KHÁC BIỆT GIỚI Ở CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ

 CẤP CƠ SỞ VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM

 

TS. NGUYỄN THỊ MỸ TRANG, ThS. LẠI THỊ THU HÀ*        


1. Khác biệt giới về mức độ hiểu biết hành vi bạo lực gia đình                                        

Cuộc khảo sát đưa ra 12 chỉ báo về hành vi bạo lực gia đình (BLGĐ) để nam và nữ là cán bộ lãnh đạo quản lý (LĐQL) nhận diện và cho biết ý kiến của mình về mức độ hiểu biết các hành vi đó.

      
Bảng 1. Mức độ hiểu biết hành vi BLGĐ theo giới tính của cán bộ LĐQL

 Đơn vị tính: %

 

Nam cán bộ LĐQL

Nữ cán bộ LĐQL

Đồng ý

Không đồng ý

Khó trả lời

Đồng ý

Không đồng ý

Khó trả lời

1.Chồng mắng, chửi vợ

69,7

15,4

10,6

71,0

14,5

8,1

2.Vợ mắng, chửi chồng

77,7

13,9

8,0

90,9

6,1

3,0

3. Chồng đánh đập vợ

86,7

10,8

2,1

90,6

7,4

1,7

4. Vợ đánh đập chồng

80,8

14,8

4,3

81,7

12,3

6,0

5. Con cái mắng, chửi bố mẹ

82,2

13,9

3,5

89,1

6,5

4,2

6. Bố mẹ đánh đập con cái

80,6

14,9

3,6

85,3

7,9

5,6

7. Con cái đánh đập bố mẹ

75,9

15,1

8,4

82,1

10,9

6,8

8. Ép buộc quan hệ tình dục

60,0

25,3

14,1

66,5

19,5

13,3

9. Ép buộc hôn nhân

58,8

25,0

16,0

64,5

19,9

14,9

10. Đập phá tài sản chung hoặc của người khác trong gia đình

63,8

22,4

13,1

60,4

21,7

16,8

11. Ngăn cản thành viên trong gia đình tiếp xúc với người thứ 3

51,3

29,4

18,1

49,1

30,7

19,0

12. Cố ý không tiếp xúc với thành viên khác

34,6

56,1

7,6

39,7

52,1

4,8

 
12 chỉ báo nêu trên có thể chia thành  4 nhóm  hành vi BLGĐ sau đây:

- BLGĐ về thể chất, bao gồm các hành vi: (3) chồng đánh đập vợ, (4) vợ đánh đập chồng,  (6) bố mẹ đánh đập con cái,  (7) con cái đánh đập bố mẹ

- BLGĐ về tinh thần, bao gồm các hành vi: (1) chồng mắng, chửi vợ, (2) vợ mắng, chửi chồng, (5) con cái mắng chửi bố mẹ, (11) ngăn cản thành viên trong gia đình tiếp xúc với người thứ 3, (12) cố ý không tiếp xúc với thành viên khác

- BLGĐ trong quan hệ tình dục, hôn nhân, bao gồm các hành vi: (8) ép buộc quan hệ tình dục, (9) ép buộc hôn nhân

- BLGĐ về  kinh tế:  (10) đập phá tài sản chung hoặc của người khác trong gia đình

Theo số liệu nêu ở bảng 1, mức độ hiểu biết đúng hành vi (đồng ý) BLGĐ ở nữ cán bộ LĐQL phần lớn có tỉ lệ cao hơn (10/12 hành vi, trừ hành vi 11 và 12) so với cùng mức độ hiểu biết của nam cán bộ LĐQL. Trong khi đó, ở mức độ hiểu biết không đúng (không đồng ý) về hành vi BLGĐ ở nam cán bộ LĐQL lại có tỉ lệ cao hơn so với nữ cán bộ LĐQL ở cùng mức độ. Đáng chú ý là có sự khác biệt giới tính khá rõ nét đối với các hành vi 2, 3, 5, 6, 7 và 9; trong đó, tập trung chủ yếu ở nhóm hành vi BLGĐ về thể chất (với 3 trong tổng số 4 hành vi), nhóm BLGĐ về tinh thần (với 2 trong tổng số 5 hành vi), nhóm hành vi BLGĐ trong quan hệ tình dục, hôn nhân (2 trong tổng số 2 hành vi). Có thể lý giải sự khác biệt nói trên như sau:

            - Đối với hành vi BLGĐ về thể chất, tinh thần:

Theo các nhà nghiên cứu, các cơ quan chức năng có liên quan đến vấn đề BLGĐ và thực tế cuộc sống thì BLGĐ chủ yếu do người chồng/nam giới gây ra (chiếm trên 90% các trường hợp BLGĐ), và do đó nạn nhân của BLGĐ thường là người vợ/nữ giới nhất là đối với hành vi BLGĐ về thể chất và trong quan hệ tình dục, hôn nhân. Tuy nhiên, cũng có hành vi BLGĐ của vợ đối với chồng- đó là người vợ mắng chửi hoặc đánh đập người chồng. Theo đó, hành vi “vợ chửi, mắng chồng” dễ xảy ra và xảy ra nhiều hơn so với hành vi “vợ đánh đập chồng”. Thực tế cho thấy, người vợ/phụ nữ nói nhiều hay còn gọi là lắm điều hơn nam giới và sự lắm điều đó đã là công cụ hỗ trợ, là vũ khí lợi hại giúp họ xả những bực tức, phẫn nộ nhằm phản kháng lại hành vi không phù hợp của người chồng/nam giới đối với mình, bởi họ ít có sức khỏe như người chồng/nam giới để thực hiện hành vi BLGĐ về thể chất.

Nữ giới, trong đó có nữ cán bộ LĐQL có sự cảm nhận, thấu hiểu, chứng kiến thậm chí có thể phải hứng chịu một trong số những hành vi BLGĐ. Họ hiểu đúng hành vi BLGĐ với tỉ lệ cao hơn so với nam cán bộ LĐQL. Mặt khác, nam CBLĐQL chưa hiểu đúng về hành vi BLGĐ này ngoài các yếu tố như: tiếp nhận thông tin về BLGĐ, chưa có sự quan tâm về BLGĐ…, có thể họ vẫn còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo, phong kiến của người Việt rằng: Chồng có quyền dạy vợ bằng bất kỳ hình thức nào, ở mức độ nhẹ (không gây thương tích) và đó không phải là hành vi BLGĐ.

            Ở Việt Nam, con cái thường sống cùng với cha mẹ từ nhỏ cho đến tuổi trưởng thành; thậm chí là suốt cả cuộc đời nhưcon trai trưởng, là con trai duy nhất hoặc con trai, con dâu, con gái. Trong việc dạy con cái của cha mẹ hiện nay vẫn còn tồn tại không ít quan niệm “Con tôi, tôi dạy”; cha mẹ có quyền dạy bảo con bằng mọi hình thức, biện pháp và việc mắng, chửi kể cả đánh đập con để nên người. Người mẹ thường có thời gian sống gần con nhiều hơn so với người cha, vừa thực hiện nghĩa vụ làm mẹ (nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ con), vừa phải thực hiện nghĩa vụ làm vợ, tham gia công việc trong gia đình và ngoài xã hội.

            Những phân tích trên đây cho thấy tỉ lệ hiểu đúng hành vi BLGĐ của nữ cán bộ LĐQL cao hơn so với nam cán bộ LĐQL là phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

            - Đối với hành vi BLGĐ trong quan hệ tình dục, hôn nhân:

            Với 2 chỉ báo “ép buộc quan hệ tình dục” và “ép buộc hôn nhân”, nam cán bộ LĐQL “không đồng ý” đó là hành vi BLGĐ có tỉ lệ thấp hơn so với nữ cán bộ LĐQL. Điều này phản ánh đúng thực tế rằng: việc bị ép buộc quan hệ tình dục, ép buộc hôn nhân ở nam giới ít hơn so với nữ giới. Trong suy nghĩ của nhiều người chồng/nam giới, việc người vợ/nữ giới phải đáp ứng nhu cầu tình dục của họ trong mọi hoàn cảnh là lẽ tự nhiên, cần thiết, bởi vợ/chồng đều có quyền sở hữu nhau, do đó họ cũng không dễ dàng thừa nhận ép buộc quan hệ tình dục là hành vi BLGĐ.

            Hiện nay, người dân đã có hiểu biết và thực hiện tốt hơn Luật Hôn nhân và Gia đình. Hơn nữa, sự tham gia của cha mẹ đối với việc hôn nhân của con cái, không còn áp đặt mạnh như trước đây. Do vậy, việc “ép buộc hôn nhân” chỉ là những hiện tượng nhỏ lẻ, không phổ biến. Thực tế đã cho thấy, “ép buộc hôn nhân” chỉ được công nhận là hành vi BLGĐ khi cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, có lối sống, quan điểm… trái ngược nhau mà không thể hòa hợp được. Ngoài ra, không phải nam giới nào cũng cảm nhận, biết được hoặc được chứng kiến 2 hành vi BLGĐ trong quan hệ tình dục, hôn nhân bởi đây không chỉ là vấn đề nhạy cảm, tế nhị mà còn vì họ ít được chia sẻ thông tin về vấn đề này so với nữ do phụ nữ dễ bị tác động từ các hành vi này và chia sẻ về vấn đề này hơn nam giới.

       Tất cả những yếu tố trên đã phần nào minh chứng tỉ lệ nam cán bộ LĐQL không đồng ý và khó trả lời việc “ép buộc quan hệ tình dục” và “ép buộc hôn nhân” là hành vi BLGĐ cao hơn so với nữ cán bộ LĐQL.

2. Khác biệt giới về quan điểm của cán bộ LĐQL đối với hành vi bạo lực gia đình

Khảo sát đã đưa ra câu hỏi để đo lường quan điểm của nam và nữ cán bộ LĐQL về BLGĐ là:  BLGĐ là vấn đề riêng tư của gia đình hay là vấn đề chung của xã hội?

Với vấn đề này, khảo sát đã đưa ra câu hỏi: “Quan điểm của ông/bà về BLGĐ là chuyện riêng tư của mỗi gia đình?”, số liệu khảo sát cho thấy:

 

Bảng 2. BLGĐ là chuyện riêng tư của mỗi gia đình theo

quan điểm của nam và nữ là cán bộ LĐQL

                                                                                          Đơn vị tính: %

 

Nam cán bộ LĐQL

Nữ cán bộ LĐQL

Tán thành

66,8

78,7

Không tán thành

21,6

13,4

Khó trả lời

7,4

5,5

(Ghi chú: không đưa tỉ lệ % người không trả lời vào bảng này)


Theo số liệu ở bảng 2, nữ cán bộ LĐQL cho rằng BLGĐ là chuyện riêng tư của mỗi gia đình có tỉ lệ cao hơn khoảng 12% so với cùng quan điểm của nam cán bộ LĐQL. Ngược lại, quan điểm không tán thành và khó trả lời vấn đề này ở nam cán bộ LĐQL lại có tỉ lệ cao hơn so với nữ cán bộ LĐQL. Vì sao có sự khác biệt trong quan niệm của nam và nữ cán bộ LĐQL như vậy?

Phụ nữ Á Đông nói chung, phụ nữ Việt Nam nói riêng có đặc tính dè dặt, giữ kín về những “chuyện khó nói”, không dễ thổ lộ trong đó có vấn đề về BLGĐ. Phụ nữ thường cam chịu khi có BLGĐ do sợ bị chê cười, gia đình tan nát và quan trọng hơn, nhiều người coi đó là việc của gia đình mình. Những vấn đề này ít nhiều đều ảnh hưởng tới tư tưởng của phụ nữ Việt Nam. Điều này phần nào lý giải sự khác biệt về giới về vấn đề nêu trên bên cạnh việc họ thiếu thông tin, kiến thức hoặc chưa quan tâm…về BLGĐ.

Quan điểm về sự tồn tại của BLGĐ của cán bộ LĐQL được thể hiện qua chỉ báo ”Để duy trì tôn ti trật tự trong gia đình, đôi khi BLGĐ là cần thiết”. Số liệu khảo sát cho thấy:

      
Bảng 3. “Để duy trì tôn ti trật tự trong gia đình, đôi khi BLGĐ  gia đình là cần thiết” theo quan điểm của nam và nữ cán bộ  LĐQL

Đơn vị tính: %

 

Nam cán bộ LĐQL

Nữ cán bộ LĐQL

Tán thành

70,3

80,3

Không tỏn thành

18,1

9,6

Khó trả lời

7,3

6,6

(Ghi chú: không đưa tỉ lệ % người không trả lời vào bảng này)


Mặc dù nạn nhân của BLGĐ thường là phụ nữ, nhưng không vì thế mà nữ cán bộ LĐQL lại có tỉ lệ tán thành cao hơn 10% so với nam cán bộ LĐQL. Có nghịch lý gì trong quan điểm này của nữ cán bộ LĐQL? 

            Ở Việt Nam, văn hóa truyền thống mang tính thứ bậc khá cao ảnh hưởng mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Tư tưởng “trọng nam, khinh nữ” cũng tác động không nhỏ đến việc duy trì tôn ti trật tự trong gia đình, trong việc dạy dỗ con cái. Mặt khác, với gánh nặng của người vợ, người mẹ cũng là một yếu tố tác động làm cho họ có quan điểm rằng sự tồn tại, của BLGĐ đôi khi là cần thiết cho dù chỉ nghiêng về mặt giáo dục con cái. Như vậy, chính ảnh hưởng văn hóa truyền thống đã lý giải điều nghịch lý trong quan niệm của người Việt Nam. 

            Trong Bảng 3, nam cán bộ LĐQL có tỉ lệ không tán thành quan điểm Để duy trì tôn ti trật tự trong gia đình, đôi khi BLGĐ gia đình là cần thiết  thấp hơn so với nữ cán bộ LĐQL cho thấy họ có nhận thức rõ hơn về bình đẳng giới, về cách đối xử có văn hóa với các thành viên trong gia đình nhằm duy trì nề nếp gia phong, gia đình hòa thuận, hạnh phúc mà hạn chế hành vi BLGĐ. Thực tế, áp lực gia đình đối với nam giới trong đó có cán bộ LĐQL ít hơn, không nặng nề và thường xuyên như đối với nữ giới/nữ cán bộ LĐQL và cùng với nó, ảnh hưởng của văn hóa truyền thống mang tính thứ bậc trong gia đình - một “lợi thế” của nam giới có tác động không nhỏ đến sự khác biệt về giới của cán bộ LĐQL trong quan niệm này.        

3. Nhận xét

Có sự khác biệt về giới của đội ngũ cán bộ LĐQL cấp cơ sở qua khảo sát về mức độ hiểu biết về hành vi BLGĐ và quan điểm của họ đối với hành vi này. Sự khác biệt đó giữa nam và nữ là cán bộ LĐQL là do ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, của dư luận xã hội về BLGĐ; từ vị thế, tâm lý, vai trò … của từng giới trong gia đình; từ những nhận biết, cảm nhận và thấu hiểu của  chính bản thân cũng như những kiến thức, sự quan tâm về BLGĐ ở họ. Có thể thấy, nhận thức của cả nam và nữ là cán bộ LĐQL được khảo sát vẫn chưa thật đúng, chưa sâu sắc. Kiến thức và quan niệm của họ về BLGĐ vừa thiếu khoa học chưa phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện đại, với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng xã hội công bằng, văn minh nói riêng, nhất là đối với việc thực hiện Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam năm 2005 – 2010, thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các chính sách, pháp luật có liên quan đến BLGĐ. Nói cách khác, BLGĐ ở Việt Nam vẫn còn được coi như là một việc riêng của gia đình, theo đó, xã hội và chính quyền không nên can thiệp, bên cạnh sự kỳ thị, thiếu cơ chế hỗ trợ và ứng phó nhạy cảm, thiếu sự hỗ trợ từ phía các thành viên trong gia đình và các cơ quan chức năng hoặc lo sợ hậu quả đối với chính bản thân họ và con cái của họ cùng với  sự hạn chế trong nhận thức, tâm lý, vị thế… nhất là đối với nữ giới đã tác động đến sự khác biệt giới về của đội ngũ cán bộ LĐQL cấp cơ sở.

4. Đề xuất

  • Tăng cường công tác truyền thông cho cán bộ LĐQL với nhiều hình thức như cung cấp tài liệu, sách báo, tạp chí, chuyên đề về BLGĐ và các vấn đề có liên quan đến BLGĐ nhằm nâng cao nhận thức về BLGĐ.
  • Cả nam và nữ là cán bộ LĐQL tham gia lớp tập huấn, hội thảo, câu lạc bộ, cuộc họp ở cộng đồng dân cư có liên quan đến BLGĐ và đối thoại với người dân về BLGĐ để củng cố hiểu biết, kiến thức về BLGĐ và thay đổi thái độ và hành vi, tích cực tham gia phòng, chống BLGĐ. 

Cán bộ LĐQL cần hiểu rõ và thực hiện tốt Luật Phòng chống bạo lực gia đình, nêu gương trong cách cư xử trong gia đình, nơi làm việc, ở cộng đồng dân cư, nâng cao trách nhiệm đối với BLGĐ



*
Viện Xã hội học - Học viện CT-HCQG Hồ Chí Minh

 

Liên kết