Năm 2015, Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA) kỷ niệm Ngày Dân số Thế giới 1/7 với chủ đề “Tăng cường tiếp cận dịch vụ chăm sóc cho các nhóm dân số dễ bị tổn thương trong thiên tai”. Ở Việt Nam, Tây nguyên được coi là vùng đất trù phú và tài nguyên dồi dào thu hút các luồng di cư đến sinh cơ lập nghiệp và phát triển kinh tế. Nhưng trên thực tế, Tây Nguyên là một trong ba vùng khó khăn và dễ bị tổn thương trong thiên tai (Miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung). Theo số liệu đói nghèo ở Việt Nam, tỷ lệ nghèo của đồng bào các dân tộc thiểu số dù đã giảm nhưng vẫn còn cao nhất cả nước. Trên toàn quốc, ba vùng có tỷ lệ dân nghèo cao nhất là Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên (trên 50% mỗi vùng). Thực tế cho thấy vấn đề dân số-tài nguyên môi trường bị hủy hoại-đói nghèo tác động qua lại lẫn nhau như một vòng luẩn quẩn. Ở Việt Nam, tỷ lệ người nghèo do môi trường tập trung chủ yếu ở vùng núi và cao nguyên.

Dân số Tây Nguyên

Quy mô và phân bố dân số

Theo Tổng cục Thống kê, Dân số Việt Nam năm 2014 là 90,7 triệu người, theo xếp hạng dân số Việt Nam đứng thứ 13 trên thế giới và đứng thứ 8 trong khu vực Châu Á. Trong đó, dân số thành thị là 30,0 triệu người, chiếm 32,3%, dân số nông thôn là 60,7 triệu người, chiếm 67,7%. Vùng có quy mô dân số lớn nhất là Đồng bằng sông Hồng (20,6 triệu người) chiếm 22,8%, Tây Nguyên là vùng có số dân ít nhất (5,5 triệu người), chiếm 6,1% dân số cả nước. Mật độ dân số của vùng này cũng thấp nhất - 100 người/ km2, so với cả nước - 274 người/km2 năm 2014.

Bảng 1. Quy mô dân số chia theo giới tính, 2014

Đơn vị tính: Nghìn người

Vùng kinh tế - xã hội

Tổng số

Nam

Nữ

Thành thị

Nông thôn

Toàn quốc

90.728,9

44.758,1

45.970,8

30.035,4

60.693,5

Tây Nguyên

5525,8

2739,4

2786,4

1599,9

3926,0

Nguồn: TCTK. Niên giám Thống kê 2014.

Quy mô hộ

Bảng 2. Phân bố số hộ theo số người trong hộ và quy mô hộ trung bình, 1/4/2013

Nơi cư trú/vùng kinh tế - xã hội

Phần bố phần trăm theo quy mô hộ

Số người bình quân một hộ

Tổng số

Hộ 1 người

Hộ 2-4 người

Hộ 5-6 người

Hộ 7+ người

Toàn quốc

100,0

7,8

66,5

21,1

4,5

3,7

Tây Nguyên

100,0

5,1

63,3

24,7

6,8

4,0

Thành thị

100,0

8,2

68,4

18,9

4,5

3,6

Tây Nguyên

100,0

6,5

68,7

20,6

4,3

3,7

Nông thôn

100,0

7,6

65,6

22,3

4,5

3,7

Tây Nguyên

100,0

4,4

60,9

26,7

8,0

4,1

Nguồn: TCTK. Điều tra Biến động Dân số-KHHGĐ 2013.

Theo Điều tra năm 2013, số người bình quân một hộ cao nhất là ở vùng Tây Nguyên (4,0 người/hộ). Tây Nguyên cũng là vùng có tỷ trọng hộ độc thân thấp nhất cả nước (5,1%), cao nhất là đồng bằng Sông Hồng (10,2%). Tỷ trọng hộ có từ 7 người trở lên có xu hướng ngược lại, vùng Tây Nguyên và Trung du miền núi phía Bắc có tỷ trọng hộ có từ 7 người trở lên cao nhất (6,8 và 6,5%), trong khi đó Vùng Đồng bằng sông Hồng tỷ trọng này chỉ chiếm 2,3%.

Thực trạng tài nguyên vùng Tây Nguyên

Tây Nguyên, vùng đất gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, là giao điểm của hai khu vực kinh tế trọng điểm gồm khu vực kinh tế phía Nam và khu vực kinh tế ven biển miền Trung. Với diện tích tự nhiên trên 5,46 triệu ha, chiếm 16,8% diện tích cả nước, dân số trên 5,5 triệu người (TCTK, 2014), Tây Nguyên có vị trí chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước. Tây Nguyên cũng là vùng có tiềm năng rất lớn trong phát triển nông, lâm, thủy sản, thủy điện, khai khoáng và du lịch. Nhưng đến nay về cơ bản, Tây Nguyên vẫn chưa tận dụng và phát huy được hết các thế mạnh của mình, chủ yếu vẫn là tận dụng và khai thác, thậm trí khai thác cạn kiệt. Khu vực này chỉ đóng góp 4,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả nước - mức thấp nhất so với các vùng khác. Mức GDP bình quân trên đầu người của Tây Nguyên cũng thấp hơn mức trung bình cả nước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Tây Nguyên cũng ở mức thấp nhất do những khó khăn về vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng kém phát triển. Việc chưa thu hút nhiều vốn FDI ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ phát triển kinh tế của khu vực. Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách mang tính đặc thù nhằm khai thác tiềm năng sẵn có của vùng Tây Nguyên để từng bước cải thiện môi trường đầu tư và phát triển kinh tế-xã hội của vùng đất đầy tiềm năng này.

Tây Nguyên sở hữu một mạng lưới sông suối, hồ nước dày đặc, nhiều ghềnh thác nên có tiềm năng thủy điện rất lớn. Riêng ở tỉnh Gia Lai, các hệ thống sông Ba, sông Sê San (một trong ba con sông có tiềm năng thủy điện rất lớn của Việt Nam, chiếm 11,3% tổng số tiềm năng thủy điện của toàn quốc) và phụ lưu hệ thống sông Sêrêpok, cùng nhiều sông suối có đặc điểm ngắn và dốc, ngành thủy điện có nhiều tiềm năng. Tây Nguyên còn có nguồn tài nguyên rừng phong phú, độ che phủ đạt 51,34%, hệ động thực vật đa dạng với nhiều loài quý hiếm. Đây là điều kiện rất tốt để phát triển nghề rừng và công nghiệp rừng như ngành công nghiệp chế biến gỗ, bột giấy, trồng các loại cây công nghiệp... Tây Nguyên còn có lợi thế lớn về đất, trong đó nổi bật là đất đỏ bazan với khoảng 2 triệu ha, được xếp vào loại đất tốt nhất trên thế giới. Ngoài ra, khu vực này còn có hàng chục vạn ha đất đen, đất phù sa thích hợp với nhiều loại cây trồng, thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng, với nhiều sản phẩm chủ lực như cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, ngô lai, bông vải, chè, rau, hoa xuất khẩu... Tài nguyên khoáng sản ở Tây Nguyên cũng khá đa dạng. Một số loại đã được điều tra có trữ lượng lớn như than bùn, than nâu, sét cao lanh, puzơlan và bauxite. Nhóm khoáng sản kim loại có giá trị như sắt, wonfram, antimon, chì, kẽm, vàng; nhóm đá quý như saphia, xircon, corindon, thạch anh hồng và thạch anh tinh thể... khá nhiều và phân bố đều ở các tỉnh.

Tây Nguyên còn là vùng đất nhiều tiềm năng văn hóa truyền thống để phát triển du lịch với 45 dân tộc thiểu số sinh sống, các văn hóa dân tộc phong phú, các di tích lịch sử văn hóa nghệ thuật có giá trị và đặc sắc của các dân tộc như Ba Na, Gia Rai, Ê Đê, Cơ Ho, Chu Ru... Về du lịch sinh thái, Tây Nguyên cũng là nơi dồi dào tiềm năng với hệ thống hồ, thác và khu hệ động, thực vật phong phú được nhiều người biết đến như Biển Hồ (Gia Lai), Vườn Quốc gia Yok Don, Chư Yang Sin (Đắk Lắk), Chư Mom Ray (Kon Tum)... Nhiều tiểu vùng có khí hậu ôn hòa mát mẻ, thích hợp với loại hình du lịch nghỉ dưỡng, điển hình là thành phố du lịch Đà Lạt (Lâm Đồng).

Một trong các thế mạnh của Tây Nguyên là tài nguyên rừng. Tuy nhiên, diện tích rừng tăng giảm không đều qua các giai đoạn. Số liệu những năm gần đây cho thấy, mặc dù đã có những chương trình đẩy mạnh trồng rừng nhưng chưa có những bước đột phá lớn ở vùng Tây Nguyên. Cho đến nay trung bình diện tích trồng rừng vẫn ở mức bình quân 13-14 nghìn ha/năm. Số liệu vài năm trở lại đây cho thấy diện tích trồng rừng có xu hướng giảm năm 2011 là 10,2 nghìn ha, 2013 là 9,9 nghìn ha.

Những tình trạng này có thể lý giải là việc trồng rừng theo kế hoạch và phụ thuộc vào nguồn kinh phí hàng năm dành cho trồng rừng. Tuy nhiên kế hoạch trồng rừng không có chiến lược dài hạn. Diện tích rừng trồng mang tích khắc phục hậu quả hơn là phát triển diện tích rừng, cải thiện tài nguyên-môi trường.

Bảng 3. Diện tích rừng bị cháy ở Tây Nguyên, 2005-2013

                                                                                                             Đơn vị tính: Ha

 

2005

2007

2009

2011

2013

Tây Nguyên

1.612,7

420,7

25,4

834,6

475,3

Kon Tum

1.483,3

249,9

-

289,4

10,7

Gia Lai

-

158,6

-

207,6

362,8

Đắk Lắk

52,4

2,0

-

277,0

41,1

Đắk Nông

9,0

-

9,2

35,3

23,2

Lâm Đồng

68,0

10,2

6,3

25,3

37,5

  Nguồn: TCTK, Niên giám Thống kê 2005-2013. 

Trong giai đoạn 2005-2010, diện tích rừng bị cháy giảm xuống, nhưng cũng có năm tăng cao. Trong những năm 1999-2001 diện tích rừng bị cháy giảm xuống mức thấp. Năm 2005 tăng lên gần 10 lần (1,6 nghìn ha), nhưng lại giảm xuống mức trung bình 0,3 nghìn ha/năm trong những năm 2007-2010. Mặc dù vậy năm 2011 diện tích rừng bị cháy tăng lên hơn 3 lần so với năm 2010. Đây cũng là cảnh báo cần nghiêm túc xem xét các nguyên nhân để khắc phục.

Bảng 4. Diện tích rừng bị chặt phá ở Tây Nguyên, 2005-2013                                            

                                                                                                          Đơn vị tính: Ha

 

2005

2007

2009

2011

2013

Tây Nguyên

1.008,9

481,3

714,8

1.192,3

366,8

Kon Tum

60,0

60,3

62,0

93,2

75,2

Gia Lai

212,9

98,3

23,0

36,7

47,5

Đắk Lắk

94,3

32,4

56,8

563,7

17,0

Đắk Nông

337,0

7,0

93,0

273,5

124,9

Lâm Đồng

304,7

283,3

480,0

225,2

102,2

Nguồn: TCTK, Niên giám Thống kê 2005-2013.

Trong giai đoạn này, số diện tích rừng bị chặt phá mặc dù đã giảm xuống nhưng vẫn còn cao hơn diện tích rừng bị cháy vài lần. Tỷ lệ so sánh là: 2005 là 1,0 và 1,6; năm 2007 là 0,5 và 0,4; năm 2008 là 1 và 0,1; năm 2009 là 0,7 và 0,03; năm 2010 là 0,4 và 0,3. Mặc dù vậy, cũng tương tự như diện tích rừng bị cháy tăng lên hơn 3 lần vào năm 2011 thì diện tích rừng bị chặt phá cũng tăng lên gần 3 lần so với năm 2010. Đây là tình trạng đáng báo động trong công tác bảo vệ môi trường của khu vực Tây Nguyên.

Đề xuất giải pháp

Trong những năm gần đây, huy động vốn đầu tư cho vùng Tây Nguyên liên tục tăng. Đặc biệt, cơ cấu đầu tư được điều chỉnh hợp lý, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các dự án giao thông, thủy điện, thủy lợi, bưu chính viễn thông, cải thiện kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn... Đối với Tây Nguyên, Đảng và nhà nước đã có những chủ trương, chính sách mang tính đột phá, nhằm tập trung giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất, giao đất giao rừng, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, bảo tồn văn hóa truyền thống, phát triển giáo dục, y tế.

Phát huy tiềm năng         

Tiềm năng phát triển của vùng Tây Nguyên hiện nay là rất lớn, với nhiều triển vọng tốt đẹp. Tây Nguyên không thể phát triển nhanh nếu chỉ dựa vào ngân sách nhà nước và nguồn nội lực mà không thu hút đầu tư bên ngoài. Theo Quyết định số 936/QĐ-TTg, ngày 18/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ, Tây Nguyên sẽ tiếp tục khai thác và phát huy có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của vùng. Cùng với đó, cần đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nhất là trong Tam giác phát triển Việt Nam-Lào-Campuchia. Tây Nguyên tiếp tục tăng cường hợp tác giữa các tỉnh trong vùng với tất cả các tỉnh trên toàn quốc, nhằm huy động, sử dụng tốt mọi nguồn lực để phát triển nhanh, bền vững, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế-xã hội. Phát triển kinh tế-xã hội của Tây Nguyên phải gắn với thực hiện đô thị hóa và hiện đại hóa kết cấu hạ tầng trên địa bàn.

Phân bổ dân cư và phát triển nguồn nhân lực     

Phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên phải phù hợp với sự phân bố dân số và chất lượng nguồn nhân lực; bảo đảm phát triển cân đối, hài hòa giữa các khu vực; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong phát triển; tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động; xóa đói giảm nghèo; chăm sóc sức khỏe nhân dân và ổn định xã hội; và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc. Chính phủ, các bộ, ban ngành cần quan tâm hơn tới lồng ghép các biến dân số trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội cho vùng. Đặc biệt là nâng cấp các trục đường huyết mạch nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đảm bảo thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa và thu hút đầu tư. Chính phủ, các bộ, ngành sớm ban hành cơ chế chính sách khuyến khích đặc thù thu hút đầu tư cho Tây Nguyên nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của vùng, thu hút mạnh mẽ các nguồn nhân lực và vốn đầu tư để phát triển nhanh, bền vững. Đối với việc thu hút vốn đầu tư cho Tây Nguyên, cần định kỳ cải thiện các chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao và tổ chức các hội nghị xúc tiến đầu tư cấp vùng tại các tỉnh Tây Nguyên để vừa tăng cường liên kết vùng giữa các địa phương, vừa giúp cho các địa phương xây dựng hình ảnh môi trường đầu tư, đánh giá lại việc triển khai các dự án và đảm bảo hiệu quả xúc tiến đầu tư.

Phát triển nguồn nhân lực và đào tạo đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số. Việc triển khai dạy nghề hiện nay mới đáp ứng 15% nhu cầu và chưa đóng góp đáng kể vào việc hoàn thiện tay nghề, giải quyết việc làm cho thanh niên dân tộc thiểu số. Chế độ chính sách đối với cán bộ cơ sở, nhất là những địa bàn khó khăn, phức tạp còn quá bất cập, do vậy, chưa thu hút, động viên cán bộ an tâm công tác.

Về lĩnh vực văn hóa, bảo đảm không gian sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây nguyên thông qua khai thác, sử dụng có hiệu quả mối quan hệ dân số với phát triển môi trường bền vững ở Tây Nguyên; sử dụng tài nguyên phù hợp với phát triển kinh tế-xã hội và an ninh quốc phòng. Về vấn đề dân số, chuyển mạnh sang giải quyết các mục tiêu về qui mô, cơ cấu dân số hợp lý ở vùng Tây Nguyên. Đảm bảo chất lượng dân số cả về thể lực và trí lực. Đối với các dự án sử dụng đất, tạo điều kiện cho bà con các dân tộc gắn bó với tài nguyên-môi trường trên vùng cư trú, sinh sống.

Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống

Văn hóa đặc sắc của Tây Nguyên phải được gìn giữ và phát huy. Nếp nghĩ, lối sống của người dân Tây Nguyên đang chịu những tác động của phát triển. Đây là quy luật tất yếu, vấn đề là làm thế nào để người dân biết thay đổi và tạo nên những đột phá trong (tư duy) phát triển sản xuất, làm ăn, cải thiện cuộc sống, song không bị đứt gãy các giá trị văn hóa truyền thống.

Những năm qua, nền kinh tế Tây Nguyên phát triển nhanh nhưng không bền vững. Phát triển kinh tế tập trung nhiều vào các đô thị, ven các trục giao thông. Ở vùng sâu, vùng xa sự đổi thay còn rất chậm. Mức sống giữa các vùng, các tầng lớp dân cư chênh lệch khá lớn và đang có xu hướng giãn cách thêm. Về tổng thể, sự phát triển kinh tế của các tỉnh Tây Nguyên chưa vững chắc; nhiều vấn đề bức xúc của đời sống kinh tế, văn hóa xã hội và đặc biệt là những vấn đề “nhạy cảm” đang làm cho các cấp quản lý nhà nước, cộng đồng các dân tộc trên quan ngại. Vấn đề chính ở đây có thể là thiếu việc làm - nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đói nghèo. Do vậy, các đơn vị kinh tế đóng trên địa bàn cần có mối quan hệ phối hợp để tham gia giải quyết việc làm cho nhóm dân số trẻ, đặc biệt thanh niên dân tộc thiểu số.

Như vây, để giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân số với môi trường cần:

-                     Xây dựng chính sách đồng bộ về dân số gắn với quản lý và bảo vệ môi trường trong điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội cụ thể của vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.  

-                     Áp dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào quá trình khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý và xử lý chất thải tốt nhằm tạo ra một môi trường an toàn cho sự phát triển của các dân tộc thiểu số.

-                     Kết hợp triển khai sâu rộng luật Bảo vệ Môi trường và luật tục bảo vệ môi trường miền núi của các dân tộc thiểu số với việc tuyên truyền để mỗi gia đình sinh đủ số con hợp lý và nuôi dạy tốt; đồng thời có sự cân nhắc giữa chi phí và lợi ích, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài trong sự phát triển kinh tế nhằm đảm bảo sự phát triển không dẫn đến suy thoái môi trường tự nhiên và cân bằng sinh thái trong sự phát triển bền vững.

-                    Tăng cường công tác truyền thông giáo dục về dân số và bảo vệ môi trường, đảm bảo sẵn có các phương án bảo vệ hiệu quả sẵn sàng ứng phó với thiên tai.

TS. Nguyễn Quốc Anh*


* Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Người cao tuổi Việt Nam

 

Liên kết