Tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống

Việt Nam có 53 dân tộc thiểu số với trên 12 triệu người chiếm 14,3% dân số cả nước (Tổng cục Thống kê, Tổng điều tra dân số và nhà ở, 2009). Các dân tộc thiểu số sinh sống theo cộng đồng tại các thôn, bản, buôn, làng, phum, sóc...thuộc 5.453 xã, 463 huyện, 56/63 tỉnh/thành phố. Thực trạng thực hiện Luật hôn nhân và gia đình trong nhiều năm qua cho thấy tình trạng kết hôn sớm (tảo hôn) và hôn nhân cận huyết thống diễn ra khá phổ biến trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở các vùng Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán. Những hủ tục như cướp vợ, hứa hôn, cưỡng ép hôn nhân mang tính gả bán. Tục “nối dây”, tâm lý sớm có con đàn cháu đống, có người nối dõi, kết hôn sớm để gia đình có thêm người làm nương rẫy, quan niệm kết hôn trong họ tộc để lưu giữ tài sản trong gia đình không mang của cải sang họ khác....là nguyên nhân làm gia tăng tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống và chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, sự nghèo đói, thất học, không có việc làm, nhu cầu có thêm người lao động trong gia đình, thiếu hiểu biết pháp luật, hướng dẫn và thực thi pháp luật về Luật Hôn nhân và Gia đình chưa được chú trọng đúng mức. Tại một số nơi vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội các cấp và gia đình trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình... cũng là những nguyên nhân tác động, ảnh hưởng làm gia tăng tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Kết hôn sớm làm mất đi cơ hội về học tập, việc làm, cải thiện điều kiện sống và chăm sóc sức khỏe của người trẻ tuổi, bà mẹ và trẻ em, đặc biệt kết hôn cận huyết thống ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi và chất lượng nguồn nhân lực và là một trong những lực cản đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của vùng dân tộc và miền núi và sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện chiến lược công tác dân tộc, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho Ủy ban Dân tộc xây dựng Đề án để triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Tảo hôn: Vùng Trung du miền núi phía Bắc (đặc biệt là Tây Bắc) và Tây Nguyên có tỷ lệ tảo hôn cao nhất, gấp hơn 2 lần so với Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ (tỉ lệ tương ứng là 18,9% và 15,8% so với 7,9% và 8,1%). Các tỉnh Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Cạn, Kon Tum, Gia Lai có tỷ lệ tảo hôn cao nhất nước. Các dân tộc thiểu số có tỉ lệ tảo hôn là 8,4%, cao gấp 6 lần so với dân tộc Kinh (1,4%) và gấp gần 3,5 lần so với tỷ lệ chung của cả nước (2,5%). Có 25/53 dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn trên 10%, trong đó các dân tộc Mông, Xinh Mun, Lô Lô, Mảng, La Ha, Lự, Lào, La Chí, Cơ Lao, Hà Nhì, La Hủ, Phù Lá, Ơ Đu, Dao, Khơ Mú, Cống, Gia Rai, Xơ Dăng, và Ba Na có tỷ lệ tảo hôn cao nhất. Đáng chú ý là, một số dân tộc có dân số dưới 10.000 người như: Lô Lô, Mảng, La Ha, Lự, Cơ Lao, La Hủ, Ơ Đu, Cống có tỷ lệ tảo hôn khá cao, từ 12-24%.

Kết hôn cận huyết thống: Kết hôn cận huyết thống vẫn còn xảy ra ở một số dân tộc của Việt Nam. Theo Tổng cục Dân số-kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ), các dân tộc Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê Đê, Chu Ru, Si La, Pu Péo, Mông, Rơ Măm, Brâu… có tỷ lệ hôn nhân cận huyết thống lên đến 10%. Đặc biệt các dân tộc như Si La (Điện Biên, Lai Châu), Lô Lô, Pu Péo (Hà Giang), Mông (Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái), Brâu, Rơ Măm (Kon Tum)... cứ 100 trường hợp kết hôn thì có khoảng 10 trường hợp là hôn nhân cận huyết.

Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống gây ra nhiều hệ lụy cho gia đình và xã hội

Ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh: Việc kết hôn sớm, mang thai và sinh đẻ ở tuổi vị thành niên khi cơ thể người mẹ chưa phát triển hoàn thiện, thiếu hiểu biết, kinh nghiệm và chưa sẵn sàng về mặt tâm sinh lý để mang thai và sinh con ảnh hưởng lớn tới sức khỏe bà mẹ, sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ sơ sinh. Đây là nguyên nhân làm gia tăng tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi, tăng tỉ lệ tử vong của bà mẹ liên quan đến thai sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng dân số, suy giảm giống nòi và chất lượng nguồn nhân lực và là một trong những lực cản đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, tiến bộ xã hội và phát triển bền vững của vùng dân tộc thiểu số, dẫn đến vòng luẩn quẩn: đói nghèo - thất học - tảo hôn, kết hôn cận huyết – đói nghèo. Thực tế cho thấy, các tỉnh có tỷ lệ nghèo đói cao, đồng thời tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết cũng gia tăng. Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vừa là nguyên nhân, vừa là hậu quả của nghèo đói, thất học và suy giảm chất lượng cuộc sống.

Đề án "Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số, giai đoạn 2015-2025

Ngày 14/4/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 498/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số, giai đoạn 2015-2025".

Mục tiêu chung của Đề án: Phấn đấu đến năm 2025 cơ bản ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số. Mục tiêu cụ thể của Đề án là nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật, chuyển đổi hành vi trong hôn nhân của đồng bào dân tộc thiểu số góp phần giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số; Phấn đấu trên 90% cán bộ làm công tác dân tộc các cấp, cán bộ văn hóa-xã hội xã được tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng vận động, tư vấn, truyền thông thay đổi hành vi về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số vào năm 2025; Giảm bình quân 2% - 3%/năm số cặp tảo hôn và 3% - 5%/năm số cặp kết hôn cận huyết thống đối với các địa bàn, dân tộc thiểu số có tỷ lệ tảo hôn, kết hôn cận huyết thống cao. 

Đối tượng của Đề án: tập trung vào nhóm vị thành niên, thanh niên là người dân tộc thiểu số; phụ huynh, học sinh các trường phổ thông, trường dân tộc nội trú vùng dân tộc thiểu số; phụ nữ và nam giới người dân tộc thiểu số tảo hôn, kết hôn cận huyết thống; Cán bộ, công chức xã, thôn bản đặc biệt khó khăn; những người có uy tín trong đồng bào các dân tộc thiểu số; và các đối tượng liên quan khác. Phạm vi thực hiện Đề án tại các vùng dân tộc thiểu số, chú trọng khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ - Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Tây Nam. Thời gian thực hiện Đề án từ năm 2015-2025.

Nhiệm vụ và nhiều giải pháp thực hiện: Biên soạn, cung cấp tài liệu, sản phẩm truyền thông, tài liệu tập huấn về kiến thức, kỹ năng truyền thông, vận động, tư vấn pháp luật liên quan về hôn nhân và gia đình trong vùng dân tộc thiểu số. Đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, vận động, thay đổi hành vi của đồng bào dân tộc thiểu số về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm, giao lưu văn hóa, lễ hội, nhằm tuyên truyền hạn chế tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số; tăng cường các hoạt động tư vấn, can thiệp, nghiên cứu, ứng dụng, triển khai nhân rộng các mô hình, bài học kinh nghiệm trong và ngoài nước phù hợp nhằm thay đổi hành vi, tăng cường khả năng tiếp cận thông tin và huy động sự tham gia của cộng đồng nhằm thực hiện ngăn ngừa, giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, các tổ chức chính trị-xã hội, già làng, trưởng bản, người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu số tham gia tuyên truyền, vận động đồng bào xóa bỏ những hủ tục lạc hậu; phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; tăng cường hợp tác quốc tế, huy động nguồn viện trợ và các nguồn tài chính hợp pháp khác để thực hiện Đề án.

Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc tổ chức thực hiện Đề án:

Ủy ban Dân tộc: có trách nhiệm chủ trì tổ chức, hướng dẫn triển khai thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025”; theo dõi, tổng hợp, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc tổ chức thực hiện Đề án; định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện Đề án theo quy định.

Bộ Tài chính: cân đối, bố trí nguồn kinh phí hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước để triển khai thực hiện Đề án.

Bộ Y tế: thực hiện lồng ghép các hoạt động tư vấn, can thiệp y tế trong các chương trình, đề án được phê duyệt nhằm giảm thiểu tỷ lệ tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống để thực hiện các mục tiêu của Đề án.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc đưa các quy định về phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong các thiết chế văn hóa, xây dựng hương ước, quy ước, tiêu chuẩn bản làng văn hóa, gia đình văn hóa vùng dân tộc thiểu số để thực hiện các mục tiêu của Đề án.

Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc chỉ đạo các cơ quan báo chí đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục, chuyển đổi hành vi về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số để thực hiện các mục tiêu của Đề án.

Các Bộ, ngành liên quan theo chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp, lồng ghép các hoạt động liên quan góp phần thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của Đề án.

-                      Thủ tướng Chính phủ cũng đề nghị Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị-xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao phối hợp với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lồng ghép các hoạt động trong các chương trình, kế hoạch của ngành để thực hiện Đề án.

Thủ tướng yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo cơ quan công tác dân tộc tỉnh và các cơ quan chức năng liên quan xây dựng kế hoạch và kinh phí hàng năm, dài hạn triển khai thực hiện Đề án phù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể của từng địa phương; định kỳ hàng năm tổng hợp báo cáo Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành liên quan kết quả thực hiện Đề án theo quy định.

PHẠM MINH SƠN

 

Nguồn: Đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào các dân tộc thiểu số.

 

Liên kết