PHÁT BIỂU CỦA TS. NGUYỄN BÁ THỦY, THỨ TRƯỞNG BỘ Y TẾ TẠI HỘI THẢO QUỐC GIA VỀ HỢP TÁC NAM – NAM TẠI HÀ NỘI (19/5/2011)


Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn có cam kết cao đối với việc thực hiện những mục tiêu nêu trong Chương trình Hành động ICPD được thông qua vào năm 1994và các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Những cam kết mạnh mẽ này được thể hiện qua các văn bản chính sách, quy phạm pháp luật, hướng dẫn chuyên môn kỹ thuật về DS-KHHGĐ được ban hành tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý nhà nước, tổ chức thực hiện công tác DS-KHHGĐ, đặc biệt được thể hiện qua việc liên tục nâng cao đầu tưcho các chương trình DS-KHHGĐ.

Nhờ những cam kết mạnh mẽ trên nên Chương trình DS-KHHGĐ Việt Nam đã đạt được những thành tích to lớn. Từ một nước có mức sinh rất cao với TFRlà 6,4 con vào năm 1960 giảm xuống còn 2,1 con (đạt mức sinh thay thế) vào năm 2005 và đạt 2,0 con (2010).

Tỷ lệ phát triển dân số từ trên 3% vào những năm 60 thế kỷ 20 đã giảm xuống còn 1,2% năm 2009. Quy mô dân số Việt Nam năm 2010 là 86,75 triệu người; mỗi năm Việt Nam nay chỉ tăng thêm 952 nghìn người. Đây là lần đầu tiên trong suốt nhiều thập kỷ, số người tăng thêm mỗi năm ở mức dưới 1 triệu người, trong khi số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giai đoạn này tăng hơn rất nhiều so với giai đoạn trước đó.Cần chú ý rằng, nếu giữ nguyên mức sinh như năm 1989, TFR 3,8 con/một phụ nữ thì dự báo năm 2009 dân số Việt Nam đã lên đến 104,4 triệu người. Như vậy, do giảm sinh, 20 năm qua Việt nam đã hạn chế được 18,4 triệu người.

Về KHHGĐ, nam giới, phụ nữ và thanh niên, vị thành niên về cơ bản được đảm bảo có đủ thông tin, tư vấn và tiếp cận với nhiều lựa chọn các biện pháp KHHGĐan toàn, hiệu quả. Mạng lưới cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ được mở rộngvới việc chú trọng đến an ninh hàng hóaphương tiện tránh thai, tăng cường tiếp thị xã hội và thị trường hóa phương tiện tránh thai nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và cung cấp biện pháp tránh thai đầy đủ, không gián đoạn. Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng từ 76,8% (2005) lên 78% (2010), trong đó tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại tiếp tục tăng từ 65,8% lên 67,5% (2010).

Những thành công của Chương trình DS-KHHGĐ đã góp phần thực hiện thành công các Mục tiêu thiên niên kỷ tại Việt Nam:

- Góp phần Nâng cao sức khỏe bà mẹ (MDG5) và Giảm tử vong ở trẻ em (MDG4):Việt Nam đã tiến đến gần Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ đối với chỉ tiêu tử vong mẹ, đạt 69/100.000 ca sinh sống năm 2009. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 tỷ suất chết trẻ em dưới 1 tuổi cũng giảm mạnh từ 36,7 phần nghìn (1/4/1999) xuống còn 16 phần nghìn (1/4/2009).

- Góp phần tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế, năng lực cho phụ nữ (MDG3):việc đẻ muộn, đẻ thưa, đẻ ít làm cho mẹ khỏe, con khỏe; làm cho người phụ nữ có nhiều cơ hội để học tập văn hoá, khoa học và tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Thanh, thiếu niên nữ nhập học các bậc học, cấp học ngang với nam giới.

- Góp phần giảm tình trạng đói nghèo (MDG1):Hàng năm giảm khoảng 90 vạn phụ nữ không tham gia vào sinh đẻ, do vậy sẽ tăng thêm 108 triệu ngày công lao động của phụ nữ do không phải nghỉ thai sản. Nhờ đó mà các cặp vợ chồng không chỉ có điều kiện để đầu tư cho phát triển kinh tế, mà còn điều kiện để nuôi dạy con tốt, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của mỗi cộng đồng và toàn xã hội. Thành công của chương trình DS-KHHGĐtrong những năm qua đã góp phần trực tiếp cho nỗ lực vượt bậc trong giảm nghèo của Việt Nam. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong số các nước đang phát triển đã đạt được những thành tựu nổi bật trong xóa đói giảm nghèo.

Những thành tựu nói trên của Việt Nam trong việc thực hiện chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình những năm qua đã minh chứng cho sự cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam, sự nỗ lực tận tâm của toàn bộ hệ thống dân số, y tế, các Bộ, Ngành, đoàn thể Trung ương, các địa phương và sự hưởng ứng tích cực của cộng đồng trong việc thực hiện chương trình hành động ICPD cũng như thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs). Kết quả đó có được cũng là nhờ sự hỗ trợ tích cực và có hiệu quả về tài chính cũng như các kinh nghiệm quý báu của các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, trong đó có sự hỗ trợ của Tổ chức Các đối tác về Dân số và Phát triển.

Hơn 10 năm qua, kể từ năm 1998, Ủy ban quốc gia DS-KHHGĐ của Việt nam trước đây, nay là Tổng cục Dân số-KHHGĐ đã nhận được sự hỗ trợ về đào tạo nâng cao năng lực quản lý và thực hiện chương trình dân số, sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình của Tổ chức các đối tác về Dân số và Phát triển (PPD), thông qua các khóa đào tạo cũng như chia sẻ kinh nghiệm tại các Hội nghị Hội thảo quốc tế trong khuôn khổ hợp tác Nam - Nam. Năm 1998-2001, Tổ chức PPD đã hỗ trợ 1 dự án “Tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ SKSS/KHHGĐ tại hai huyện miền núi khó khăn thuộc 2 tỉnh Quảng Ninh và Hà Tây của Việt nam” với sự hỗ trợ kỹ thuật của Bộ Y tế Công cộng Thái lan. Dự án đã góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác dân số cấp tỉnh, huyện, xã, tăng cường truyền thông, đào tạo về DS-SKSS/KHHGĐ.

Tháng 9/2009, Việt nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 25 của PPD. Ngày 19/7/2010, Ban chỉ đạo đa ngành quốc gia PPD Việt nam cũng đã được thành lập với sự tham gia của đại diện các Bộ Kế hoạch-Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, các Vụ, đơn vị liên quan của Bộ Y tế, Hội Kế hoạch hoá gia đình Việt Nam (VINAFPA). Tổng cục Dân số-KHHGĐ, Bộ Y tế là đơn vị chủ trì điều phối các hoạt động của Ban chỉ đạo đa ngành quốc gia PPD Việt Nam.

Từ khi trở thành thành viên chính thức của PPD, Việt Nam luôn tham gia đầy đủ các hoạt động của PPD với cam kết cao. Chúng tôi tin tưởng rằng việc tham gia này đã và sẽ đem lại lợi ích cho cả Việt Nam và các nước thành viên trong việc đạt được các mục tiêu của Chương trình hành động ICPD và các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Trong thời gian tới, chúng tôi mong nhận được sự ủng hộ tích cực và hợp tác chặt chẽ hơn nữa của các Bộ, Ngành, các cơ quan, tổ chức của Việt Nam cũng như các tổ chức song phương và đa phương, các tổ chức phi chính phủ quốc tế để cùng góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác Nam-Nam trong lĩnh vực dân số, sức khỏe sinh sản-KHHGĐ.

 

Liên kết