TÌNH HÌNH TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT

VÀ CÁC DỰ BÁO ĐẾN NĂM 2020

LÊ THU HÀ*

 


1. Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đến năm 2010

Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (10 nhóm đối tượng theo Luật Bảo vệ, giáo dục và chăm sóc trẻ em) tính đến cuối năm 2009 là 1.537.179 em, chiếm 6,5% tổng số trẻ em dưới 16 tuổi. Nếu tính cả 4 nhóm đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác (trẻ em bị buôn bán, bắt cóc; trẻ em bị ngược đãi, bạo lực; trẻ em sống trong gia đình nghèo và trẻ em bị tai nạn thương tích), tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là 4.288.265 em, chiếm 18,2% tổng số trẻ em dưới 16 tuổi. Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt năm 2009 giảm khoảng 6%. Chủ yếu là nhóm trẻ em nghiện ma túy, lao động trẻ em và trẻ em là nạn nhân chất độc hóa học. Công tác bảo vệ trẻ em chuyển hướng từ tiếp cận dựa trên nhu cầu sang tiếp cận dựa trên quyền của trẻ em. Tỷ lệ đăng ký khai sinh đạt trên 90%. Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc trong giai đoạn 2001-2010 tăng lên khoảng 70%.

Tình hình chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt cụ thể như sau:

Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi: Trong những năm qua, gia đình, cộng đồng và Nhà nước luôn luôn quan tâm, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tạo điều kiện cho các em phát triển đầy đủ thể chất và tinh thần. Tính đến cuối năm 2009 đã có 79,49% trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi được chăm sóc dưới nhiều hình thức.

Trẻ em tàn tật, khuyết tật:Trẻ em khuyết tật chiếmtỷ trọng lớn trong tổng số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, dao động trong khoảng 1,25 - 1,3 triệu, mặc dù đã có sự quan tâm của nhà nước song vẫn còn một bộ phận trẻ em dạng khuyết tật nặng vẫn chưa tiếp cận được giáo dục, chỉnh hình phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe và nhiều em vẫn sống trong cảnh nghèo khổ, nhất là nhóm trẻ em khuyết tật dạng thiểu năng trí tuệ, nghe, nhìn và mắc bệnh hiểm nghèo như bệnh tim bẩm sinh, máu trắng… Trẻ khuyết tật được chăm sóc dưới các hình thức khác nhau tại các mô hình dựa vào gia đình và cộng đồng, các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước. Nhiều chương trình được triển khai hiệu quả như phẫu thuật mắt, phẫu thuật tim bẩm sinh, hỗ trợ trẻ em nạn nhân của chất độc hóa học. 69.750 em đó được chăm sóc, phục hồi chức năng và phẫu thuật chỉnh hình.

Trẻ em lang thang, trẻ em lao động, trẻ em làm việc xa gia đình:Trong 10 năm qua, trẻ em lang thang luôn biến động thất thường, năm thấp nhất có trên 7000 em, năm cao lên tới 25000 em. Lao động trẻ em cũng biến động tương tự dao động trong khoảng 6-7% tổng số trẻ em, trong đó có khoảng 27000 trẻ em phải lao động trong điều kiện tồi tệ, nhất là năm kinh tế nước ta bị suy giảm, lạm phát tăng cao. Trẻ em làm việc xa gia đình, chủ yếu làm giúp việc gia đình hoặc các nhà hàng/quán ba có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây và nguy cơ bị ngược đãi, bạo lực, xâm hại và lạm dụng rất cao.

Trẻ em bị xâm hại tình dục:Hàng năm có khoảng 1500-2000 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện và đưa ra xét xử tại toà án khoảng 1000 vụ, khoảng 50% trong số này là các vụ xâm hại tình dục trẻ em. Năm 2008, có 803 trẻ em bị xâm hại tình dục, trong đó hiếp dâm chiếm 60%, giao cấu 2%, dâm ô 24%, cưỡng dâm 14%. Trên thực tế, số vụ xâm phạm tình dục trẻ em còn cao hơn và nhiều vụ chưa hoặc không được tố giác, bị che dấu do có sự thỏa thuận bồi thường giữa hai bên, do tâm lý mặc cảm của gia đình nạn nhân, sợ bị ảnh hưởng đến tương lai của trẻ.

Tình hình trẻ em bị buôn bán, bắt cóc:Năm 2009 có 628 trẻ em bị buôn bán, bắt cóc, trong đó 60,6% được hỗ trợ về đoàn tụ với gia đình. Trong 10 năm qua có khoảng 22.000 phụ nữ Việt Nam bị mua đi bán lại trong nước và qua biên giới. Trong số 200.000 gái mại dâm ở Việt Nam có khoảng 7- 10,5% là trẻ em [Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và UNICEF].

Ngược đãi, bạo lựctrẻ em ở gia đình, cộng đồng vẫn diễn biến phức phạp và trở thành vấn đề xã hội bức xúc. Bạo lực ở học đường vẫn có xu hướng gia tăng. Ngày càng có nhiều trẻ em và người chưa thành niên trở hành nạn nhân của bạo lực, ngược đãi. Từ 2005-2007, tình trạng xâm hại, bạo lực trong gia đình tăng gấp 3 lần, ở cộng đồng tăng 7 lần và trong trường học tăng 13 lần [Cục BVCSTE-Bộ LĐTB&XH]. Năm 2008-2009, theo thống kê của 63 tỉnh/thành, có 4.138 trẻ em bị ngược đãi, bạo lực. Vấn đề bạo lực học đường gia tăng trong những năm qua đó trở thành mối quan tâm của các nhà quản lý, lo lắng của các gia đình và bản thân trẻ em, đặc biệt là ở cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học. Bạo lực học đường xuất hiện từ hai nhóm chính, nhóm 1: Bạo lực giữa học sinh với học sinh và nhóm 2: bạo lực giữa thầy cô giáo và học sinh. Bạo lực học đường đãđể lại những hậu quả nghiêm trọng cho sự an toàn tính mạng của trẻ em và sự phát triển bình thường của trẻ em.

Trẻ em làm trái pháp luậtvẫn có xu hướng gia tăng và ảnh hưởng nghiêm trọng trọng đến trật tự an toàn xã hội. Tình hình phạm pháp hình sự trong lứa tuổi vị thành niên có diễn biến phức tạp, hàng năm có khoảng 12.000-18.000 người chưa thành niên vi phạm pháp luật, có 3000-5000 người chưa thành niên bị khởi tố hình sự, chủ yếu là các tội trộm cắp, cố ý gây thương tích, khoảng 10% phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Theo báo cáo năm 2009, trẻ em vi phạm pháp luật là 15.530 em.

Trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS: Theo số liệu giám sát của Bộ Y tế, tính đến hết tháng 12 năm 2009, tỷ lệ nhiễm HIV của trẻ em và NCTN dưới 19 tuổi là 4% so với tổng số người nhiễm HIV (khoảng 6400 em). Đây chỉ là con số đại diện cho tảng băng nổi mà chúng ta có thể thống kê được. Trẻ em nhiễm HIV chủ yếu do lây truyền từ mẹ sang con (chiếm 63% người dưới 19 tuổi nhiễm HIV)[1].Tỷ lệ nhiễm HIV toàn quốc có xu hướng giảm (0,53% năm 2005 so với 0,43% năm 2009), tuy nhiên xu hướng nhiễm HIV từ nam giới sang vợ và bạn tình khác giới ngày càng tăng (25% người nhiễm HIV là phụ nữ) dẫn đến trẻ em nhiễm HIV chưa có xu hướng giảm trong những năm tới. Đặc biệt trong những năm gần đây, tỷ lệ lây nhiễm HIV còn lan rộng trong số người tiêm chính ma túy ở các tỉnh vùng Tây Bắc, nơi trình độ dân trí thấp, dịch HIV lan nhanh sang đối tượng dân cư khác trong cộng đồng như vợ và bạn tình khác giới. Ước tính năm 2012 có khoảng 280.000 người nhiễm HIV (5000 phụ nữ mang thai), trong đó người dưới 19 tuổi chiếm khoảng 10.000 em[2]. Đây là một thách thức lớn trong gánh nặng bệnh tật và tử vong trẻ em. Tình hình trẻ nhiễm HIV và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS sẽ vẫn tiếp tục tăng trong những năm tới, do vậy nguy cơ trẻ em bị bỏ rơi và mồ côi do HIV/AIDS sẽ tiếp tục gia tăng.

Trẻ em bị tai nạn thương tích (TNTT). Tai nạn thương tích trẻ em và người chưa thành niên hiện nay còn ở mức cao. Từ năm 2005-2007 có 556.981 trẻ em và người chưa thành niên trong độ tuổi từ 0 đến 19 bị tai nạn thương tích (152.000 em/năm), trong đó tử vong là 22.031 trường hợp (7.300 em/năm). Trên toàn quốc, cứ 100 trẻ em tử vong thì có 22 em chết vì tai nạn thương tích, trong đó 30% trẻ em từ 0-4 tuổi; 23% trẻ em từ 5-9 tuổi; 26% trẻ em từ 10-14 tuổi và 21% trẻ em từ 15-19 tuổi. Các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích chủ yếu gồm: 1) đuối nước với 3.600 em/năm, 2) tai nạn giao thông với 1.920 em/năm và tiếp theo là ngộ độc, ngã ... Theo báo cáo của các địa phương năm 2008-2009 có khoảng 126.000 trẻ em dưới 16 tuổi bị tai nạn thương tích (63.000 em/năm). 6 tháng đầu năm 2010 ước tính khoảng 35.000 trẻ em bị tại nạn thương tích.

Rối nhiễu tâm trí (RNTT):Vấn đề rối nhiễu tâm trí ở trẻ em mới được đề cập đến nhiều trong 5 năm gần đây. Ước tính hiện nay có khoảng từ 10%-20% trẻ em Việt Nam bị RNTT, tuy nhiên những kiến thức và thông tin cần thiết đến với các gia đình về RNTT trẻ em còn rất hạn chế, nhiều trẻ bị RNTT không được phát hiện sớm và không được điều trị đúng cách. Hậu quả của RNTT ở trẻ em khó kiểm soát và ảnh hưởng tiêu cực lâu dài đến sự phát triển bình thường ở trẻ em.

2. Cơ hội, thách thức và các dự báo đến năm 2020

1. Cơ hội

Cam kết của các nhà lãnh đạo thế giới, các nước thành viên Liên hợp quốc, trong đó có Việt Nam về vấn đề trẻ em và bảo vệ trẻ em ngày càng mạnh mẽ và mở rộng phạm vi, đồng thời đề ra những mục tiêu có thời hạn để đạt được những cam kết đó[3], cụ thể như sau:

- Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục chuyển đổi, hướng đến nền kinh tế thị trường đầy đủ vào năm 2018. Tăng trưởng kinh tế mang lại lợi ích cho trẻ em dưới nhiều dạng: tăng thu nhập và cơ hội việc làm cho cha mẹ, dịch vụ xã hội được mở rộng, tăng đầu tư xã hội và phúc lợi công;

- Tình trạng nghèo đói đã giảm và tiếp tục giảm xuống còn khoảng 10-12%. Trẻ em được hưởng lợi ngày càng nhiều từ việc giảm nghèo. Trẻ em có hoàn cảnh ĐBKK có cơ hội được quan tâm, chăm sóc nhiều hơn;

- Truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc là nền tảng vững chắc và là nội lực để bảo vệ trẻ em.

2. Thách thức

2.1. Phân tầng kinh tế - xã hội có diễn biến phức tạp

- Xu hướng cạnh tranh trên thế giới ngày càng quyết liệt dẫn đến khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng lớn, bất bình đẳng về cơ hội của trẻ em gia tăng. Các quốc gia và đối tượng yếu thế, trong đó có trẻ em ngày càng trở nên yếu thế và nguy cơ tổn thương cao; phân tầng xã hội và khoảng cách giàu nghèo giữa các gia đình, giữa các vùng vẫn tiếp tục diễn biến sâu sắc, áp lực kinh tế dẫn đến giảm sút vai trò của gia đình đối với việc bảo vệ và chăm sóc con cái.

- Mặc dù đã thoát khỏi danh sách các nước nghèo trên thế giới năm 2008 khi GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 960 USD, nhưng Việt  Nam vẫn là nước nghèo xét về tổng GDP và GDP bình quân đầu người; môi trường sống ngày càng bị huỷ hoại, nguồn tài nguyên bị cạn kiệt.

2.2. Tình trạng bất bình đẳng về cơ hội phát triển của trẻ em giữa các vùng miền

- Bất bình đẳng về cơ hội phát triển của trẻ em giữa các vùng miền, khác biệt về điều kiện kinh tế, vấn đề nghèo đói, việc vận chuyển, lưu thông phân phối lương thực, thực phẩm; sự chênh lệch giữa vùng đồng bằng và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, cũng như khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch vụ xã hội khác ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện và sự bình đẳng hưởng thụ các quyền của trẻ em.

- Trẻ em ở các tỉnh nghèo, miền núi khó khăn ít có cơ hội hưởng thụ các dịnh vụ xã hội, thiếu các điều kiện vệ sinh và an toàn thực phẩm, trong khi đó tình hình an ninh lương thực, thực phẩm ở các tỉnh này còn bấp bênh, chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai. Do vậy, tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng, trẻ em bỏ học ở các vùng nghèo, vùng khó khăn còn rất cao.

2.3. Thay đổi chức năng gia đình dẫn đến sao nhãng việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em

- Xu hướng hội nhập thế giới giữa các nền văn hoá khác nhau khiến văn hoá trở lên đa dạng; nhận thức về quyền có sự thay đổi theo xu hướng tự do cá nhân, cấu trúc xã hội, cấu trúc gia đình lỏng lẻo, có thay đổi về quy mô, cơ cấu; các giá trị truyền thống, mô hình gia đình truyền thống thay đổi.

- Mô hình gia đình hạt nhân đang là loại hình khá phổ biến ở Việt Nam và đó cũng là loại hình gia đình thịnh hành trong các xã hội công nghiệp - đô thị phát triển. Những biến chuyển xã hội đang tác động vào gia đình trên mọi phương diện và đưa đến những hệ quả đa chiều như di cư, cha mẹ làm việc xa gia đình hoặc thiếu thời gian cho gia đình, các phương tiện truyền thông, internet... có những ảnh hưởng không nhỏ tới công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

3. Dự báo

            3.1. Xu hướng BVCSTE

- Cam kết quốc tế về vấn đề trẻ em sẽ tiếp tục được thực hiện và mở rộng phạm vi, bổ sung thêm nguồn lực thực hiện;

- Lợi ích của trẻ em tiếp tục được ưu tiên đặt lên hàng đầu trong mọi quyết định có liên quan đến sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia;

- Ưu tiên vùng miền vẫn tiếp tục được quan tâm, đặc biệt biến đổi khí hậu đã bắt đầu có tác động đến môi trường sống của trẻ em ở một số vùng núi và miền biển của Việt Nam.

- Mô hình bảo vệ và chăm sóc trẻ em trên thế giới ngày được hoàn thiện hơn với sự gia tăng của các dịch vụ phòng ngừa, can thiệp và hỗ trợ, trong đó vai trò chủ đạo là Chính phủ, và có sự tham gia tích cực, chủ động của cộng đồng và gia đình.

- Nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) đang chuyển dần từ hỗ trợ lĩnh vực sang hỗ trợ thực hiện các mục tiêu quốc gia.

3.2. Dự báo trẻ em và trẻ em cần bảo vệ đặc biệt

- Quy mô dân số trẻ em.Tỷ lệ trẻ em trên tổng dân số có xu hướng giảm dần xuống 30% vào năm 2020. Đến năm 2015-2020, có xu hướng tăng trong nhóm trẻ 12-16 tuổi dẫn đến áp lực trong công tác BVCSTE ở nhóm tuổi này. Trẻ em sống tập trung ở khu vực Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ (chiếm 53% trẻ em cả nước). Tỷ số giới tính khi sinh vẫn cao, 111 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái năm 2010 [Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2010]. Giới tính của trẻ em là vấn đề cần xem xét khi hoạch định chính sách cho trẻ em trong giai đoạn này. 

  • Nhóm trẻ em cần bảo vệ đặc biệt

Nhóm trẻ em bị tác động bởi sống trong các vùng địa lý, kinh tế-xã hội khó khăn.Tỷ lệ trẻ em so với tổng dân số ở khu vực Đông bắc, Bắc trung bộ và Duyên hải nam trung bộ cao (>40%) hơn so với tỷ lệ chung toàn quốc (30%). Đây là những vùng có tỷ lệ nghèo cao ở Việt Nam. Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong 5 nước chịu tác động nặng nhất của biến đổi khí hậu. Dự báo 73% dân số bị ảnh hưởng tập trung chính ở các tỉnh: Lai Châu, Thái Bình, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh Long, Tiền Giang, Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh...Ở những khu vực này cần tập trung hỗ trợ các đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. 

Nhóm trẻ em bị tác động bởi di cư và đô thị hóa.Di cư và đô thị hóa nhanh dẫn đến một số vấn đề phải cần quan tâm giải quyết có liên quan đến trẻ em: (i) Sự bất bình đẳng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục có chất lượng giữa thành thị và nông thôn; (ii) Quy hoạch các công trình phúc lợi phục vụ trẻ em như nhà trẻ, trường học, trạm y tế, khu vui chơi…đảm bảo môi trường sống an toàn, thân thiện; (iii) Sự hội nhập, môi trường kinh tế-xã hội thay đổi nhanh dẫn đến một số trẻ em có nguy cơ bị tổn thương: trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị xâm hại tình dục, trẻ em bị nhiễm HIV/AIDs; trẻ em phạm tội, trẻ em nghiện ma tuý, trẻ em bị buôn bán, và trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.



*
Cục Bảo vệ và Chăm sóc Trẻ em

[1]Niêm giám thống kê Y tế, 2009

[2]Ước tính và Dự báo nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam 2007-2012, Bộ Y tế, 2009

[3]Tuyên bô Thiên niên kỷ và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ , 9/2000. Tuyên bố về một thế giới phù hợp với trẻ em, 5/2002