GIÁO DỤC NHÀ TRƯỜNG ĐỐI VỚI

VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN VIỆT NAM

 

 
Năm 2009, Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần 2 (SAVY2) được thực hiện  với 10.044 thanh thiếu niên 14-25 tuổi  tại tất cả 63 tỉnh/ thành phố. Giáo dục nhà trường đối với vị thành niên và thanh niên (VTN, TN) là một trong những báo cáo chuyên đề của SAVY 2.

Trình độ học vấn

Tỷ lệ biết chữ của VTN, TN Việt Nam khá cao (92,8%), trong đó thành thị (96,9%) cao hơn nông thôn (91,5%). So với SAVY1 học vấn của VTN và TN đang tăng. Điều này được thể hiện qua số năm đi học. Số VTN, TN đi học từ 5 năm và 9 năm trở lên tăng đáng kể. Ngày càng có nhiều VTN và TN hoàn thành bậc THCS, các bậc học cao hơn. Số VTN và TN chưa học xong tiểu học giảm xuống. Số năm đi học trung bình của VTN và TN là 10,15 (nam là 10,03 năm, ở nữ là 10,31 năm), tăng thêm gần 2 năm so với SAVY 1(ở nam là 8,6 năm, nữ là 8,7 năm). Tuy nhiên số chưa bao giờ đến trường lại có xu hướng tăng, 0,3% trong SAVY1 lên 2,4% ở SAVY2. Trình độ học vấn của các dân tộc thiểu số đang tăng nhưng vẫn còn khoảng cách so với dân tộc Kinh/Hoa. Số năm đi học trung bình của nhóm VTN và TN dân tộc Kinh/Hoa cao hơn 2 năm so với các dân tộc khác, tỷ lệ mù chữ tập trung ở các dân tộc khác (12,1%) so với dân tộc Kinh/Hoa (1,2%). Tại các thành phố lớn số năm đi học trung bình của VTN và TN là 11,86, nông thôn là 9,88.

Tình hình bỏ học và lý do chưa đi học, bỏ học của VTN và TN

Khoảng một nửa số người được hỏi trong SAVY2 hiện đã thôi học, 24% trong số đó đã thôi học khi chưa đến 15 tuổi và 16% thôi học trong độ tuổi từ 20-25. Tỷ lệ bỏ học chủ yếu ở nông thôn: từ 48% đến 87%. Cấp bỏ học cao nhất là THCS chiếm 47,17%. Mặc dù vậy có đến 44% người thôi học cho biết họ muốn đi học tiếp. Lý do bỏ học chủ yếu là phải làm việc cho gia đình (19,4%), không có tiền đóng học phí (17,8%), không muốn đi học thêm nữa (17,1%), không thi đỗ (15,1%) và sức học yếu (8,0%). Giống SAVY1, VTN và TN ở nông thôn có tỷ lệ thôi học cao hơn thành thị (53% so với 43%), ở dân tộc thiểu số cao hơn người Kinh/Hoa (64% so với 48%). Tuy nhiên, ở SAVY 1 nữ có tỷ lệ thôi học cao hơn nam (59% so với 52%) song ở SAVY 2 nam lại có tỷ lệ này cao hơn nữ đáng kể (54% so với 47%).

Tình hình học thêm và ý kiến của VTN và TN đang đi học đối với nhà trường

Tỷ lệ học thêm của VTN và TN ở SAVY2 cao hơn SAVY1 (75% so với 69%). Tỷ lệ nữ học thêm là 78%, nam là 72%. Tương tự SAVY1, tỷ lệ học thêm của học sinh ở khu vực thành thị (83%) cao hơn so với học sinh nông thôn (72%), học sinh dân tộc Kinh (80%) cao hơn 2 lần so với học sinh dân tộc thiểu số (36%). Nhìn chung những người đi học đánh giá tích cực về nhà trường, hơn 90% nói rằng họ được đối xử công bằng trong nhà trường, không có phân biệt trong cư xử giữa học sinh nam và nữ, được giúp đỡ và khuyến khích trong học tập và nhận được những lời khen ngợi từ các giáo viên của họ. Cạnh đó cũng có 35% số người đang đi học cho biết có lúc họ không muốn đi học, tỷ lệ này cao gấp đôi SAVY1. Khoảng 24% số học sinh cho rằng chương trình học quá nặng đối với họ, ở SAVY1 chỉ là 16%. 91% VTN và TN đã có gắn bó với nhà trường, gắn kết với nhà trường dẫn đến nhiều kết quả tích cực ngoài việc nâng cao kết quả học tập của học sinh.

Trình độ học vấn và một số hành vi nguy cơ

Những hành vi được coi là nguy cơ của VTN và TN là thử tự tử, hút thuốc lá/thuốc lào; uống rượu, bia; sử dụng ma tuý; quan hệ tình dục trước hôn nhân; gây rối; quan hệ tình dục với người mua bán dâm; đánh bạc; có thai, phá thai. Trong những người có hành vi nguy cơ cao thì nhóm VTN và TN đã nghỉ học chiếm đa số, như vậy các VTN và TN đang học trong nhà trường đã được tác động tích cực hơn.

Trình độ học vấn và hiểu biết về SKSS và HIV của VTN và TN

Ở cả hai cuộc điều tra, kiến thức của VTN và TN về vấn đề SKSS còn rất hạn chế. Kiến thức về HIV tăng lên theo tuổi tác và trình độ học vấn, từ 9,9% đối với những người không đi học lên đến 77,6% với những người trong trường cao đẳng/đại học. Nhìn chung nhà trường giữ một vai trò trung tâm trong giảng dạy kỹ năng sống, kiến thức về SKSS, HIV/AIDS, tỷ lệ này là 61%.

Trình độ học vấn và sức khoẻ.

Hầu hết VTN và TN đều cho rằng cuộc sống của họ trong tương lai là tốt hơn và tốt nhiều hơn hiện nay, mức độ lạc quan về cuộc sống sau này không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm thanh niên có trình độ học vấn khác nhau. Trong môi trường học tập, không khí và áp lực học tập có ảnh hưởng đáng kể đến cảm giác buồn chán của VTN và TN (23% cho biết họ cảm thấy chán nản do bị quá tải với việc học ở trường).

Nguyện vọng đối với tương lai và kiến nghị đối với nhà nước

Nguyện vọng có việc làm/sự nghiệp và có thu nhập ổn định trong 5 năm tới có số lượng người lựa chọn cao hơn cả ở tất cả các nhóm, riêng với nhóm trung học phổ thông nguyện vọng được tiếp tục học là tương đối cao. Hai việc được VTN và TN mong muốn Chính phủ cần làm để cuộc sống của TTN tốt đẹp hơn là tăng cơ hội về giáo dục và tăng cơ hội về việc làm.

Khuyến nghị

Đối với nhà nước:

  • Nhà nước cần tiếp tục đầu tư cho giáo dục và đào tạo; ưu tiên các chương trình mục tiêu quốc gia, khắc phục tình trạng bình quân, dàn trải nhằm phát hiện quy mô hợp lý cả giáo dục đại trà và mũi nhọn, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời.
  • Đối với việc đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục cần tập trung đầu tư cho các vùng khó khăn, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số ( như vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Bắc, Tây Bắc), từng bước giảm sự chênh lệch về phát triển giáo dục giữa các vùng, miền. Đặc biệt chú ý đến việc phối hợp giữa các cơ quan đoàn thể để tăng cường công tác giáo dục VTN và TN ngoài nhà trường, tạo điện kiện cho họ tham gia các hoạt động xã hội, có việc làm ổn định, thu nhập và có cơ hội tiếp tục học tập tại các trung tâm giáo dục cộng đồng hoặc tiếp tục quay lại học trong nhà trường.

Đối với Bộ Giáo dục và nhà trường:

  • Tiếp tục xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ.
  • Quan tâm, hỗ trợ các học sinh học kém, những người có nguy cơ sớm rời trường học. Duy trì chất lượng công tác xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở.
  • Tăng cường các kỹ năng chuyên môn và nghiệp vụ cho các giáo viên để đảm bảo tất cả các học sinh nhận được sự hỗ trợ và giảng dạy mà họ cần nhằm đạt được kết quả học tập tốt nhất. Đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục SKSS, tăng cường hơn nữa các hình thức giáo dục kỹ năng sống, cung cấp thông tin về các chủ đề mà VTN và TN quan tâm tình yêu, tình dục, hôn nhân gia đình, kế hoạch hoá gia đình, phòng chống HIV/AIDS và các vấn đề SKSS khác đặc biệt là đối với VTN và TN ở nông thôn và các dân tộc thiểu số

Đối với gia đình

  • Gia đình có nhiệm vụ phối hợp cùng nhà trường giáo dục con em cả về tri thức lẫn đạo đức mà không thể giao khán cho nhà trường mọ việc. Vì vậy, họ cũng cần được truyền thông thay đổi hành vị, tăng cường kỹ năng giao tiếp, giáo dục con cái trong đó quan tâm đến giáo dục SKSS, phòng chống HIV/AIDS.
  • Gia đình cũng cần được tham gia việc hình thành và điều chỉnh nội dung giáo dục trong nhà trường thông qua những cơ chế hợp lý, như Hội đồng giáo dục nhà trường, Hội Cha mẹ học sinh,...

Đối với cộng đồng, xã hội

  • Các bộ ngành, các tổ chức xã hội nghề nghiệp tăng cường hỗ trợ VTN và TN trong việc hướng nghiệp, mở ra các trường dạy nghề thu hút các đối tượng học sinh học hết lớp 9, lớp 12 vào học và có thể tuyển dụng hoặc giới thiệu những học sinh đã tốt nghiệp các trường dạy nghề vào làm việc tại các cơ sở sản xuất, các nhà máy, các khu chế xuất, các doanh nghiệp tại địa phương.
  • Các tổ chức đoàn thể, các tổ chức xã hội, các cộng đồng dân cư tham gia xây dựng các quỹ khuyến học nhằm giúp đỡ những học sinh, sinh viên nghèo học giỏi tại địa phương của mình để họ có thể tiếp tục theo học tại các trường phổ thông, trung cấp, chuyên nghiệp hoặc đại học.

GIA HÂN tóm tắt

Nguồn: SAVY 2: Báo cáo chuyên đề về Giáo dục nhà trường

 

Liên kết