HIỂU BIẾT VÀ THÁI ĐỘ CỦA VỊ THÀNH NIÊN VÀ THANH NIÊN VIỆT NAM VỀ HIV/AIDS VÀ NHỮNG NGƯỜI CÓ HIV/AIDS (SAVY 2-2009)

 

1. Hiểu biết về HIV

Nguồn thông tin về HIV

Phương tiện thông tin đại chúng là nguồn thông tin quan trọng nhất về HIV. 98,7% số người được hỏi đều đã từng nghe nói về HIV. Tivi là nguồn thông tin được nhiều người sử dụng nhất và là sự lựa chọn yêu thích của thanh thiếu niên, 68,7% người  được hỏi cho biết đó là lựa chọn đầu tiên của họ. Những người nghe về HIV gần đây nhất trên tivi có hiểu biết tốt hơn về con đường lây nhiễm so với những người được nghe trên tivi trước đó lâu hoặc những người chưa từng được nghe về điều này.Cụ thể là 64,2% những người nghe về HIV trên tivi trong tuần có cuộc điều tra đều trả lời đúng về con đường lây truyền, 61,2% người được nghe về HIV trên ti vi trong khoảng 1 tháng trước cuộc điều tra, 56,4% đối với người nghe thông tin trong khoảng 1 năm và với những người nghe thông tin từ nhiều năm trước tỷ lệ là 53,5%. Những người coi tivi là 1 trong 3 lựa chọn đầu tiên lên đến 89,3% nữ, 91,3% nam. Không có phương tiện thông tin đại chúng nào có thể đạt gần đến mức được ưa chuộng này. Nguồn thông tin được ưa thích thứ hai là các sản phẩm in như sách báo, tờ rơi, tờ gấp: 9% là lựa chọn đầu tiên, lựa chọn thứ 2 là 32,2% và 21,1% là lựa chọn thứ 3 được yêu thích. Nguồn thông tin thứ ba là radio cũng được nhiều bạn trẻ ưa thích: 7,5% là sự lựa chọn đầu tiên, lựa chọn thứ 2 là 20,5% và 5,5% là lựa chọn thứ 3. Thanh thiếu niên cũng biết về HIV thông qua giao tiếp trực tiếp với những người khác. Trong những nguồn thông tin trực tiếp, thầy cô giáo, cán bộ y tế và dân số thì bạn bè là những nguồn thông tin quan trọng. Có rất ít thanh thiếu niên biết HIV từ các tổ chức quần chúng.

Hiểu biết về con đường lây nhiễm HIV chính

Phần lớn thanh thiếu niên trong SAVY2 biết rằng HIV có thể lây truyền do quan hệ tình dục không an toàn (98%), từ mẹ sang con trong quá trình mang thai và nuôi con bằng sữa mẹ là 98%, dùng chung bơm kim tiêm (99%) và truyền máu không an toàn (97%). Nhưng cũng có tới một phần tư (26%) tin rằng HIV có thể lây truyền qua đường muỗi đốt, 10% sử dụng chung bát đĩa hay 13% lây truyền qua đường hô hấp. Tỷ lệ thanh thiếu niên có hiểu biết sai lầm này ở SAVY2  thấp hơn so với cuộc điều tra dân số và AIDS Việt Nam năm 2005 trong đó 39,5% nữ, 33,3% nam tuổi từ 15-24 không biết rằng HIV không thể lây truyền qua muỗi đốt có 22,2% nữ và 23,1% nam không biết HIV không thể lây truyền qua dùng chung bát đĩa. Có 3 mức độ hiểu biết về HIV: (1) Hiểu biết kém và có nguy cơ lây nhiễm HIV cao chiếm 7%; (2) Hiểu biết trung bình và có nguy cơ có thái độ phân biệt đối xử với người có HIV chiếm 36% và (3) Hiểu biết tốt về HIV chiếm 57%. Không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong hiểu biết về các con đường lây nhiễm HIV.

            Ở SAVY2, tỷ lệ người được hỏi cho rằng một người trông bề ngoài khoẻ mạnh có thể có HIV cao hơn đáng kể so với SAVY1 đối với cả nam và nữ. Những thanh niên sống ở đô thị, người Kinh, thanh niên ở nhóm tuổi cao, những người có trình độ học vấn cao có hiểu biết tốt hơn đối với những người sống ở nông thôn, dân tộc thiểu số, và vị thành niên trong nhóm tuổi trẻ hơn.

Hiểu biết các biện pháp phòng tránh HIV

Trung bình một người biết 6 biện pháp phòng ngừa lây nhiễm HIV. Có khoảng 1/4 đến 1/3 thanh thiếu niên nêu “Chỉ quan hệ tình dục với người trông khoẻ mạnh”, “dùng thuốc tránh thai”, “không quan hệ tình dục”. Mặc dù “Không quan hệ tình dục” là câu trả lời đúng, nhưng điều này không thực tế đối với phần lớn thanh niên. Vì thế không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ thanh thiếu niên ở SAVY2 về hiểu biết biện pháp phòng tránh HIV so với SAVY1. Một thang đo mức độ hiểu biết các biện pháp phòng tránh được xây dựng với hai mức hiểu biết tốt và hiểu biết kém.

Biểu 1. Tỷ lệ phần trăm ý kiến cho rằng để giảm nguy cơ nhiễm HIV nên những việc sau

Số liệu cho thấy, không có sự khác biệt đáng kể giữa nam và nữ về các biện pháp phòng tránh HIV. Các biện pháp được các bạn trẻ biết đến nhiều nhất là sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, chỉ quan hệ tình dục với người không có HIV, tránh quan hệ với người bán dâm, không dùng chung bơm kim tiêm, tránh truyền máu không an toàn và phụ nữ có HIV mang thai dùng ARV. Nhìn chung, 19,6% nam, 25,2% nữ có hiểu biết tốt về HIV. Những thanh niên sống trong hộ gia đình có điều kiện sống tốt hơn, người sống ở đô thị, người Kinh/Hoa và thanh niên ở nhóm tuổi cao có hiểu biết về con đường lây nhiễm tốt hơn những người sống ở nông thôn, người dân tộc thiểu số và vị thành niên trong nhóm tuổi trẻ hơn. Người sống trong gia đình có mối gắn kết mạnh có hiểu biết tốt hơn với người sống trong gia đình có mối gắn kết yếu.

Có thể thấy, sự kỳ thị vẫn khá phổ biến trong thanh thiếu niên đối với người có HIV với hơn một nửa (55%) có thái độ kỳ thị và còn lại (45%) không có thái độ kỳ thị. Tuy nhiên mức độ kỳ thị tùy thuộc theo từng trường hợp cụ thể. Có tới 90% bạn trẻ sẵn sàng chăm sóc một người trong gia đình có HIV, trong khi chỉ khoảng gần một nửa có thể mua đồ ăn từ người có HIV. Có từ 1/3 đến 1/4 thanh niên, vị thành niên có thể ngồi cạnh bạn học có HIV hoặc học lớp của giáo viên có HIV. Gần 60% bạn trẻ sẽ giữ bí mật việc người trong gia đình có HIV. Những người sống ở đô thị, người Kinh/Hoa có nhiều định kiến hơn với người sống ở nông thôn và dân tộc thiểu số. Kết quả này khá bất ngờ vì thanh thiếu niên ở đô thị, người Kinh/Hoa là những người được tiếp cận thông tin tốt hơn. Nhóm người có học vấn càng cao và thanh niên ở nhóm tuổi cao hơn thì ít có định kiến hơn đối với người có HIV. 

2. Xét nghiệm và tư vấn tự nguyện về HIV

66% nam và 64% nữ được hỏi cho biết họ dễ dàng tiếp cận dịch vụ xét nghiệm và tư vấn tự nguyện về HIV. 73% thanh thiếu niên đô thị có điều kiện tiếp cận dịch vụ này so với  62% thanh thiếu niên nông thôn và 67% người Kinh/Hoa so với 53% dân tộc thiểu số. Không có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm theo giới tính, thu nhập, mức độ hiểu biết, hay vùng địa lý. Tuy nhiên, tỷ lệ thanh thiếu niên người dân tộc thiểu số, người ở nhóm tuổi cao hơn cho rằng họ nên có xét nghiệm HIV cao hơn người Kinh/ Hoa, và những người ở nhóm tuổi trẻ hơn. Về thực hành và đã sử dụng dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV, 12% nam cho biết họ đã sử dụng dịch vụ này trong khi chỉ có 8% nữ là làm như vậy. Những người sống trong hộ gia đình có điều kiện khá giả, người ở nhóm tuổi lớn hơn và có học vấn cao hơn cũng có xu hướng sử dụng dịch vụ tư vấn tự nguyện và xét nghiệm HIV cao hơn.

3. Khuyến nghị:

  1. Tăng cường cung cấp thông tin về HIV cho thanh thiếu niên thông qua thông tin đại chúng, tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho người làm truyền thông, cải thiện việc giám sát đánh giá và có chính sách tốt hơn đối với người làm công tác về HIV.
  2. Đoàn TNCSHCM và Hội LHPNVN cần chú ý nhiều hơn cho việc cung cấp thông tin đặc biệt những người trong nhóm xã hội có nhiều khó khăn như người nghèo, dân tộc thiểu số và thanh niên vùng sâu, vùng xa.
  3. Nâng cao vai trò của gia đình, điều này được thực hiện bằng nhiều cách và nhiều tổ chức như hội Phụ huynh học sinh, lồng ghép vào các ấn phẩm truyền thông về làm cha mẹ thông qua giáo dục pháp luật tiền hôn nhân, các hoạt động của các tổ chức quần chúng địa phương, và các phương tiện truyền thông đại chúng.
  4. Công tác xoá đói, giảm nghèo, thúc đẩy giáo dục, lôi cuốn cha mẹ tham gia nhiều hơn vào các hoạt động giáo dục con cái không những cha mẹ có thể giúp con cái mà con cái có thể giúp cho mẹ có hiểu biết tốt hơn đặc biệt những người từ gia đình nghèo, sống ở nông thôn, người dân tộc thiểu số, vị thành niên ở nhóm tuổi trẻ, những người có học vấn thấp.
  5. Rà soát lại hoạt động Thông tin- Giáo dục- Truyền thông nói chung, và hoạt động này đối với vùng đô thị và đối với vị thnàh niên và thanh niên người Kinh/ Hoa nói riêng.
  6. Thúc đẩy công tác truyền thông giáo dục tại trường học đặc biệt ở các lớp dưới.
  7. Cần được triển khai rộng rãi và nhiều hơn các dịch vụ tư vấn và xét nghiệm tự nguyện cho thanh thiếu niên ở mọi hoàn cảnh sống.
  8. Cần có thêm các nghiên cứu sâu hơn về đề tài này.

NGUYỄN THU HƯƠNG tóm tắt

Nguồn: SAVY2, Báo cáo chuyên đề

 

Liên kết