Thực hiện bình đẳng giới ở Thừa Thiên-Huế đạt được nhiều kết quả quan trọng trong cải thiện đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Tuy nhiên phần lớn dân số Thừa Thiên Huế tập trung ở vùng nông thôn - nơi còn chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng trọng nam hơn nữ. Đây là một trong những rào cản triển khai chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) và là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến gia tăng tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và tỷ lệ con thứ 3 trở lên cao… Để có cơ sở trong tuyên truyền vận động và tham mưu đề xuất những chính sách phù hợp hướng đến bình đẳng giới trong lĩnh vực DS-SKSS, nghiên cứu “Tình hình thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực DS-SKSS của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại tỉnh Thừa Thiên-Huế” được thực hiện với 400 phụ nữ và nam giới (50% nữ và 50% nam). 

Kiến thức, thái độ, hành vi về thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực DS-SKSS

Hiểu biết về bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS

Gần 3/4 (72,8%) số người được hỏi biết về nội dung nam, nữ đều có quyền, nghĩa vụ và được hưởng lợi như nhau trong việc thực hiện các hành vi liên quan đến chăm sóc sức khoẻ sinh sản (CSSKSS), vẫn còn 27,3% người không biết về vấn đề này. Về vấn đề CSSKSS cho nam giới hiện nay, chỉ có 53,0% người cho rằng việc CSSKSS cho nam giới được quan tâm. Trong thực tế, hầu như chưa có dự án, chương trình riêng dành cho nam giới về CSSKSS, do đó nam giới chưa nhận được tư vấn tốt về các vấn đề liên quan này. Bên cạnh đó, có ít trung tâm CSSKSS dành cho nam giới trên cả nước hiện nay, vì vậy chưa đáp ứng được nhu cầu về CSSKSS của nam giới.

Về thái độ của nam giới khi họ có vấn đề về SKSS, 52,0% cho rằng nam giới chủ động đến cơ sở y tế để CSSKSS. Phần lớn nam giới thường quan niệm SKSS gắn liền với sinh đẻ và sinh đẻ là chuyện riêng của người phụ nữ. Mặt khác, nam giới có nhu cầu CSSKSS nhưng lại không đến cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn và chữa trị. Điều này cho thấy dù chưa có đủ các cơ sở vật chất, phương tiện CSSKSS cho nam giới ở các tuyến y tế, song chính bản thân nam giới cũng chưa quan tâm đến SKSS của họ.

Hiểu biết về bình đẳng giới trong thực hiện KHHGĐ

Hiểu biết về bình đẳng giới (BĐG) trong thực hiện KHHGĐ là khá tốt, có tới 92,0% cho rằng vợ/chồng bình đẳng hoặc chia sẻ với nhau trong thực hiện KHHGĐ; 84,8% cho rằng đó là việc nam, nữ cùng nhau bàn bạc và quyết định sử dụng BPTT; có 62,3% cho rằng đó là việc người chồng cần khyến khích vợ và cùng tham gia với vợ trong việc tìm hiểu thông tin về KHHGĐ; chỉ có 42,8% cho rằng người chồng không được ngăn cản vợ sử dụng các BPTT.

Bảng 1. Tỷ lệ hiểu biết về bình đẳng giới trong thực hiện KHHGĐ (%)

Hiểu biết về bình đẳng giới trong việc thực hiện KHHGĐ

           

           Tỷ lệ

Nam, nữ cùng nhau bàn bạc và quyết định sử dụng BPTT

84,8

Vợ/chồng cùng nhau tham gia hoặc chia sẻ với nhau trong thực hiện KHHGĐ

92,0

Người chồng cần khyến khích vợ và cùng tham gia với vợ trong việc tìm hiểu thông tin về KHHGĐ

62,3

Người chồng không được ngăn cản vợ sử dụng các BPTT

42,8

          

Mong muốn có con trai, con gái của cặp vợ chồng

Tỷ lệ cặp vợ chồng mong muốn có con trai khi đã có đủ số con mà chưa có con trai là 49,8%. Rõ ràng trong bối cảnh mà thái độ ưa thích con trai rất mạnh mẽ, việc bắt buộc chấp nhận chuẩn mực gia đình nhỏ có thể dẫn đến hình thành “các biện pháp đối phó” khi chưa có con trai vẫn muốn sinh thêm để mong có con trai với 49,8% tiếp tục sinh, sẽ ảnh hưởng đến mức sinh, đó là thách thức rất lớn đối với công tác DS-KHHGĐ.

Bảng 2. Tỷ lệ mong muốn có con trai, con gái của mỗi cặp vợ chồng (%)

 

 

 

Không

 

Tổng

Đã có 2 con gái, muốn sinh thêm con trai

49,8

50,2

100

Đã có 2 con trai, muốn sinh thêm con gái 

20,5

79,5

100

 

Chỉ có 20,5% cặp vợ chồng mong muốn sinh thêm con gái khi đã có 2 con trai và 79,5% cặp vợ chồng không mong muốn điều này. Như vậy, mong muốn có con trai khi đã có 2 con gái vẫn lớn hơn so với mong muốn có con gái khi đã có 2 con trai. Ưa thích con trai vẫn mạnh ở người dân tỉnh Thừa Thiên-Huế. Đây là điều cần được tăng cường trong hoạt động truyền thông vận động của địa phương.

Sử dụng biện pháp tránh thai

Mức độ hiện đang sử dụng BPTT là một trong những chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá mức độ tham gia của nam giới vào chương trình CSSKSS. Theo số liệu báo cáo của Tổng cục DS-KHHGĐ năm 2008, mức độ sử dụng BPTT chung của vợ là 85%, của chồng là 15,0%. Báo cáo số liệu của tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013, tỷ lệ người chồng sử dụng BPTT là 23,7%, cao hơn mức trung bình của cả nước cách đấy năm năm. Ở nghiên cứu này mức độ sử dụng BPTT của nam giới đã có chiều hướng tăng lên (28,8).

Thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực DS-SKSS

Biết về bình đẳng giới trong lĩnh vực DS-SKSS theo trình độ học vấn

Hiểu biết về BĐG trong CSSKSS là một nhân tố rất quan trọng, giúp cho các thành viên trong gia đình quyết định lựa chọn các dịch vụ CSSKSS, tiếp nhận các thông tin SKSS. Có sự liên quan tỷ lệ thuận giữa hiểu biết với trình độ học vấn của đối tượng, trình độ học vấn càng cao thì sự hiểu biết về BĐG trong lĩnh vực DS-SKSS càng tăng, thấp nhất là nhóm có trình độ từ cấp I trở xuống (65,4%) và cao nhất ở nhóm có trình độ học vấn từ cao đẳng/đại học/trên đại học (89,3%). Đây là nhóm có điều kiện tiếp cận thông tin tốt hơn cũng như việc chủ động tìm kiếm thông tin hơn.

Bảng 3. Tỷ lệ người biết về BĐG trong DS-SKSS chia theo trình độ học vấn %

Trình độ học vấn

Không

Tổng

Cấp I trở xuống

65,4

34,6

100,0

Cấp II

73,1

26,9

100,0

Cấp III

77,4

22,6

100,0

Trung cấp chuyên nghiệp

80,0

20,0

100,0

Cao đẳng/Đại học/trên đại học

89,3

10,7

100,0

Tổng

72,5

27,5

100,0

 

Biết về bình đẳng giới trong lĩnh vực DS-SKSS theo nghề nghiệp

Nghề nghiệp cũng liên quan rất lớn đến hiểu biết về BĐG trong lĩnh vực DS-SKSS, tỷ lệ hiểu biết về BĐG trong lĩnh vực DS-SKSS cao nhất ở những người có nghề nghiệp là cán bộ công chức 85,4%; thủ công là 73,6%; nông nghiệp là 72,7%; ngư nghiệp là 70,6% và thấp nhất ở những người thất nghiệp và nội trợ 50,0-60,0%.

Bảng 4. Tỷ lệ người biết về BĐG trong DS-SKSS chia theo nghề nghiệp %

Nghề nghiệp

Không

Tổng

Cán bộ, công chức

85,4

14,6

100,0

Buôn bán

67,8

32,2

100,0

Nông nghiệp

72,7

27,3

100,0

Ngư nghiệp

70,6

29,4

100,0

Thủ công

73,6

26,4

100,0

Nội trợ

60,0

40,0

100,0

Thất nghiệp

50,0

50,0

100,0

Tổng

87,3

13,7

100,0

 

Thái độ và hành vi trong chăm sóc sức khỏe sinh sản

Hình 1 cho thấy tỷ lệ phụ nữ muốn sinh thêm con trai (51,3% so với 48,7%) và con gái (54,9% so với 45,1%) khi đã đủ số con luôn cao hơn nam giới.

Có lẽ do phụ nữ phải chịu áp lực từ phía gia đình, người chồng… như áp lực phải sinh con trai vì chồng là con một, rồi cho bằng bạn bằng bè, một phần lo lắng không sinh được con trai thì chồng sẽ đi kiếm con… Theo truyền thống của phương Đông, người phụ nữ Việt Nam dường như quen với việc hy sinh cho người khác, lấy sự thành đạt của chồng, con là hạnh phúc của mình. Sự hy sinh ấy là tự nguyện, lâu dần thành nếp nghĩ của cả hai giới.

Hình 1. Muốn sinh thêm con trai/gái khi đã đủ số con theo giới tính (%)

 

Tỷ lệ đối tượng ở nông thôn muốn sinh thêm con trai (74,4% so với 25,6%) và con gái (79,3% so với 20,7%) khi đã đủ số con luôn cao hơn thành thị. Điều này cho thấy tư tưởng muốn có đông con ở vùng nông thôn cao hơn thành thị.

ĐỀ XUẤT

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện DS-SKSS chủ yếu phụ nữ thực hiện là chính, để thực hiện tốt bình đẳng giới trong chương trình DS-SKSS đặc biệt tạo điều kiện cho nam giới tham gia tích cực góp phần thực hiện tốt Luật bình đẳng giới một cách toàn diện, cần tập trung một số vấn đề sau:

-                      Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp trong việc thực hiện Luật bình đẳng giới nói chung, Công ước CEDAW (Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ) và bình đẳng giới trong lĩnh vực DS-SKSS.

-                      Đẩy mạnh công tác truyền thông trên các phương tiện thông tin đại chúng có lồng ghép nội dung về bình đẳng giới, như “Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ”, “Luật phòng chống bạo lực gia đình”, “Luật Bình đẳng giới”, xóa bỏ mọi định kiến về giới, làm thay đổi nhận thức về vai trò, vị trí của nam giới và phụ nữ, tạo điều kiện cho họ bình đẳng tham gia các hoạt động trên mọi lĩnh vực.

-                      Để thực hiện bình đẳng giới và phát huy vai trò của nam giới trong việc thực hiện KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe sinh sản, cần có sự phối hợp đồng bộ của các đoàn thể như: Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên…Đồng thời cần tập trung tuyên truyền, tư vấn về DS-SKSS cho nam giới nhiều hơn nữa. Tạo cơ hội cho nam giới thể hiện vai trò của mình trong lĩnh vực DS-SKSS.

-                      Cần quan tâm xây dựng, bố trí khoa, phòng trong các bệnh viện (khoa nam học) để khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nam giới.

-                      Xây dựng các trung tâm tư vấn dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, chú ý đến chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nam giới.

 

-                      Tuyên truyền vận động tạo cơ hội cho nam giới chia sẻ trách nhiệm với phụ nữ trong việc thực hiện các chương trình DS-SKSS.

 ThS. Hoàng Thị Tâm và cộng sự*


* Chi cục Dân số - KHHGĐ Thừa Thiên Huế

 

Liên kết