KẾT LUẬN CỦA LÃNH ĐẠO TỔNG CỤC DÂN SỐ- KẾ HOẠCH HOÁ GIA ĐÌNH TẠI HỘI THẢO TRIỂN KHAI TIẾP THỊ XÃ HỘI CÁC PHƯƠNG TIỆN TRÁNH THAI VỚI CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ NĂM 2009

 

Thực hiện chương trình công tác năm 2009, Tổng cục Dân số -Kế hoạch hoá gia đình (DS-KHHGĐ)- Bộ Y tế tổ chức hội thảo triển khai tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai năm 2009, với các tỉnh khu vực phía Bắc tại Hà Nội vào ngày 26/3/2009, với các tỉnh khu vực phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 31/3/2009. Tham dự Hội thảo có đại diện Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ ngành liên quan; đại diện lãnh đạo các vụ đơn vị thuộc Bộ Y tế và Tổng cục DS-KHHGĐ; đại diện lãnh đạo Sở Y tế, Chi cục DS-KHHGĐ, Trung Tâm chăm sóc SKSS, Hội KHHGĐ các tỉnh, thành phố.

Hội thảo đã được nghe phát biểu chỉ đạo Hội thảo của Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Bá Thuỷ, báo cáo của Vụ Dân số-KHHGĐ-Tổng cục DS-KHHGĐ, Văn phòng DKT tại Việt Nam, Hội KHHGĐ Việt Nam và ý kiến phát biểu của các đại biểu đại diện các cơ quan tham dự Hội thảo.

Hội thảo đã thống nhất một số nội dung chính như sau:

1. Kết quả đạt được của chương trình trong thời gian qua:

            Kết quả quan trọng nhất của chương trình tiếp thị xã hội (TTXH) các phương tiện tránh thai (PTTT) ở Việt Nam trong thời gian qua là tạo sự chuyển đổi ý thức và hành vi của người dân đã quen với phương thức cung cấp miễn phí, bao cấp hoàn toàn các PTTT và chi phí các dịch vụ KHHGĐ trong hơn 30 năm trước đây (từ 1961-1993), nhưng ngày nay đã chấp nhận tự mua PTTT (như bao cao su, thuốc viên tránh thai) để thực hiện KHHGĐ và phòng chống HIV/AIDS. Sự chấp nhận đó ngày càng tăng trong cộng đồng và một bộ phận lớn khách hàng của chương trình DS-KHHGĐ Việt Nam.

Trong 15 năm thực hiện TTXH 1993-2008, chương trình đã góp phần đưa tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai của Việt Nam tăng từ 53,18% (năm 1988) lên 79,5% (năm 2008). Tỷ trọng sử dụng bao cao su TTXH so với bao cao su miễn phí trong chương trình DS-KHHGĐ đã tăng đáng kể từ 45,6% năm 1996 lên 68,4% năm 2000 và 77,2% năm 2008; Tỷ trọng sử dụng thuốc viên tránh thai TTXH so với cấp miễn phí cũng tăng từ 25% năm 1997 lên 37,2% năm 2008; Từ năm 2008 chúng ta đã bước đầu thí điểm triển khai TTXH một số PTTT lâm sàng như: Thuốc tiêm tránh thai, vòng tránh thai v.v…

2. Những hạn chế và tồn tại lớn của chương trình tiếp thị xã hội các phương tiện tránh thai, cần sớm được khắc phục:

- Tỷ trọng sử dụng bao cao su TTXH trong chương trình DS-KHHGĐ đã tăng rõ rệt, nhưng so với tổng nhu cầu bao cao su của chương trình SKSS và phòng chống HIV/AIDS còn rất thấp, đòi hỏi các chương trình, dự án TTXH phải nỗ lực nhiều hơn nữa để thực hiện các mục tiêu đề ra.

- Đầu tư nguồn lực và tổ chức bộ máy để triển khai TTXH những năm qua chưa tương xứng với mục tiêu và nhu cầu của chương trình DS-KHHGĐ và chăm sóc SKSS.

- Nhiều nơi còn quan niệm là làm TTXH để sinh lời (không phải là phi lợi nhuận) dẫn đến tình trạng cho rằng cơ quan nào cũng có thể thực hiện được TTXH.

- Các cơ quan/tổ chức thực hiện TTXH trong nước không ổn định, thiếu kinh nghiệm, không chuyên nghiệp nên kết quả còn thấp so với nhu cầu. Điều đáng tiếc là một số sản phẩm TTXH (như bao cao su HELLO, YES) khi bước đầu tạo được sự chấp nhận thì sau đó lại vắng bóng trên thị trường một thời gian khá dài, ảnh hưởng lớn đến sự chấp nhận của khách hàng.

3. Sau khi nghe báo cáo tham luận của các đại biểu đại diện các cơ quan tham gia Hội thảo, Lãnh đạo Tổng cục DS-KHHGĐ kết luận như sau:

Để đảm bảo tính bền vững của chương trình, thực hiện xã hội hoá công tác DS-KHHGĐ cần thiết phải đẩy mạnh tiếp thị xã hội PTTT. Một số giải pháp cần tập trung đẩy mạnh gồm:

1. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, vận động, quảng bá về TTXH trên thông qua việc đa dạng hoá về hình thức và phương tiện truyền thông, chú trọng tư vấn và truyền thông trực tiếp tại cộng đồng.

2. Bảo đảm cung cấp đầy đủ PTTT để thực hiện TTXH, đồng thời giảm cấp miễn phí các PTTT, trước mắt là thuốc viên và bao cao su.

3. Đẩy mạnh tiếp thị xã hội phù hợp với từng địa bàn và khả năng chi trả của khách hàng. Có chính sách, chế độ để khuyến khích người cung cấp và người sử dụng. Tiến hành khảo sát, đánh giá để xây dựng lộ trình tăng giá sản phẩm tiếp thị xã hội phù hợp với sự phát triển kinh tế -xã hội trong từng giai đọan.

4. Giao Vụ KHTC phối hợp với Vụ Dân số-KHHGĐ thuộc Tổng cục DS-KHHGĐ làm việc với Trung ương Hội KHHGĐ Việt Nam thẩm định kế hoạch hoạt động, dự toán ngân sách và ký hợp đồng triển khai dự án TTXH năm 2009 đúng tiến độ và theo các quy định hiện hành của Nhà nước.

5. Tăng cường đào tạo tập huấn về tiếp thị xã hội các PTTT, sớm trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản về quản lý TTXH.

6. Kiện toàn tổ chức bộ máy, mạng lưới TTXH tại tỉnh, thành phố. Thành lập và xây dựng quy chế hoạt động của Ban quản lý dự án TTXH tỉnh, thành phố trong đó Hội KHHGĐ tỉnh là thường trực, chi cục Dân số-KHHGĐ là cơ quan phối hợp chính. Những tỉnh chưa có tỉnh, thành Hội KHHGĐ, đề nghị giao Chi cục Dân số -KHHGĐ tỉnh, thành phố đảm nhận.

Tổng cục DS-KHHGĐ- Bộ Y tế xin thông báo để các cơ quan biết, thực hiện./.