho trẻ em có khả năng rơi vào hoàn cảnh đặc biệt để có biện pháp can thiệp kịp thời có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo vệ trẻ em và giảm thiểu số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Trẻ em có nguy cơ bao gồm: (i) Trẻ em sống trong các gia đình nghèo; (ii) Trẻ em sống trong các gia đình có vấn đề xãhội ( cha/mẹ ly hôn, ly thân, mắc tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật…); (iii) Trẻ em bỏ học, thất học, (trong độ tuổi đi học nhưng không tham gia bất kỳ trường lớp nào), trẻ em hư (có biểu hiện không nghe lời cha mẹ, thầy cô giáo, anh chị phụ trách…); (iv) Trẻ em không sống cùng cha/ mẹ, người thân…