KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

GIAI ĐOẠN 2011-2015 CỦA NGÀNH Y TẾ


Là một ngành liên quan trực tiếp đến các dịch vụ xã hội và góp phần quan trọng trong đảm bảo an sinh xã  hôi, ngành Y tế luôn kịp thời hưởng ứng và triển khai các chủ trương chính sách của Đảng về công tác cán bộ nữ, dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ và trẻ em.

            Nhận thức của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền trong các đơn vị trực thuộc về vai trò, vị trí công tác cán bộ nữ có chuyển biến hơn trước. Các đơn vị đã quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ nữ đảm nhận các chức vụ trong quản lý chính quyền, trong các cấp Uỷ cũng như trong lãnh đạo các tổ chức đoàn thể. Bên cạnh đó, toàn ngành còn thường xuyên chăm lo đến quyền lợi và các chế độ, chính sách dành cho cán bộ nữ. Vào thời điểm cuối năm 2010, 99,7% cán bộ nữ trong ngành có việc làm thường xuyên với mức thu nhập ổn định không thấp hơn so với  mức thu nhập trung bình của địa phương. Tỷ lệ cán bộ nữ được hưởng đầy đủ quyền lợi về an toàn lao động và các chế độ chính sách đạt 98,2%. Tỷ lệ cán bộ nữ phải làm các công việc nặng nhọc trong môi trường độc hại đã giảm từ 35% (năm 2005) xuống còn 31,8% (năm 2010). Tỷ lệ cán bộ y tế được đào tạo sau đại học là nữ cũng đã tăng từ 41,6% (năm 2005) lên 43,8% (năm 2010). Tỷ lệ cán bộ Y tế được đào tạo tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ là nữ chiếm 39,6% (năm 2010). Tỷ lệ cán bộ được đào tạo về Tin học, Chính trị, Quản lý nhà nước là nữ chiếm 63,5%; 52,4% và 51,8%. Tỷ lệ cán bộ đạt các danh hiệu thi đua là nữ chiếm 61,1% (năm 2010). Tỷ lệ cán bộ y tế đạt các danh hiệu thầy thuốc/nhà giáo ưu tú, nhân dân là nữ chiếm 0,8% (năm 2010)...

            Tỷ lệ nữ tham gia quản lý, tham gia công tác đảng, đoàn thể gia tăng qua các năm và vượt chỉ tiêu quốc gia vì sự tiến bộ phụ nữ giai đoạn 2006-2010. Đến tháng 9 năm 2010; tỷ lệ nữ giữ cương vị lãnh đạo từ cấp Vụ và tương đương trở lên tại cơ quan Bộ Y tế chiếm 17,2% (14/81), tỷ lệ này tại các đơn vị trực thuộc Bộ là 14,33% và tại các Sở Y tế là 22,3%. Tỷ lệ đảng viên nữ trong toàn ngành đạt 52,3% (năm 2010), vượt chỉ tiêu đề ra (35%). Tỷ lệ đảng viên tham gia cấp uỷ Đảng là nữ đạt 36,8% (năm 2010) cao hơn so với chỉ tiêu  mong đợi (30%).

            Một số chỉ tiêu của Mục tiêu 3 cải thiện và nâng cao sức khoẻ cho phụ nữ cũng đã đạt được và vượt mức chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Tỷ lệ phụ nữ có chồng trong độ tuổi 15-49 hiện đang sử dụng biện pháp tránh thai đạt 79,5% (năm 2010) cao hơn so với năm 2001 (73,9%). Tỷ lệ phụ nữ có thai được khám đủ 3 lần đã tăng từ 84,6% (2005) lên 87,7% (2009); vượt xa so với mục tiêu Thiên niên kỷ (60%). Tỷ lệ phụ nữ được cán bộ y tế chăm sóc khi sinh đạt 96,9% (2010), gần đạt được mục tiêu Thiên niên kỷ (97%). Tỷ lệ chết mẹ đã giảm từ 80/100.000 trẻ đẻ sống xuống còn 69/100.000, thấp hơn so với mục tiêu Thiên niên kỷ (70/100.000). Tỷ lệ nạo phá thai cũng đã giảm từ 34,9% (2005) xuống còn 29% (2010). Tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV/AIDS đã đạt được khống chế giảm từ 0,35% (2005) xuống còn 0,28% (2009), vượt chỉ tiêu đề ra đến năm 2010 là 0,5%. Tuổi thọ trung bình của phụ nữ đã tăng từ 70 tuổi (1999) lên 76 tuổi (2008).

            Tuy nhiên, việc quán triệt các nội dung về chỉ thị, nghị quyết của đảng, Chính phủ đối với công tác cán bộ nữ ở một số đơn vị chưa đầy đủ, thiếu thường xuyên, hoạt động tuyên truyền phổ biến các văn bản này còn chưa được quan tâm đúng mức, chưa đề ra chỉ tiêu phấn đấu và giải pháp cụ thể nhằm phát huy hơn nữa vị thế, vai trò của cán bộ nữ trong toàn ngành.

            Một số cấp uỷ Đảng chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu khách quan của việc tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ nữ, chưa quan tâm sắp xếp và tạo điều kiện, quản lý chủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ đứng đầu các đơn vị trực thuộc còn thấp. Tỷ lệ nữ làm công tác quản lý tuy có tăng so với trước nhưng chưa tương xứng với tỷ lệ cán bộ nữ của các đơn vị trong ngành Y tế. Từ nay tới năm 2015, số cán bộ nữ đảm nhận cương vị quản lý tại các đơn vị thuộc cơ quan Bộ Y tế và các cơ sở trực thuộc sẽ giảm đi đáng kể do đến tuổi nghỉ hưu, nguồn cán bộ nữ thuộc diện quy hoạch chưa nhiều do vậy việc duy trì và nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý trong ngành sẽ là rất khó khăn.

            Trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ bà mẹ trẻ em, hầu hết các chỉ tiêu đã đạt và vượt so với kế hoạch đề ra, xong vẫn còn một số chỉ tiêu về sức khoẻ phụ nữ hiện vẫn chưa tổng hợp được đầy đủ và khó đánh giá do không có trong danh mục các chỉ số trong niên giám thống kê Y tế như: Tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận dịch vụ y tế, tỷ lệ cán bộ y tế thôn bản có đủ thuốc, dụng cụ thiết yếu phục vụ đỡ đẻ sạch, an toàn.

            Hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ ở một số đơn vị còn mang tính hình thức, chậm được kiện toàn nhân sự, duy trì hoạt động chưa thường xuyên, không có quy chế hoạt động, kế hoạch hành động chưa sát với thực tế nên việc tổng kết, đánh giá kết quả còn gặp nhiều khó khăn.

Nguyên nhân của những tồn tại trên là do:

            - Định kiến giới vẫn còn tồn tại nặng nề trong nhận thức chung của toàn xã hội. Nhận thức về bình đẳng giới trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền ở nhiều nơi còn giản đơn, phiến diện, không đầy đủ, chưa thực sự quan tâm tới lồng ghép giới vào hoạch định và thực thi chính sách.

            - Một số chị em còn mặc cảm, tự ti, chưa có ý thức vươn lên trong học tập và công tác. Tiền lương và thu nhập của công chức, viên chức y tế nhìn chung còn thấp so với các ngành khác nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn, chị em phải dành thời gian để chăm lo đến cuộc sống gia đình, không có đủ điều kiện để phấn đấu nên thường không đáp ứng được các quy định về tiêu chuẩn quy hoạch và bổ nhiệm cán bộ.

            - Do không có khảo sát đánh giá ban đầu nên khi xây dựng KHHĐ VSTBPN giai đoạn 2006-2010 có một số chỉ tiêu chưa phù hợp, một số chỉ tiêu của Bộ Y tế đề ra khác với chỉ tiêu của KHHĐ quốc gia, nên quá trình triển khai thực hiện còn nhiều khó khăn. Chế độ báo cáo của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ các Sở Y tế và các đơn vị trực thuộc Bộ không thường xuyên và chưa đầy đủ. Riêng số liệu về tình hình sức khoẻ phụ nữ cần phải được kiểm tra, khảo sát và thu thập như một điều tra quốc gia mới thu được kết quả chính xác và khách quan.

            - Hoạt động của Ban Vì sự tiến bộ phụ nữ còn chưa thường xuyên, các thành viên tất cả đều kiêm nhiệm, không có cán bộ chuyên trách, kinh phí hoạt động còn hạn hẹp nên gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai, cũng như giám sát đánh giá thực hiện kế hoạch.

            Căn cứ vào cơ sở pháp lý và thực tiễn trên đây, việc xây dựng Kế hoạch hành động về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015 của ngành y tế là hết sức cần thiết và cấp bách.

II. Mục tiêu của kế hoạch hành động:

1. Mục tiêu tổng quát:

            Đến năm 2015, về cơ bản đảm bảo bình đẳng thực sự giữa nam và nữ về cơ hội, mức độ tham gia và hưởng thụ trong các lĩnh vực đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, lao động việc làm, chăm sóc sức khoẻ cũng như vị thế trong lãnh đạo quản lý tại các đơn vị trong toàn ngành Y tế.

2. Mục tiêu cụ thể:

2.1. Mục tiêu 1: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các cương vị lãnh đạo, quản lý của toàn ngành nhằm từng bước giảm dần khoảng cách về giới tính trong lĩnh vực này.

2.2. Mục tiêu 2: Thu hẹp dần khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động việc làm của cán bộ viên chức ngành Y tế.

2.3. Mục tiêu 3: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động nữ, từng bước đảm bảo sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong thụ hưởng giáo dục và đào tạo của toàn ngành.

2.4. Mục tiêu 4: Đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

2.5. Mục tiêu 5: đảm bảo bình đẳng giới trong gia đình, từng bước xoá bỏ bạo lực trên cơ sở giới.

2.6. Mục tiêu 6: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới ngành Y tế

            3. Các chỉ số cần đạt được:

3.1. Mục tiêu 1: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các cương vị lãnh đạo, quản lý trong toàn Ngành nhằm từng bước giảm dần khoảng cách về giới trong lĩnh vực này.

            - Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ cán bộ nữ là lãnh đạo quản lý cấp Vụ và tương đương trở lên đạt 20%.

            - Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ cán bộ nữ là lãnh đạo quản lý các đơn vị trực thuộc Bộ đạt 18%, sở Y Tế đạt 25%.

            - Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ cán bộ nữ trong Lãnh đạo Bộ Y tế chiếm từ 30% trở lên.

            - Chỉ tiêu 4: Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng trong toàn ngành đạt 40% trở lên.

3.2. Mục tiêu 2: Thu hẹp dần khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm của cán bộ viên chức ngành y tế:

            - Chỉ tiêu 1: 100% các đơn vị không có sự phân biệt về giới trong tiêu chí tuyển dụng lao động (ngoại trừ các vị trí làm việc nặng nhọc, độc hại không nên sử dụng lao động nữ).

            - Chỉ tiêu 2: Giảm tỷ lệ cán bộ y tế là nữ trong các vị trí công việc nặng nhọc, độc hại từ 31,8% (2010) xuống còn 28,85 (2015), tương đương với mức giảm của giai đoạn trước.

            - Chỉ tiêu 3: Tỷ lệ cán bộ nữ được đào tạo nghề và chuyên môn kĩ thuật tại các đơn vị trong ngành đạt ít nhất 50% mỗi năm.

3.3. Mục tiêu 3: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động nữ, từng bước đảm bảo sự tham gia bình đẳng giới giữa nam và nữ trong thụ hưởng giáo dục và đào tạo của toàn ngành.

            - Chỉ tiêu 1: Tỷ lệ cán bộ nữ trong số cán bộ được đào tạo thạc sĩ và tương đương đạt 45% đến năm 2015.

            - Chỉ tiêu 2: Tỷ lệ cán bộ nữ trong số cán bộ được đào tạo tiến sĩ và tương đương đạt 20% đến năm 2015

3.4. Mục tiêu 4: Đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

            - Chỉ tiêu 1: Tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh trai/100 trẻ sơ sinh gái.

            - Chỉ tiêu 2: Giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên quan đến thai sản xuống còn 58,3/100.000 trẻ đẻ sống

            - Chỉ tiêu 3: Tăng tỷ lệ phụ nữ mang thai được tiếp cận dịch vụ chăm sóc và dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con lên 40% so với năm 2010.

            - Chỉ tiêu 4: Giảm tỷ lệ phá thai xuống còn 27/100 trẻ đẻ sống.

3.5. Mục tiêu 5: Bảo đảm bình đẳng giới trong gia đình, từng bước xoá bỏ bạo lực trên cơ sở giới.

            - Chỉ tiêu 1: 100% các đơn vị trong ngành tổ chức phổ biến, tuyên truyền về Luật Phòng chống bạo lực gia đình cho toàn thể công chức viên chức và người lao động.

            - Chỉ tiêu 2: 100% cơ sở khám, chữa bệnh tổ chức sàng lọc, chăm sóc y tế và tư vấn cho người  bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình.

            - Chỉ tiêu 3: 20% cơ sở khám, chữa bệnh tại các tuyến trung ương, tỉnh, huyện có phòng tư vấn và hỗ trợ cho người bệnh là nạn nhân của bạo lực gia đình.

3.6. Mục tiêu 6: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới ngành Y tế

            - Chỉ tiêu 1: Thực hiện lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đối với 80% dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế, 100% dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế xác định có vấn đề bất bình đẳng giới.

            - Chỉ tiêu 2: 80% thành viên các Ban soạn thảo, tổ biên tập xây dựng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về y tế được tập huấn kiến thức về giới, phân tích giới và lồng ghép giới trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

            - Chỉ tiêu 3: 100% cán bộ, công chức, viên chức làm công tác cán bộ, bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ ở các cấp của ngành y tế được tập huấn nghiệp vụ ít nhất 1 lần.

III. Các giải pháp thực hiện:

1. Giải pháp thực hiện Mục tiêu 1: Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các cương vị lãnh đạo, quản lý của toàn Ngành nhằm từng bước giảm dần khoảng cách về giới trong lĩnh vực này.

            - Xây dựng văn bản chỉ đạo của Ban cán sự Đảng  Bộ Y tế về việc quy hoạch cán bộ, trong đó có chú trọng đến công tác quy hoạch cán bộ nữ.

            - Đưa vào nghị quyết của ban cán sự Đảng về công tác bổ nhiệm cán bộ đảm bảo tỷ lệ nữ tham gia lãnh đạo quản lý đến năm 2015.

            - Ban cán sự Đảng phối hợp với các cấp uỷ Đảng đơn vị và địa phương, đảm bảo đủ tỷ lệ nữ tham gia cấp uỷ các cấp.

            - Xây dựng các văn bản hướng dẫn sở Y tế tham mưu với cấp ủy Đảng, chính quyền tại các địa phương về cơ cấu cán bộ nữ tham gia lãnh đạo quản lý và cơ cấu nữ trong quy hoạch cán bộ nguồn...

2. Giải pháp thực hiện mục tiêu 2: Thu hẹp dần khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao dộng việc làm của cán bộ viên chức ngành Y tế.

            - Xây dựng tiêu chí về tỷ lệ tuyển dụng cán bộ mới hàng năm, bảo đảm không có sự phân biệt về giới trong tiêu chí tuyển dụng trừ các công việc nặng nhọc, độc hại không phù hợp với lao động nữ.

            - Xây dựng kế hoạch đào tạo cho cácn bộ lao động nữ về đào tạo nghề và chuyên môn kĩ thuật.

3. Giải pháp thực hiện mục tiêu 3: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lao động nữ, từng bước đảm bảo sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong thụ hưởng lĩnh vực giáo dục và đào tạo

            - Ban hành văn bản chỉ đạo của lãnh đạo Bộ đối với các đơn vị trực thuộc Bộ, các đơn vị thuộc cơ quan Bộ về phương án ưu tiên đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cho cán bộ nữ.

            - Xây dựng Hướng dẫn về kế hoạch và tài chính trong việc lập kế hoạch đào tạo cán bộ hàng năm, ưu tiên cho đối tượng nữ được đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ.

4. Giải pháp thực hiện mục tiêu 4: Đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ

            - Xây dựng các văn bản triển khai chiến lược Dân số - Sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2011-2020, đảm bảo tỷ số giới tính khi sinh không vượt quá 113 trẻ sơ sinh tra/100 trẻ sơ sinh gái vào năm 2015.

            - Phối hợp với các ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội triển khai chương trình làm mẹ an toàn tại các tỉnh/ thành phố nhằm giảm tỷ lệ tử vong bà mẹ liên qua đến thai sản xuống còn 58,3/100.000 trẻ đẻ sống vào năm 2015.

            - Xây dựng mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục cho phụ nữ và nam giới.

            - Xây dựng đề án truyền thông nâng cao nhận thức về sức khoẻ sinh sản và sức khoẻ tình dục cho phụ nữ và nam giới với sự tham gia của đông đảo các lực lượng xã hội.

            - Lồng ghép giới trong việc xây dựng các chính sách, chương trình kế hoạch của ngành y tế thuộc các lĩnh vực sức khoẻ sinh sản, phòng chồng HIV/AIDS.

5. Giải pháp thực hiện mục tiêu 5: Bảo đảm bình đẳng giới trong gia đình, từng bước xoá bỏ bạo lực trên cơ sở giới.

            - Chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị trong toàn ngành phối hợp với Bộ Lao động thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp phụ nữ lập kế hoạch triển khai phổ biến tuyên truyền về Luật phòng chống Bạo lực gia đình và các văn bản có liên quan.

            - Ban hành văn bản hướng dẫn và tổ chức thí điểm thành lập trung tâm/phòng tư vấn, hỗ trợ người bệnh là nạn nhân của bạo lực gia đình tại một số cơ sở khám chữa bệnh thuộc các tuyến trung ương, tỉnh, huyện.

            - Ban hành văn bản hướng dẫn và triển khai thí điểm hoạt động cập nhật dữ liệu, thống kê về bạo lực gia đình tại một số cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

6. Giải pháp thực hiện mục tiêu 6: Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới.

            - Xây dựng hướng dẫn, chỉ đạo của Ban cán sự Đảng đến các vụ, cục, tổng cục, thanh tra Bộ, văn phòng Bộ về việc quan tâm đến vấn đề giới trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực của Bộ và cử cán bộ tham gia vào ban soạn thảo, tổ biên tập xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

            - Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng và triển khai thực hiện Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Luật bình đẳng giới, Luật phòng chống bạo lực gia đình, công ước CEDAW và kết quả tổng kết 5 năm thực hiện KHHĐVSTBPN giai đoạn 2006-2010 của ngành Y tế.

            - Tổ chức các lớp tập huấn về giới, lồng ghép giới cho các thành viên ban VSTBPN các cấp, các đồng chí lãnh đạo và cán bộ làm công tác tham mưu liên quan đến hoạch định và thực thi chính sách các đơn vị. Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ công tác vì sự tiến bộ phụ nữ cho các thành viên của Ban VSTBPN các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế.

            - Nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Ban VSTBPN Bộ y tế; tiếp tục đôn đốc các đơn vị trong ngành Y tế kiện toàn tổ chức và hoạt động của ban VSTBPN của đơn vị.

            - Tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc triển khai thực hiện Kế hoạch hành động Vì bình đẳng giới và sự tiến bộ phụ nữ ngành Y tế giai đoạn 2011-2015.

            - Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát hàng năm, phát hiện khó khăn, vướng mắc và giải quyết kịp thời nhằm thực hiện thành công Kế hoạch hành động Vì bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ ngành Y tế giai đoạn 2011-2015.

 

Liên kết