Nghèo đói là một trong những vấn đề mà các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển quan tâm và tìm cách giải quyết. Giảm nghèo là cơ sở quan trọng để đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở nước ta. Xóa đói giảm nghèo (XĐGN) là nhiệm vụ khó khăn và là một quá trình lâu dài, đòi hỏi phải có sự tham gia của mọi nguồn lực trong xã hội. Phụ nữ và nam giới trong các hộ gia đình nghèo đóng vai trò như thế nào trong hoạt động thực hiện chính sách XĐGN? và họ gặp khó khăn gì khi thực hiện vai trò của mình? Bài viết dựa trên kết quả nghiên cứu “Vai trò giới trong hoạt động thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo tại các hộ gia đình nghèo ở nông thôn hiện nay tại xã Kỳ Sơn, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng” năm 2012 được thực hiện với 184 trường hợp thuộc hộ nghèo.

Vai trò giới trong hoạt động dạy nghề và tạo việc làm

Là một xã có địa bàn rộng, dân số đông và lao động dôi dư, diện tích đất nông nghiệp được thu hồi cho các dự án, UBND xã đã phối hợp với Hội Nông dân, Hội Khuyến nông, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh cùng doanh nghiệp địa phương mở các lớp dạy nghề như may công nghiệp, trồng rau, nấu ăn, tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, sửa chữa xe…

Theo kết quả nghiên cứu, phụ nữ tham gia vào hoạt động dạy nghề, tạo việc làm cho người nghèo ít hơn nam giới (27,2% so với 41,8%), tỉ lệ cả hai vợ chồng cùng tham gia cũng rất thấp (7,6%). Điều này cho thấy vai trò của người phụ nữ vẫn chưa thay đổi. Phần lớn ngành nghề đào tạo cho lao động nông thôn dành cho nam. Do vậy, việc tạo ra thu nhập cho lao động nữ nông thôn không nhiều, không ổn định, chủ yếu dựa vào làm thêm hay phụ giúp gia đình khi vào mùa vụ.

Mức thu nhập thấp cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra sự bất bình đẳng trong phân biệt đối xử với lao động nữ, khi thu nhập phần lớn do nam giới làm ra. Sự thiệt thòi này tạo rào cản khiến nhiều lao động nữ khó tham gia học nghề và không có điều kiện lo cho bản thân. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách dạy nghề-tạo việc làm cũng đã góp phần giải quyết tình trạng thiếu việc làm ở địa phương, tạo cơ hội việc làm cho những người dân thuộc hộ nghèo, giúp họ có thêm thu nhập để cải thiện chất lượng cuộc sống.

Vai trò giới trong tiếp cận tín dụng, vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh

Tỷ lệ vay vốn của các hộ gia đình nghèo tại địa phương

Thiếu vốn cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến đói nghèo và cung cấp tín dụng được coi là biện pháp có hiệu quả kịp thời. Chính sách tín dụng đối với người nghèo là sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo vay ưu đãi phục vụ sản xuất - kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo, ổn định xã hội (Điều 1, Nghị định 78/2002/NĐ-CP). Có thể khẳng định rằng, hiệu quả của các chương trình tín dụng ưu đãi đã và đang để lại những dấu ấn rõ nét trong bức tranh đổi mới của nông thôn và trong đời sống của người dân. Các nguồn vốn vay được xem là cứu cánh để hàng chục ngàn người nghèo và các đối tượng chính sách khác khắc phục khó khăn, thoát nghèo vững chắc, vươn lên ổn định cuộc sống.

Hiện nay, ban XĐGN xã đang quản lý các nguồn vốn vay bằng vốn ưu đãi của nhà nước. Toàn xã có 10 tổ tiết kiệm và vay vốn với tổng số vốn là 392,3 triệu đồng. Trong đó các đoàn thể đang quản lý nguồn vốn bao gồm: Hội phụ nữ (4 tổ tiết kiệm và vay vốn), Hội Nông dân (3 tổ tiết kiệm và vay vốn), Hội cựu chiến binh (1 tổ tiết kiệm và vay vốn), Đoàn Thanh niên (2 tổ tiết kiệm và vay vốn). Có 76,6% số hộ vay vốn. Mặc dù thủ tục vay vốn ngày càng thông thoáng, đơn giản, sự tham gia của các hộ gia đình nghèo vào chính sách tín dụng vẫn còn khá thấp.

Trong nỗ lực nhằm giải quyết một số những bất bình đẳng, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Luật đất đai năm 2004 quy định tất cả những Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đều phải ghi rõ họ tên của cả vợ và chồng. Tuy nhiên, điều tra tại địa bàn nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nam giới đứng tên vay vốn cao hơn phụ nữ. Cụ thể có 2/3 nam giới đứng tên vay vốn (66,7%), trong khi nữ giới đứng tên vay vốn chỉ là hơn 1/4 (26,2%). Việc phụ nữ được tiếp cận với những nguồn tín dụng có ý nghĩa quan trọng, bởi họ sẽ có tiếng nói hơn trong vấn đề gây vốn cho những việc kinh doanh của gia đình và có quyền quyết định đối với nhiều vấn đề khác.

Các nguồn vay vốn chủ yếu

Hiện nay trên địa bàn xã Kỳ Sơn ngoài các nguồn cho vay chính thức đang hoạt động như: ngân hàng, quỹ tín dụng, quỹ của các tổ chức đoàn thể xã hội còn có những kênh cho vay không chính thức như các tổ chức cá nhân, bạn bè, gia đình, họ hàng. Các nguồn vay này có thể cho vay với lãi suất cao, hoặc cho vay trên cơ sở hỗ trợ cùng phát triển và lợi nhuận thấp.

Khi người nghèo tiếp cận với tín dụng, họ thường sử dụng các thị trường không chính quy do những trở ngại trong lòng hệ thống chính quy. Vay tiền từ các tổ chức chính quy có nhiều vấn đề về khả năng tiếp cận: khoảng cách (rất ít ngân hàng có cơ sở trong các cộng đồng nông thôn nhỏ); thế chấp; thủ tục rườm rà, quy mô tiền vay chi ở mức tối thiểu… Họ có thể vay thông qua Hội Phụ nữ là tổ chức giúp phụ nữ nghèo vay tiền của Ngân hàng Nông nghiệp bằng cách tổ chức các nhóm vay cùng chịu trách nhiệm trả nợ. Tuy vậy, để thuận tiện, việc vay mượn ở nông thôn phần lớn được tiến hành thông qua khu vực không chính quy.


Bảng 1. Nguồn vay vốn chủ yếu của các hộ gia đình nghèo ở xã Kỳ Sơn (%)

 

Nguồn vay

Tỷ lệ

Ngân hàng

36,2

Quỹ tín dụng người nghèo

51,1

Các tổ chức đoàn thể

48,9

Bạn bè

14,2

Họ hàng

27,7

Hàng xóm

27,0

Người cho vay lãi

8,5

           


Các hộ gia đình nghèo thường vay vốn từ Quỹ tín dụng người nghèo (51,1%), tiếp đến là các tổ chức đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân… (48,9%), ngân hàng (36,2%) và một số nguồn vay không chính thức từ họ hàng (27,7%), hàng xóm (27%), bạn bè (14,2%), và một số vay từ những người cho vay lãi (8,5%).


Bảng 2. Mục đích sử dụng vốn vay của hộ nghèo (%)

 

Mục đích

Tỷ lệ

Đầu tư nông nghiệp

67,4

Kinh doanh dịch vụ

24,1

Làm nhà, mua phương tiện đắt tiền

27,0

Đầu tư cho học hành, sức khỏe

41,8

Chi tiêu cho đời sống hàng ngày

56,0

Hiếu hỉ

43,3

Khác

28,4

 


Vốn là một yếu tố hết sức quan trọng để kinh doanh, sản xuất. Do đó nhu cầu có tín dụng và việc sử dụng tín dụng thường gắn liền với việc đầu tư sản xuất nông nghiệp, cải thiện đầu ra của đất đai - mua phân bón, giống, công cụ và máy móc để tăng sản lượng, mua súc vật để đa dạng hóa cơ sở phát sinh thu nhập (67,4%) và những khoản đầu tư khác như tham gia buôn bán nhỏ (24,1%). Người dân vay vốn để đáp ứng nhu cầu đời sống hàng ngày cho bản thân và gia đình (56%). Các việc hiếu hỉ đôi khi cũng làm căng thẳng nguồn tài chính của gia đình, do vậy 43,3% hộ gia đình sử dụng tín dụng cho mục đích này. Vay vốn tín dụng đầu tư cho học hành của con cái hoặc cho vấn đề sức khỏe cũng chiếm một tỷ trọng không nhỏ (48,1%).

Những khó khăn trong vay vốn

Cùng với các chính sách chủ trương của Nhà nước, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những điều chỉnh, cải cách về các điều kiện vay cũng như việc giảm bớt các thủ tục giấy tờ, chữ ký xác định tài sản thế chấp tạo những điều kiện thích hợp cho các hộ gia đình nghèo được vay vốn. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, một số người dân nghèo vẫn chưa thể tiếp cận tín dụng. Bên cạnh đó, trong quá trình vay vốn, họ còn gặp một số khó khăn về thủ tục, lãi suất…


Bảng 3. Khó khăn của người dân nghèo khi tiếp cận tín dụng, vay vốn (%)

 

Khó khăn

Tỷ lệ

Lo không trả được

28,4

Thủ tục rườm rà

36,2

Thời gian vay ngắn

39,0

Lãi suất cao

27,0

Không được tập huấn

22,0

Khác

17,7

 


Kết quả điều tra cho thấy trong hoạt động tiếp cận tín dụng, vay vốn, vấn đề khó khăn lớn nhất mà người dân gặp phải đó là thời gian vay ngắn (39%), thủ tục cho vay còn rườm rà (36,2%), lo lắng không trả đúng thời hạn (28,4%)… Những khó khăn này đã hạn chế sự tiếp cận của người dân với hình thức XĐGN này. Cần quan tâm đến xây dựng chính sách để phát huy hiệu quả của công tác XĐGN.

Vai trò giới trong hoạt động nâng cao kiến thức, cung cấp thông tin

Bên cạnh yếu tố vốn để sản xuất thì kiến thức và kỹ năng chính là điều kiện cần để người nghèo kiếm sống, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống quá thấp của mình. Trong cơ chế mới, người nông dân không thể làm theo kinh nghiệm cha truyền con nối như trước kia. Những hộ gia đình năng động và nắm được kĩ thuật thì ngày càng phát triển và trở nên giàu có và ngược lại sẽ nghèo đi.

Tại Hải Phòng, hệ thống khuyến nông đã được thiết lập và vươn tới cấp xã. Ngành Khuyến nông đã tổ chức với Trung tâm Khuyến nông ở cấp tỉnh, Trạm Khuyến nông ở cấp huyện và các ban Khuyến nông ở các xã. Tại xã Kỳ Sơn, các cán bộ khuyến nông thường hợp tác chặt chẽ với cán bộ thú y và bảo vệ thực vật. Hệ thống này được phép tuyển các cán bộ chuyên môn theo hợp đồng ngắn hạn hoặc dài hạn tập huấn cho nông dân. Nhiệm vụ chủ yếu của Trạm Khuyến nông là phối hợp với các ngành và UBND xã tổ chức các hoạt động khảo sát nhu cầu, phổ biến chương trình hoạt động tới các thôn, tiếp nhận và chuyển giao vật tư kỹ thuật cho các hộ gia đình, tập huấn cho các hộ nông dân nghèo, theo dõi giám sát hoạt động khuyến nông cơ sở, đánh giá và mở hội nghị khi kết thúc thời vụ.


Bảng 4. Người tham gia lớp tập huấn kiến thức về kỹ thuật sản xuất ở địa phương trong các hộ nghèo (%)

 

Người tham gia

Tỷ lệ

Vợ

26,6

Chồng

34,8

Cả hai

16,8

Người khác

4,9

Không có ai

16,8

 


Sự tham gia của người vợ trong hoạt động tập huấn kiến thức về kỹ thuật sản xuất ít hơn người chồng: 26,6% so với 34,8%. Cũng có 16,8% cả hai vợ chồng cùng tham gia tập huấn. Như vậy, có thể thấy đã có sự chia sẻ trách nhiệm, vai trò của người vợ và người chồng trong hoạt động nâng cao kiến thức, cung cấp thông tin. Đây là một dấu hiệu đáng mừng để công tác XĐGN thực sự có hiệu quả khi cả hai giới tham gia XĐGN và phát triển kinh tế.

Về tần suất tham gia các buổi tập huấn, 24,2% tham gia tháng/lần; 56,2% tham gia vài tháng/lần; và 19,6% tham gia < 1 năm/lần. Có nhiều cản trở hạn chế họ tiếp cận với dịch vụ khuyến nông. Phỏng vấn sâu cho thấy, người nghèo quá bận rộn với những hoạt động tạo thu nhập để đảm bảo cuộc sống, do đó họ ít ưu tiên cho hỗ trợ của dịch vụ khuyến nông, không biết cán bộ khuyến nông. Các mạng lưới xã hội của họ bị giới hạn “không vượt ra ngoài quan hệ họ hàng và lối xóm”, vì vậy họ ít có cơ hội tiếp cận với dịch vụ này và không nhận được tư vấn kỹ thuật. Đây là điều đáng quan tâm và cần có biện pháp để khuyến khích người nghèo được tiếp cận thông tin, nâng cao kiến thức và năng lực.

Vai trò giới trong hoạt động thực hiện chính sách DS-KHHGĐ

Quyết định sử dụng biện pháp tránh thai

Có thể thấy, tỷ lệ hai vợ chồng cùng quyết định biện pháp tránh thai khá cao (37,5%). Điều đó cho thấy trách nhiệm và vai trò của hai giới khi cùng quan tâm đến vấn đề KHHGĐ. Tuy nhiên, nhiều nam giới quyết định sử dụng tránh thai hơn phụ nữ (28,3% so với 23,9%). Vẫn còn 7,1% cho biết không có ai quyết định sử dụng biện pháp tránh thai. Công tác truyền thông DS-KHHGĐ cần tập trung hơn vào nhóm người nghèo ở nông thôn.


Bảng 5. Người quyết định sử dụng biện pháp tránh thai (%)

 

Người quyết định

Tỷ lệ

Vợ

23,9

Chồng

28,3

Cả hai

37,5

Người khác

1,1

Không có ai

7,1

 


Thực hiện biện pháp tránh thai

Tại xã Kỳ Sơn, hơn 1/2 (55,4%) hộ gia đình nghèo trả lời người thực hiện biện pháp tránh thai là người vợ, trong khi chỉ có 19% là người chồng. Tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng thực hiện khá thấp (16,3%). Điều này cho thấy phụ nữ vẫn là người giữ vai trò chính trong việc thực hiện các biện pháp tránh thai. Sự tham gia của nam giới trong KHHGĐ vẫn ở mức thấp. Bình đẳng giới trong thực hiện KHHGĐ không có nghĩa là đòi hỏi tỉ lệ nam giới và nữ giới tham gia thực hiện KHHGĐ như nhau, mà quyết định, lựa chọn và thực hiện các biện pháp tránh thai cần có sự trao đổi, bàn bạc trên cơ sở hiểu biết của hai người.


Bảng 6. Người thực hiện biện pháp tránh thai trong các hộ gia đình nghèo ở xã Kỳ Sơn (%)

 

Người thực hiện

Tỷ lệ

Vợ

55,4

Chồng

19,0

Cả hai

16,3

Không có ai

7,1

 


Quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh con trong gia đình

Sự tham gia của cả vợ chồng ở các hộ gia đình nghèo trong việc “quyết định số con” và “quyết định khoảng cách giữa các lần sinh” chiếm tỷ trọng lớn nhất. 39,7% và  43,5% hộ gia đình cho rằng việc quyết định sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh con là do cả hai vợ chồng cùng bàn bạc, quyết định. Điều này cho thấy sự tiến bộ trong nhận thức của người vợ và người chồng trong các quyết định về sinh đẻ.


Bảng 7. Người quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh con (%)

 

Người quyết định

Số con

Khoảng cách sinh

Vợ

23,4

24,5

Chồng

29,3

30,4

Cả hai

39,7

43,5

Không có ai

6,5

2,7

 


Tuy nhiên, tỷ lệ người chồng quyết định luôn cao hơn người vợ. Mặc dù người vợ có ít tiếng nói trong việc quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh, nhưng sự tham gia của họ trong KHHGĐ lớn hơn nam giới. Có thể thấy các hành vi của phụ nữ bị chi phối mạnh bởi người đàn ông trong gia đình, các quan niệm truyền thống và nhiều áp lực.

Kết luận

 

Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh trong nhiều năm qua đã cải thiện rõ rệt đời sống của người dân. Tuy nhiên, trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế-xã hội không đồng đều đến  các vùng và các nhóm dân cư. Vẫn còn một nhóm dân cư do nhiều nguyên nhân, gặp khó khăn trong đời sống, sản xuất và trở thành người nghèo. Công tác XĐGN là một chủ trương và nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt tại các khu vực. Xã Kỳ Sơn đã triển khai một số chính sách để giúp người dân vươn lên, thúc đẩy XĐGN như: dạy nghề, tạo việc làm, tín dụng, vay vốn, nâng cao kiến thức, cung cấp thông tin cho người dân, KHHGĐ... Tuy nhiên sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong việc thực hiện những chính sách này có sự khác nhau. Nam giới là người thực hiện chủ yếu hoạt động đào tạo việc làm, tiếp cận tín dụng và nâng cao kiến thức, cung cấp thông tin, trong khi sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động này còn rất khiêm tốn. Trong việc thực hiện chính sách KHHGĐ, nam giới là người quyết định, nhưng người thực hiện lại là phụ nữ. 

Đoàn Văn Trường*,

Nguyễn Thị Thanh Thúy**



* Giảng viên Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa.

**  Học viên cao học, ngành Xã hội học - Học viện Khoa học xã hội. 

 

Liên kết