TƯ TƯỞNG “TRỌNG NAM KHINH NỮ”

 VẪN CÒN LÀ THÁCH THỨC LỚN ĐỐI VỚI CÔNG TÁC DÂN SỐ.

                                                                                                NGUYỄN HUỲNH*

 

Quy mô, chất lượng dân số có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của quốc gia trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế cũng như văn hóa xã hội. Ổn đinh quy mô, nâng cao chất lượng dân số là mục tiêu hàng đầu của nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển và chịu nhiều tác động của việc tăng nhanh dân số như nước ta hiện nay. Dưới sự cố gắng, nổ lực của Đảng và nhà nước, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở nước ta thời gian qua đã đạt những kết quả quan trọng, đặc biệt tỷ lệ tăng dân số tự nhiên liên tục giảm, từ 2,1% (giai đoạn 1979 – 1989) xuống 1,24% năm 2007. Đây là cố gắng lớn của cả nước nói chung, của ngành dân số nói riêng. Tuy nhiên, mức sinh ở nước ta vẫn giảm chưa vững chắc. Một trong những nguyên nhân của việc tăng nhanh dân số là do tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu, bám rể trong suy nghĩ nhiều người Việt Nam. Đây thực sự là một thách thức đối với công tác dân số trong việc thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ sinh, ổn định quy mô và cơ cấu dân số.

Trọng nam khinh nữ là một tư tưởng trong đó coi nam giới là quan trọng hơn phụ nữ;  tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới. Mặc dù hiện nay quyền phụ nữ được công nhận nhưng tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn ở một số nước, đặc biệt là gắn liền với các tư tưởng tôn giáo và biểu hiện dưới nhiều cấp độ khác nhau. Trải qua thời kỳ chi phối lâu dài của học thuyết Nho giáo, trong đời sống tinh thần của người Việt Nam là làm sao phải có con trai để nối dõi dòng tộc, áp lực về con cái, về con nối dõi cứ truyền từ đời này qua đời khác dần dần ngấm vào tâm khảm nhiều người và cứ thế tư tưởng trọng nam, khinh nữ ngày càng có chiều hướng gia tăng.

Tư tưởng trọng nam khinh nữ ở nước ta được lý giải dựa trên ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo và nhận thức của người dân về thực tiễn cuộc sống: Người đàn ông có trách nhiệm nối dõng dòng họ, sẽ trông nom chăm sóc mồ mả tổ tiên; không có con trai là một điều bất kính với tổ tiên dòng họ. Nam giới là nguồn lao động chính, kế thừa tài sản của gia đình và có trách nhiệm chăm sóc cha mẹ lúc về già. Khi hệ thống phúc lợi xã hội đối với người già còn chưa phát triển, nhất là tại các vùng nông thôn, nơi 74% dân số đang sinh sống, con cái chăm sóc cha mẹ già vẫn là hết sức quan trọng. Người già vẫn đa phần phải dựa vào sự hỗ trợ trong gia đình.

Mặc dù công tác dân số trong thời gian qua đã rất chú trọng đến việc tuyên truyền, giáo dục để dần loại bỏ tư tưởng trọng nam khinh nữ, tuy nhiên ảnh hưởng vẫn còn rất nặng nề đến việc thực hiện các mục tiêu dân số. Thực tế cho thấy, tư tưởng trọng nam, khinh nữ còn gây những thách thức đối với công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, cụ thể:

Thứ nhất: Dưới tác động của tư tưởng trọng nam khinh nữ, mục tiêu giảm tỷ lệ sinh khó đạt được một cách bền vững. Đối với nhiều người dân tâm lý mong muốn có con trai vẫn còn rất nặng nề, vì thế trong những năm gần đây, khi công tác dân số có phần buông lỏng thì tỷ lệ tăng dân số ở nước ta lại có xu hướng tăng nhanh. Thời kỳ “hoàng kim’’ của công tác dân số kế hoạch hóa gia đình (1993 - 2000), tỷ suất sinh giảm rất nhanh từ 30,040/00 năm 1992 xuống còn 19,170/00 năm 2000, bình quân mỗi năm giảm được 1,350/00. Nhưng ngay sau đó, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên tăng mạnh trở lại (tỷ suất sinh năm 2003 là 17,50/00, năm 2004 là 19,20/00). Đặc biệt là tình trạng cán bộ, đảng viên sinh con thứ ba trở lên (chủ yếu do tâm lý phải có con trai) tăng nhiều ở hầu hết các địa phương, gây tác động tiêu cực đến thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Năm 2007, xét về chỉ tiêu giảm sinh chỉ đạt 0,250/00, (chỉ tiêu Quốc hội đề ra là 0,30/00); 35/64 tỉnh, thành phố có số sinh tăng so với cùng kỳ năm 2006. Trong 3 tháng đầu năm 2008, chỉ tính số trẻ sinh ra đã cao hơn so với cùng kỳ năm 2007 khoảng 100.000 trẻ. Bộ Y tế đã đưa ra danh sách 39/64 tỉnh, thành có mức sinh tăng mạnh, trong đó có 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM.

Thứ hai: Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tỷ lệ nam - nữ xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân trọng nam khinh nữ. Tỷ số giới tính khi sinh được đo bằng số trẻ sơ sinh trai trên một trăm trẻ sơ sinh gái được sinh ra. Tỷ số này được xem là bình thường khi có 105 đến 108 bé trai được sinh ra so với 100 bé gái, bởi vì tỷ lệ chết ở trẻ trai thường hơi cao hơn trẻ gái một chút do vậy khi đến tuổi trưởng thành, số nam và nữ sẽ cân bằng nhau. Nhưng ngay từ kết quả Tổng điều tra Dân số năm 1999 ở nước ta cũng đã có dấu hiệu mất cân đối giới tính, đặc biệt ở một số tỉnh, thành phố có tỷ suất vượt quá ngưỡng tự nhiên. Điển hình là Thái Bình: tỷ số 120 nam/100 nữ; Kiên Giang: 125 nam/100 nữ, An Giang: 128 nam/100 nữ...Có thể nhận thấy tư tưởng trọng nam khinh nữ và cố sinh con trai để nối dõi tông đường đã khiến xu hướng sinh ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mất cân bằng giới tính. Trong khi đó yêu cầu đặt ra đối với công tác dân số là cần tập trung hơn nữa giải quyết các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng giới, đề cao vai trò và giá trị của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình và xã hội, thay vì chỉ nhấn mạnh mục tiêu giảm sinh như hiện nay. 

Thứ ba: Tư tưởng trọng nam khinh nữ và những hạn chế trong việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dân số. Chất lượng dân số thể hiện ở nhiều mặt, trong đó có sự phát triển về trình độ nhận thức, tư tưởng, tri thức khoa học. Tư tưởng trọng nam khinh nữ cho thấy trình độ nhận thức của người dân Việt Nam hiện nay vẫn còn rất lạc hậu. Tư tưởng này đã kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực, tác động xấu đến chất lượng sống của người dân: làm mất cân bằng nghiêm trọng cơ cấu dân số; các cơ sở y tế, bói toán hành nghề ăn theo phục vụ nhu cầu sinh con theo ý muốn; tình trạng nạo phá thai nhi khi kết quả siêu âm, chuẩn đoán cho biết là gái gia tăng; xu hướng người chồng có quan hệ với những người phụ nữ khác để tìm con trai, gây tan vỡ hạnh phúc gia đình ngày càng nhiều; mâu thuẫn, bất hòa, cuộc sống nặng nề ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của nhiều gia đình, con cái không được dạy dỗ chu đáo, có suy nghĩ lệch lạc, phát triển không đồng đều, dễ xa vào tệ nạn xã hội; vì cố đẻ con trai dẫn đến kinh tế gia đình khó khăn, nghèo nàn, con cái không được học hành cũng như hưởng các điều kiện sống cần thiết…Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội chưa thực sự được đề cao, bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại.

Thứ tư: Tư tưởng trọng nam khinh nữ đặt ra thách thức đối với công tác dân số phải đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân. Một trong những mục tiêu quan trọng của công tác dân số là thông qua tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của người dân đối với vấn đề dân số, trong đó hướng đến việc giảm tỷ lệ sinh thông qua khắc phục tư tưởng trọng nam khinh nữ. Thực tiễn tư tưởng trọng nam khinh nữ yêu cầu công tác dân số phải không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, đặc biệt là việc tuyên truyền, giáo dục đổi mới tư duy, nhận thức lạc hậu của người dân, từng bước loại bỏ dần tư tưởng này ra khỏi đời sống. Nếu vẫn duy trì cách thức hoạt động cũ, công tác dân số khó tạo ra những chuyển biến tích cực trong tư tưởng cũng như hành động của mọi người đối với vấn đề trọng nam khinh nữ.

Tóm lại, trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện tại, những tồn tại của tư tưởng trọng nam khinh nữ đặt ra rất nhiều thách thức đòi hỏi công tác dân số phải được điều chỉnh kịp thời, đáp ứng với những thay đổi nhanh của đời sống xã hội; cùng với mục tiêu giảm bền vững tỷ lệ sinh, phải tập trung nguồn lực để giải quyết các vấn đề liên quan đến bất bình đẳng giới, nâng cao chất lượng dân số, đề cao vai trò và giá trị của người phụ nữ. Đây là một nhu cầu cấp bách của xã hội./.

 



* Văn phòng huyn u Hoài Nhơn, Bình Định.