XU HƯỚNG DÂN SỐ

TRẺ EM VIỆT NAM  ĐẾN NĂM 2020

NGUYỄN ĐỨC ANH*

 


  1. Dân số và dân số trẻ em

Theo kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, dân số của Việt Nam là 85.789.573 người(đông dân thứ 13 trên thế giới).Giai đoạn 1999-2009 có tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm là 1,2%/năm, đây là tỷ lệ tăng thấp nhất trong vòng 50 năm qua. Trong vài thập kỷ tới, dân số Việt Nam tiếp tục tăng do đà tăng dân số. Tỷ lệ dân số bị thiểu năng về thể lực, trí tuệ chiếm tới 1,5% dân số, tầm vóc thể lực của người dân còn nhiều hạn chế, tuổi thọ bình quân của người dân khá cao (72,8 tuổi) nhưng tuổi thọ bình quân khỏe mạnh lại thấp.

Mặc dù Việt Nam đã đạt mức thay thế, nhưng vẫn tiềm ẩn khả năng mức sinh tăng trở lại. Trong các năm tới, nếu vẫn duy trì được mức sinh như hiện nay, tỷ trọng dân số trẻ em dưới 16 tuổi cũng sẽ có xu hướng giảm, nhưng quy mô dân số trẻ em vẫn tiếp tục tăng.

2. Dân số trẻ em theo nhóm tuổi

Số trẻ em trong độ tuổi từ 0-5 tuổi đạt mức cực đại là 10,7 triệu người vào năm 1999, giảm xuống mức cực tiểu là 8,7 triệu người vào năm 2005, rồi lại tăng lên 9,5 triệu người năm 2010. Theo dự báo của Tổng cục thống kê (dựa trên Tổng điều tra Dân số 1999), từ nay đến 2020, dân số trong các nhóm tuổi trẻ em đều tăng. Các ngành, lĩnh vực phải có những chính sách thích ứng như: Sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc trẻ em, giáo dục, y tế phải phát triển tương ứng với số lượng dân số trong các nhóm tuổi tăng giảm theo chu kỳ; các dịch vụ xã hội phải mở rộng thích ứng với cơ cấu "dân số già" thay vì cơ cấu dân số trẻ...; các loại hàng hóa dịch vụ phải thay đổi tương ứng với số lượng dân số và nhu cầu sử dụng theo từng nhóm tuổi; đa dạng hóa ngành nghề, mở rộng đào tạo nghề xã hội theo nhu cầu thị trường, chú trọng ngành nghề phi nông nghiệp, có chính sách khuyến khích hỗ trợ, bảo vệ người lao động xuất khẩu... nhằm giải quyết việc làm, tận dụng hiệu quả cơ cấu "dân số vàng".   


Bảng 1. Phân bố dân số trẻ em theo độ tuổi đi học (%), 2005-2020

Nhóm tuổi

2005

2010

2015

2020

6-11

11,7

10,4

10

9,5

12-14

6,7

5,2

4,9

4,7

15-17

6,6

6,0

4,7

4,7

     Nguồn: Dự báo dân số của Liên Hợp Quốc.


Tính đến năm 2020, tỷ trọng các nhóm tuổi trẻ em trong độ tuổi đi học so với tổng dân số giảm dần, tuy nhiên cơ cấu thay đổi không nhiều và biến động không lớn giữa các nhóm tuổi nên sự thay đổi này không ảnh hưởng đến các điều kiện cơ sở vật chất, nguồn nhân lực trong cung cấp dịch vụ về giáo dục của cả nước và các vùng.

3. Dân số trẻ em theo vùng

Dân số Việt Nam phân bố không đều giữa các vùng. Hai vùng Đồng bằng Sông Hồng và Đồng bằng Sông Cửu Long có tới 43% dân số của cả nước sinh sống. Hai vùng trung du, miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên chỉ có 19% dân số cả nước sinh sống.


Bảng 2. Phân bổ dân số và trẻ em theo vùng (%), 2009

 

Trung du miền núi phía Bắc

ĐB sông Hồng

Bắc Trung bộ và DH miền Trung

Tây Nguyên

Đông Nam bộ

ĐB sông Cửu Long

Dân số trẻ em

14,04

21,07

23,71

7,61

14,32

19,25

Dân số

12,90

22,82

21,96

5,95

16,35

20,02

Dân số trẻ em/dân số

33,98

28,80

33,70

39,88

27,33

29,99

 

Nguồn: Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số 2009.


Khoảng 40% dân số trẻ em hiện đang sống ở 2 vùng Đồng bằng Sông hồngvàĐồng bằng Sông Cửu Long. Tỷ lệ dân sốtrẻ em so với tổng dân số củavùng Tây Nguyên là cao nhất, khoảng 40%, tiếp đến là vùng Trung du miền núi phía Bắc (33,98%) và vùng Bắc trung bộ duyên hải miền trung (33,7%).

Đứng đầu một trong 5 tỉnh thành có số dân đông nhất cả nước, thành phố Hồ Chí Minh đang có 7,1 triệu người (trẻ em 2,3 triệu), tiếp đến là Hà Nội với 6,4 triệu (trẻ em 1,7 triệu), Thanh Hóa 3,4 triệu (trẻ em 1,4 triệu), Nghệ An 2,9 triệu (trẻ em 1,2 triệu) và Đồng Nai là 2,4 triệu (trẻ em 0,8 triệu). Bắc Kạn là tỉnh có dân số thấp nhất cả nước với 0,3 triệu người. Một số tỉnh, thành phố có tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm gấp hơn 2 lần mức chung của cả nước là Bình Dương 7,3%, Tp.HCM 3,5%, Kon Tum, Bình Phước, Gia Lai, Đà Nẵng…Đáng chú ý, Bình Dương là tỉnh có quy mô dân số tăng hơn 2 lần trong vòng 10 năm qua. Đây là những tỉnh tập trung các khu công nghiệp hoặc các khu kinh tế mới thu hút một lực lượng dân di cư lớn. Tương ứng như vậy số lượng trẻ em của các tỉnh này cũng tăng lên một cách đáng kể so với 10 năm trước. Đa số người di cư là người độc thân, có khoảng 13% người di cư theo gia đình, đặc biệt phần lớn những người di cư đến Tây Nguyên đi theo gia đình. Mặc dù trong những năm gần đây, trẻ em trong những nguời di cư có khả năng tiếp cận giáo dục với y tế dễ dàng hơn tuy nhiên chúng vẫn gặp khó khăn hơn trẻ tại địa phương về nhà ở, giáo dục và y tế.

4. Giới tính trẻ em

 Kết quả Tổng điều tra dân số 2009 cho thấy tỷ số giới tính là 98 nam/100 nữ. Mặc dù tỷ số giới tính khi sinh có xu hướng cao trong thập kỷ qua và hiện đang ở mức 111 trẻ trai/100 trẻ gái theo TĐTDS 2009. Tuy nhiên tình trạng mất cân bằn giới tính khi sinh sẽ ảnh hưởng ngay đến tỷ số giới tính ở dân số trẻ em (đặc biệt là nhóm trẻ em dưới 5 tuổi). Nếu tỷ số giới tính khi sinh vẫn tiếp tục cao như năm 2010 thì sẽ tác động đến nhóm dân số này khi bước vào độ tuổi lập gia đình vào những năm 2030.



*
Cục Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em